Nghiện điện thoại thông minh và một số yếu tố liên quan ở sinh viên trường cao đẳng y tế đồng tháp - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ MINH LUẬN

NGHIỆN ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ
ĐỒNG THÁP NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ MINH LUẬN

NGHIỆN ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ
ĐỒNG THÁP NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. BÙI THỊ TÚ QUYÊN

HÀ NỘI, 2017

DANH MỤC BẢNG BIỂU ........................................................................................v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ............................................................................................ vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ...................................................................................... vii
ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU........................................................................................3
Chương 1 TỔNG QUAN ............................................................................................4
1.1. Các khái niệm ...................................................................................................4
1.2. Sử dụng điện thoại thông minh .........................................................................4
1.3. Nghiện điện thoại thông minh ..........................................................................6
1.4. Các yếu tố liên quan đến nghiện ĐTTM ..........................................................7
1.5. Sơ lược địa bàn nghiên cứu ..............................................................................9
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............................11
2.1. Đối tượng nghiên cứu .....................................................................................12
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ..................................................................12
2.3. Thiết kế nghiên cứu ........................................................................................12
2.4. Mẫu và chọn mẫu............................................................................................12
2.5. Phương pháp và công cụ thu thập số liệu .......................................................12
2.5.1. Cấu phần định lượng ................................................................................12
2.5.2. Cấu phần định tính ...................................................................................13
2.6. Các biến số nghiên cứu ...................................................................................14
2.6.1. Biến số định lượng .......................................................................................14
2.8. Phương pháp phân tích số liệu ........................................................................14


iii
2.9. Đạo đức nghiên cứu ........................................................................................15
2.10. Điều tra viên/giám sát viên ...........................................................................16
2.11. Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục .........................................16
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................................................17
3.1. Đặc điểm chung của sinh viên ........................................................................17


Thiết bị hỗ trợ cá nhân kỹ thuật số

SAS

Smartphone addiction scale

SAS-SV

Smartphone Addiction Scale-Short Version

SV

Sinh viên

ĐTTM

Điện thoại thông minh


v
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Thông tin chung về sinh viên ...................................................................17
Bảng 3.2: Thực trạng sử dụng điện thoại ở sinh viên ...............................................18
Bảng 3.3: Thời gian suy nghĩ đến điện thoại trung bình/ ngày .................................19
Bảng 3.4: Thời gian sử dụng điện thoại trung bình/ ngày ........................................20
Bảng 3.5: Mục đích của việc sử dụng điện thoại ......................................................21
Bảng 3.6: Địa điểm sử dụng điện thoại .....................................................................22
Bảng 3.7: Phân bố tiêu chí đánh giá nghiện ĐTTM của SV ngành Dược ................23

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sinh viên sử dụng ĐTTM 93,1%, trong đó tỷ
lệ sinh viên nghiện ĐTTM là 42,3%. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan, nghiên cứu
đã cho thấy có mối liên quan giữa giới tính và thời gian bắt đầu sử dụng ĐTTM với
nghiện ĐTTM. Những sinh viên nam có khả năng nghiện ĐTTM cao hơn sinh viên
nữ và những sinh viên có thời gian sử dụng ĐTTM lâu hơn có khả năng nghiện
ĐTTM cao hơn so với những SV có thời gian sử dụng ĐTTM ít hơn. Mô hình phân
tích hồi quy logistic đa biến, kết quả cũng cho thấy chỉ có giới tính và thời gian bắt
đầu sử dụng ĐTTM là hai yếu tố độc lập ảnh hưởng đến nghiện ĐTTM.
Từ các kết quả nghiên cứu thu được, chúng tôi đề xuất một số khuyến nghị
nhằm giảm ảnh hưởng của việc sử dụng quá mức dẫn đến nghiện ĐTTM ở sinh viên
như thông tin đến sinh viên về thực trạng nghiện ĐTTM trong sinh viên và cung cấp
các tài liệu về nghiên ĐTTM, các hậu quả của nghiện ĐTTM. Sinh viên cần phân
bố thời gian sử dụng điện thoại thông minh sao cho hợp lý, đặc biệt là các sinh viên
nam. Các nghiên cứu tiếp theo có thể làm rõ hơn sự ảnh hưởng của nghiện ĐTTM
đến kết quả học tập, cũng như chất lượng giấc ngủ của sinh viên.


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chúng ta đang sống tại thời điểm được gọi là kỷ nguyên của công nghệ thông
tin, nhu cầu về sử dụng điện thoại di động cũng ngày một tăng cao. Việt Nam là
một trong những quốc gia có tỷ lệ người sử dụng điện thoại di động cao trên thế
giới và là một trong ba thị trường tiêu thụ điện thoại thông minh (ĐTTM) lớn nhất
Đông Nam Á và có tốc độ tăng trưởng cao [1]. Theo số liệu Google công bố từ
nghiên cứu hành vi trực tuyến của “Người tiêu dùng Việt Nam 2014” do Công ty
Taylor Nelson Sofres (TNS) Viet Nam thực hiện, tỷ lệ sử dụng ĐTTM tại Việt Nam
năm 2014 tăng gần gấp đôi so với năm 2013, tăng từ 20% trong năm 2013 lên 36%
trong năm 2014. Tỷ lệ này tuy thấp hơn tỷ lệ trung bình 49% của thế giới, hay 40%
của Thái Lan, 51% Malaysia và 85% của Singapore, nhưng mức tăng trưởng cho

1. Mô tả thực trạng sử dụng điện thoại và nghiện điện thoại thông minh ở sinh
viên hệ chính quy trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp.
2. Xác định mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân và thời gian bắt đầu sử dụng
điện thoại thông minh với nghiện điện thoại thông minh ở sinh viên hệ chính quy
trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp.


4

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Các khái niệm
Điện thoại thông minh (ĐTTM)
Theo Lusekelo & Juma (2015), điện thoại thông minh là một thiết bị có tính
năng của cả máy tính và điện thoại di động. Nó có hệ điề u hành và có thể cài đă ̣t các
ứng dụng, hoạt động như các máy tính, có khả năng truy câ ̣p internet và giải trí ở
bất kì nơi đâu như: chụp hình, xem video, nghe nhạc, lướt web [16].
Nghiện điện thoại thông minh
Theo Lin và cộng sự (2014), nghiện điện thoại thông minh có thể được coi là
một hình thức của chứng nghiện công nghệ [32]. Cụ thể, Griffiths (1996) hoạt động
được xác định triệu chứng nghiện như nghiện hành vi phi hóa học có liên quan đến
sự tương tác của con người-máy. Khác với “nghiện cờ bạc”, “nghiện trò chơi trên
internet” hiện chỉ có các rối loạn không chất liên quan đến đề xuất để đưa vào phiên
bản thứ năm của Diagnostic and Statistical Manual của rối loạn tâm thần (DSM-5)
là một chất liên quan và gây nghiện rối loạn [8]. Mặc dù một đặc tính điện thoại
thông minh chính là việc sử dụng các ứng dụng dựa trên Internet, tính di động của
điện thoại thông minh và khả năng cài đặt các ứng dụng thích hợp với nhu cầu cá
nhân và lối sống làm cho nó một đối tượng đa năng linh hoạt mà nhiều người mang
theo mọi lúc mọi nơi [3]. Do đó, các triệu chứng nghiện điện thoại thông minh có
thể khác với những người nghiện Internet. Thông qua phân tích nhân tố khám phá,

là 78,% [14] và 91,7% trong năm 2016 [27]. Tại Việt Nam tỷ lệ SV sử dụng ĐTTM
là 70,5% trong năm 2015 [1].
Trong nghiên cứu của Shailesh Rai và cộng sự (2016) kết quả cho thấy, có
32,67% SV sử dụng điện thoại thông minh ít hơn 2 giờ, 40% SV sử dụng điện thoại
thông minh 2-4 giờ, 23.33% SV sử dụng điện thoại thông minh từ 4-6 giờ và chỉ có
4% SV sử dụng điện thoại thông minh trên 6 giờ và 52,67% sinh viên sử dụng điện
thoại để truy cập mạng xã hội [25]. Nghiên cứu của Hatice Kahyaoglu Sut và cộng
sự (2016), có 34,1% SV sử dụng ĐTTM từ 1-3 giờ, 40,1% SV sử dụng ĐTTM từ 46 giờ, 11,7% SV sử dụng ĐTTM trên 6 giờ và mục đích sử dụng ĐTTM truy cập
mạng xã hội 56,8% [27]. Kết quả nghiên cứu của Demirci và cộng sự (2014) cũng
chỉ ra rằng 71,4% SV sử dụng ĐTTM ít hơn 4 giờ, 26,9% SV sử dụng ĐTTM từ 416 giờ, 1,7% SV sử dụng ĐTTM hơn 16 giờ và 40,2% sinh viên sử dụng ĐTTM để
gọi thoại, 29,2% SV sử dụng ĐTTM để truy cập internet và 15,6% SV dùng ĐTTM


6

để truy cập mạng xã hội [14]. Suliman S. Aljomaa và cộng sự (2016), tỷ lệ SV sử
dụng ĐTTM dưới 2 giờ là 8,9%, từ 2-4 giờ 26,44% và hơn 4 giờ là 64,7% [7]. Haug
và cộng sự (2015), có 16% sinh viên sử dụng ĐTTM khoảng dưới 1 giờ, 33% SV
sử dụng ĐTTM từ 1-2 giờ, 31,1% SV sử dụng ĐTTM từ 3-4 giờ, 19,9% SV sử
dụng ĐTTM trên 4 giờ và có tần suất sử dụng từ 21-50 lần mỗi ngày. Mục đích sử
dụng chủ yếu của SV là truy cập mạng xã hội 67,3% [3].
Như vậy, điện thoại thông minh đã trở thành một phần của cuộc sống sinh viên
trong khuôn viên trường học, bằng cách nào đó điện thoại thông minh đã trở thành
“bạn bè” thân thiết của sinh viên [13].
1.3. Nghiện điện thoại thông minh
Với sự gia tăng nhanh chóng trong sử dụng ĐTTM và tính năng của nó cho
phép các thanh niên kết nối internet, trò chuyện và giải trí ở bất kỳ nơi đâu và bất kỳ
lúc nào. Vì vậy, hầu hết những thanh niên từ 10-19 tuổi coi ĐTTM như một vật
không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày [15]. Nhiều người ngày càng cảm thấy
lệ thuộc vào các sản phẩm này và có thể gọi là "nghiện". Thậm chí, để nói đến trạng

bao gồm 10 câu hỏi với 6 mức điểm mỗi câu theo thang đo Likert (1: “Rất không
đồng ý” và 6: “Hoàn toàn đồng ý”, điểm cắt của thang đo là 31 điểm trở lên ở nam
và từ 33 điểm trở lên ở nữ với hệ số Cronbach alpha là 0,91 [20], được trình bày chi
tiết trong phụ lục 1. Thang đo SAV-SV dùng để đánh giá mức độ nghiện ĐTTM đã
được áp dụng rất nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học trên toàn thế giới.
Nghiên cứu của Olatz Lopez-Fernandez sử dụng thang đo SAV-SV để đo lường
mức độ nghiện ĐTTM tại Tây Ban Nha và Pháp [19], Fahad D. Alosaimi nghiên
cứu trên sinh viên đại học ở Riyadh, Ả Rập [29], tại Thụy Sỹ [3], Thổ Nhĩ Kỳ [15],
Ấn Độ [23]. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đánh giá mức độ nghiện ĐTTM cũng
sử dụng thang đo SAV-SV, nghiên cứu của tác giã Nguyễn Phúc Thành Nhân
“Thực trạng sử dụng điện thoại di động và mối liên quan đến rối loạn giấc ngủ, tâm
lý và kết quả học tập ở sinh viên trường Đại học Y dược Huế năm 2015” [1] và Lê
Đỗ Mười Thương “Ảnh hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh đến chất
lượng giấc ngủ và các yếu tố tâm lý của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Quảng
Nam” [2].
1.4. Các yếu tố liên quan đến nghiện ĐTTM
Đề tìm hiểu các yếu tố liên quan đến nghiện ĐTTM, các nhà nghiên cứu thường
quan tâm đến các yếu tố về đặc điểm nhân khẩu học như: tuổi, giới tính, ngành học,


8

trình độ học vấn của cha mẹ, điều kiện kinh tế của gia đình và các yếu tố liên quan
đến việc sử dụng điện thoại như: thời gian sử dụng ĐTTM, thời gian suy nghỉ đến
ĐTTM và các yếu tố tâm lý…
Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng giới tính có liên quan đến nghiện
martphone. Tại Hàn Quốc, kết quả nghiên cứu của Namsu Park và Hyunjoo Lee
(2014), cho thấy tỷ lệ tỷ lệ SV nữ nghiện ĐTTM cao hơn gấp 1,8 lần so với SV nam
(p
Kitamura (2009) và Namsu Park, Hyunjoo Lee (2014), cũng đã chứng mình rằng
lòng tự trọng, nhút nhát, cô đơn và trầm cảm có mối quan hệ chặt chẽ đến việc sử
dụng điện thoại động thông minh [17], [5], [33]. Những người có lòng tự trọng thấp,
nhút nhát, cô đơn hoặc trầm cảm thì có xu hướng nghiện ĐTTM nhiều hơn.
Theo kết quả nghiên cứu của Zulkefly và Baharudin (2009) thấy rằng sinh viên
thuộc gia đình có thu nhập cao dành nhiều thời gian và tiền bạc vào điện thoại di
động của họ hơn (p0,05)
[1].
Mặt khác, kết quả nghiên cứu của Cho, Gyoo-Yeong and Kim, Yun-Hee
(2014), cho thấy có mối liên quan giữa thời gian sử dụng ĐTTM và nghiện ĐTTM,
những người nghiện ĐTTM có thời sử dụng ĐTTM trung bình nhiều hơn [11].
Ngoài ra kết quả nghiên cứu của Alosaimi, Fahad D và cộng sự (2016), chỉ ra
rằng có mối liên quan giữa năm học của các sinh viên với nghiện ĐTTM [29].
1.5. Sơ lược địa bàn nghiên cứu
Tiền thân của Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp là trường Trung cấp Y tế được
nâng cấp lên từ trường Sơ cấp Y tế đào tạo y tá và dược tá từ sau 30/4/1975, đến
năm 2011 Trường được nâng cấp thành trường Cao Đẳng Y tế (QĐ số 1407/QĐBGDĐT ngày 9/4/2011 của Bộ trưởng Bộ GDĐT).
Hiện tại Trường có 04 khoa (khoa Y, khoa Dược, khoa Điều dưỡng - KTYH,
khoa CBCS- YTCC) và đào tạo 03 mã ngành trình độ cao đẳng (Điều dưỡng, Hộ
sinh, Dược sỹ) và 04 mã ngành trung cấp (Y sỹ, Dược sỹ, Kỹ thuật xét nghiệm, kỹ
thuật vật lý trị liệu). Toàn trường có khoảng hơn 2000 học sinh, sinh viên đang học
tập tại Trường. Hàng năm Trường tuyển sinh mới gần 1000 học sinh, sinh viên cho


10



- Thời gian bắt đầu sử dụng ĐTTM.

- Ngành học

Các yếu tố ảnh hưởng:

- Năm học

- Sở thích sử dụng ĐTTM.

- Nơi sống

- Mục đích sử dụng ĐTTM.

- Kinh tế gia đình

- Tần suất sử dụng ĐTTM.
- Thời gian, địa điểm sử dụng.


12

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên hệ chính quy đang theo học tại trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp.
Tiêu chí chọn
Đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chí loại

Mười Thương (2015) [2] và Nguyễn Phúc Thành Nhân (2015) [1].
-

Bộ câu hỏi sau khi được dịch và chỉnh sửa đã được thử nghiệm với 10 sinh

viên để điều chỉnh về ngôn từ cho dễ hiểu.
Quy trình thu thập số liệu
-

Để phù hợp với thời gian học của các sinh viên, điều tra viên (là các cán bộ

giảng viên của Trường) tiến hành phát phiếu phát vấn thu thập thông tin theo từng
ngành của từng khoá học và tiến hành thống nhất cho các lớp của từng khoá học
vào lúc ra chơi (sau thời gian học 2 tiết đầu), mỗi buổi phát phiếu tự điền trong thời
gian 30 phút.
-

Trước khi phát phiếu thu thập số liệu, điều tra viên giới thiệu và cung cấp

thông tin nghiên cứu, lấy giấy đồng ý tham gia nghiên cứu của đối tượng.
-

Điều tra viên phát phiếu phát vấn thu thập số liệu và hướng dẫn cho đối

tượng tự điền vào phiếu đảm bảo đối tượng, nhắc nhở đối tượng điền đủ thông tin
và đúng với thực tế/ trải nghiệm của đối tượng.
-

Giám sát viên là tác giả nghiên cứu, giám sát các hoạt động của điều tra


2.7. Các tiêu chí đánh giá sử dụng trong nghiên cứu
- Đánh giá mức độ nghiện ĐTTM dựa trên thang đo smartphone addiction scale
(SAS) phiên bản rút gọn (SAS-SV) của Kwon và cộng sự (2013), bao gồm 10 câu
hỏi với 6 mức điểm mỗi câu theo thang đo Likert (1: “Rất không đồng ý” và 6:
“Hoàn toàn đồng ý” và có tổng điểm dao động từ 10 đến 60 điểm. Để đánh giá mức
độ phụ thuộc ĐTTM dựa vào điểm cắt của thang đo là 31 điểm trở lên ở nam và từ
33 điểm trở lên ở nữ [20].
- Điện thoại thông minh: là một thiết bị có tính năng của cả máy tính và điện
thoại di động. Nó có hệ điề u hành và có thể cài đă ̣t các ứng dụng, hoạt động như các
máy tính, có khả năng truy câ ̣p internet và giải trí ở bất kì nơi đâu như: chụp hình,
xem video, nghe nhạc, lướt web [16].
2.8. Phương pháp phân tích số liệu
Cấu phần định lượng


15

Phiếu phát vấn được tổng hợp, làm sạch và nhập liệu bằng Epidata 3.1. Số liệu
được quản lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 23.
Các kỹ thuật phân tích thống kê mô tả phù hợp được sử dụng để mô tả thực
trạng sử dụng điện thoại thông minh và mức độ nghiện điện thoại thông minh của
sinh viên.
Thang đo SAS-SV được đánh giá tính độ tin cậy thông quan tính nhất quán nội
tại dựa vào hệ số Cronbach alpha.
Để đánh giá độ tin cậy của thang đo, hệ số Cronbach Alpha được sử dụng để
đo lường độ đồng nhất bên trong của thang đo. Giá trị Cronbach alpha từ 0,70 –
0,79 được coi là chấp nhận được, 0,80 – 0,89 là tốt và từ 0,90 trở lên là rất tốt [21].
Kết quả đánh giá thang đo được trình bày ở phụ lục 8.
Tỷ số chênh (OR) cùng khoảng tin cậy 95% của OR (CI95%OR) trong mô hình
đơn biến và đa biến được dùng để xác định các mối liên quan giữa một số yếu tố

kỳ một quyền lợi nào hiện có. Điều tra viên chỉ tiến hành phát vấn sau khi sinh viên
đã ký vào Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không được sử

-

dụng cho mục đích khác không liên quan đến nghiên cứu.
Các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được bí mật, không được

-

đề cập trong các báo cáo nghiên cứu.
Nghiên cứu viên đã tư vấn về sử dụng ĐTTM như thế nào cho phù hợp và

-

đúng mục đích... khi sinh viên có nhu cầu.
Kết quả nghiên cứu sẽ được báo cáo với ban giám hiệu nhà trường và sẽ

-

được gửi bản tóm tắt kết quả đến các lớp sinh viên của trường.
2.10. Điều tra viên/giám sát viên
Điều tra viên
Là các giảng viên của trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp đã được giới thiệu về
nghiên cứu, hướng dẫn/ tập huấn sử dụng bộ công cụ điều tra trước khi thu thập số
liệu.
Giám sát viên
Là học viên, giám sát viên có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các hoạt động của
điều tra viên, cũng như chất lượng phiếu điều tra. Giám sát viên cũng chính là người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status