BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
CHÂU THỊ THÚY HẰNG
THỰC TRẠNG STRESS, LO ÂU, TRẦM CẢM
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ ĐỒNG THÁP NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
CHÂU THỊ THÚY HẰNG
THỰC TRẠNG STRESS, LO ÂU, TRẦM CẢM
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ ĐỒNG THÁP
NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN HAI
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT…………………………………………………...vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ......................................................................................vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ............................................................................... viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ...................................................................................... ix
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ..................................................................................... 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................... 4
1.1. Một số khái niệm cơ bản ......................................................................................4
1.1.1. Stress (Căng thẳng) ...........................................................................................4
1.1.2. Lo âu .................................................................................................................5
1.1.3. Trầm cảm ..........................................................................................................5
1.2. Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên.....................................................6
1.2.1. Thực trạng stress ở sinh viên.............................................................................7
1.2.2. Thực trạng lo âu ở sinh viên..............................................................................8
1.2.3. Thực trạng trầm cảm ở sinh viên ....................................................................10
1.3. Các yếu tố liên quan đến stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên ............................12
1.3.1. Yếu tố cá nhân .................................................................................................13
1.3.2. Yếu tố gia đình ................................................................................................19
1.3.3. Yếu tố nhà trường ...........................................................................................19
1.3.4. Yếu tố bạn bè ..................................................................................................20
1.4. Giới thiệu về thang đo lường stress, lo âu, trầm cảm và thang đo một số yếu tố
liên quan đến stress, lo âu, trầm ở sinh viên .............................................................21
1.4.1. Thang đo lường stress, lo âu, trầm cảm ..........................................................21
1.4.2. Thang đo một số yếu tố liên quan đến stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên .....23
1.5. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .............................................................................25
KHUNG LÝ THUYẾT ........................................................................................... 26
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................... 27
3.2.4. Đặc điểm áp lực học tập của sinh viên ............................................................37
3.2.5. Đặc điểm hỗ trợ xã hội đối với sinh viên ........................................................38
3.3. Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên...................................................38
iv
3.4. Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, gia đình, nhà trường, bạn bè với các
biểu hiệu stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên ............................................................40
3.4.1. Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, gia đình, nhà trường, bạn bè với biểu
hiện stress ở sinh viên ...............................................................................................40
3.4.2. Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, gia đình, nhà trường, bạn bè với biểu
hiện lo âu ở sinh viên ................................................................................................44
3.4.3. Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, gia đình, nhà trường, bạn bè với biểu
hiện trầm cảm ở sinh viên .........................................................................................47
3.5. Mơ hình hồi quy đa biến giữa biểu hiện stress, lo âu, trầm cảm và các yếu tố
liên quan ....................................................................................................................50
3.5.1. Mơ hình hồi quy đa biến giữa biểu hiện stress và các yếu tố liên quan..........50
3.5.2. Mơ hình hồi quy đa biến giữa biểu hiện lo âu và các yếu tố liên quan ...........51
3.5.3. Mơ hình hồi quy đa biến giữa biểu hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan ...52
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN ........................................................................................ 55
4.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu .........................................................55
4.2. Thực trạng biểu hiện stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên ...................................55
4.2.1. Thực trạng sinh viên có biểu hiện stress .........................................................55
4.2.2. Thực trạng sinh viên có biểu hiện lo âu ..........................................................57
4.2.3. Thực trạng sinh viên có biểu hiện trầm cảm ...................................................58
4.3. Một số yếu tố liên quan đến các biểu hiện stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên .59
4.3.1. Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, gia đình, nhà trường, bạn bè với biểu
hiện stress ở sinh viên ...............................................................................................59
4.3.2. Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, gia đình, nhà trường, bạn bè với biểu
hiện lo âu ở sinh viên ................................................................................................61
:
Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
SAVY
:
Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam
(Survey Assessment of Vietnamese Youth)
CES-D
:
Thang đo Trầm cảm
(The Centre for Epidemiological Studies - Depression Scale)
DASS
:
Thang đánh giá lo âu - trầm cảm - stress
(Depression Anxiety Stress Scale)
PSS-10
:
Thang đánh giá cảm nhận về stress (Perceived Stress Scale)
Thang đo Tự ý thức (Self-Consciousness Scale)
MSPSS
:
Thang đánh giá sự hỗ trợ xã hội (Multidimensional Scale of
Perceived Social Support)
ESSA
:
Thang đánh giá cảm nhận về Áp lực học tập (Educational
Stress Scale for Adolescents)
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Số lượng sinh viên cao đẳng chính quy theo các khóa học................ 28
Bảng 2.2. Mức điểm tương ứng với mức độ trầm cảm, lo âu và stress.............. 31
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu........................................ 35
Bảng 3.2. Đặc điểm sử dụng Internet của sinh viên.........................................
36
Bảng 3.3. Đặc điểm bắt nạt của sinh viên.........................................................
37
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa các yếu tố gia đình, nhà trường, bạn bè với
biểu hiện trầm cảm ở sinh viên..........................................................................
48
Bảng 3.12. Mơ hình hồi quy đa biến giữa biểu hiện stress và các yếu tố liên
quan.................................................................................................................
50
Bảng 3.13. Mơ hình hồi quy đa biến giữa biểu hiện lo âu và các yếu tố liên
quan..................................................................................................................
52
Bảng 3.14. Mơ hình hồi quy đa biến giữa biểu hiện trầm cảm và các yếu tố
liên quan..........................................................................................................
53
Bảng 3.15. Bảng tóm tắt kết quả phân tích hồi quy đa biến giữa biểu hiện
stress, lo âu, trầm cảm và các yếu tố liên quan……………………………….
54
viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Đặc điểm tự ý thức của sinh viên.................................................
cảm lần lượt là 35,5%; 54% và 28,9%. Kết quả mơ hình hồi quy đa biến logistic cho
thấy mối liên quan giữa các biểu hiện stress, lo âu, trầm cảm với một số yếu tố cá
nhân, nhà trường và bạn bè. Biểu hiện stress ở sinh viên có liên quan với các yếu tố:
Giới tính (OR=2,55), bị bắt nạt (OR=2,92), sử dụng Internet từ 5 giờ/ngày trở lên
(OR=2,55), hỗ trợ từ thầy cô thấp (OR=2,02), áp lực học tập cao (OR=4,63). Biểu
hiện lo âu ở sinh viên có liên quan với các yếu tố: Nhóm tuổi trên 20 tuổi
(OR=1,64), tự ý thức cá nhân thấp (OR=1,65), bị bắt nạt (OR=1,88), áp lực học tập
cao (OR=1,99). Biểu hiện trầm cảm ở sinh viên có liên quan với các yếu tố: Bị bắt
x
nạt (OR=3,14), hỗ trợ từ thầy cô thấp (OR=1,82), hỗ trợ từ bạn bè thấp (OR=1,66),
áp lực học tập cao (OR=2,61).
Từ kết quả của nghiên cứu, để hạn chế tỷ lệ sinh viên có biểu hiệu stress, lo
âu, trầm cảm cần có những biện pháp can thiệp tích cực từ phía nhà trường nhằm
giảm áp lực học tập cho sinh viên, xếp lịch thi phù hợp, tăng cường hỗ trợ từ thầy
cơ, giúp sinh viên có được hỗ trợ từ bạn bè, không bị bắt nạt. Đồng thời bản thân
sinh viên cần có thời gian sử dụng Internet hợp lý (dưới 5 giờ/ngày), có kế hoạch
học tập phù hợp, tham gia các hoạt động ngoại khóa để khơng gặp phải các biểu
hiệu stress, lo âu, trầm cảm trong cuộc sống hiện tại.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Sức khỏe tâm thần không chỉ là
không bị mắc các rối loạn về tâm thần. Sức khỏe tâm thần được định nghĩa là
“một tình trạng sức khỏe mà mỗi cá nhân nhận thức rõ khả năng của mình, có thể
đối phó với những căng thẳng bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả và
thành cơng và có thể đóng góp cho cộng đồng” [94].
thần của sinh viên y khoa nhưng chủ yếu tập trung trên đối tượng là sinh viên đại
học, các nghiên cứu trên đối tượng sinh viên cao đẳng cịn rất ít.
Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp hiện đào tạo khoảng 1300 sinh viên
Cao đẳng hệ chính quy với các ngành học: Dược học, Điều dưỡng, Hộ sinh, Kỹ
thuật xét nghiệm, Kỹ thuật Phục hồi chức năng. Bên cạnh việc học tập trên lớp
thì sinh viên còn phải đi thực tập tại các cơ sở y tế, tham gia trực bệnh viện...
cũng như sinh viên các trường Y Dược khác, sinh viên của Trường thường được
nhìn nhận là có áp lực học tập cao hơn sinh viên các ngành khác. Đồng thời sinh
viên phải thích nghi với cuộc sống mới, bị ảnh hưởng nhiều bởi Internet, trong
môi trường học tập mới, mối quan hệ giữa sinh viên với bạn bè, thầy cô cũng
mới so với thời gian học phổ thơng. Những yếu tố này có thể gây nên áp lực, ảnh
hưởng đến sức khỏe tâm thần của sinh viên.
Việc xác định thực trạng sinh viên có biểu hiện stress, lo âu, trầm cảm,
trên cơ sở đó tìm ra những yếu tố liên quan và đề xuất biện pháp dự phòng giúp
sinh viên tránh khỏi các vấn đề sức khỏe tâm thần là cần thiết. Vì vậy, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu “Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên
quan ở sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp năm 2018”.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Xác định tỷ lệ có biểu hiệu stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên cao đẳng
hệ chính quy trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến các biểu hiệu stress, lo âu, trầm
cảm ở sinh viên cao đẳng hệ chính quy trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp năm
2018.
4
5
Đối với sinh viên, stress thường xảy do những nguyên nhân về sự thay đổi
và phát triển, áp lực học tập, thành tích, sự thiếu tự tin, hay những suy nghĩ nhiều
về kinh tế, tình cảm…[94]. Stress trong sinh viên là trạng thái hay cảm xúc mà
sinh viên trải nghiệm khi họ nhận ra rằng các yêu cầu và đòi hỏi từ bên ngồi và
bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt qua nguồn lực cá nhân và xã hội mà
họ có thể huy động được [6].
Sau trạng thái stress, con người có thể trải qua trầm cảm và rối loạn lo âu.
Cả ba đều là những dạng rối nhiễu tâm lý của con người. Khi có các rối nhiễu
tâm lý, con người thường khó kiểm sốt các cảm xúc và sự bọc lộ các cảm xúc
của bản thân [9].
1.1.2. Lo âu
Lo âu (anxiety) là một rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi cảm giác lo sợ lan
tỏa, khó chịu, mơ hồ kèm theo các triệu chứng thần kinh tự chủ như đau đầu, vã
mồ hôi, hồi hộp, siết chặt ở ngực, khơ miệng, khó chịu ở thượng vị và bứt rứt,
không thể ngồi yên hoặc đứng yên một chỗ [18].
Trạng thái lo âu là cảnh báo để bản thân có những giải pháp thích hợp đối
phó với những tình huống stress. Trạng thái lo âu liên quan đến sự rối loạn của
hệ thống thần kinh tạo nên 2 triệu chứng cơ bản về tinh thần (Ví dụ: lo lắng, sợ
hãi, khó tập trung…) và thể chất (Ví dụ: tăng nhịp tim, thở gấp, run rẩy,…) [11].
Lo âu sẽ là một vấn đề SKTT (Rối loạn lo âu) khi nó xảy ra mơ hồ, vơ lý,
khơng liên quan đến bất kỳ mối đe dọa nào hay là mức độ lo âu không tương
xứng với các mối đe dọa và diễn ra trong thời gian dài. Khi đó, lo âu gây trở ngại
cho công việc, học tập, sinh hoạt và các mối quan hệ bình thường của cá nhân và
được gọi là rối loạn lo âu [11].
1.1.3. Trầm cảm
Trầm cảm (depression) là một rối loạn tâm thần với các biểu hiện khí sắc
trầm, mất quan tâm và thích thú, mất hoặc giảm sinh lực, giảm hoạt động, giảm
“tâm thần hiện đại” như trầm cảm, stress, rối loạn tâm lý [93].
Điều tra quốc gia về thanh niên và vị thành niên lần thứ hai (SAVY 2) cho
biết, trong số 10.039 thanh thiếu niên trả lời, có 73,1% người từng có cảm giác
7
buồn chán. Tỷ lệ thanh thiếu niên đã từng cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tương
lai là 21,3% và có 4,1% đã từng nghĩ đến chuyện tự tử [10].
1.2.1. Thực trạng stress ở sinh viên
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng SKTT của sinh
viên Trường Y, như trong nghiên cứu của sinh viên trường trung cấp Y ở Thái
Lan có 61,4% sinh viên có biểu hiện stress; 59% có biểu hiện stress nhẹ; 2,4% có
biểu hiện rất stress [21].
Nghiên cứu của Nuran Bayram và cộng sự năm 2008 thực hiện trên 1.617
sinh viên với thang đo DASS 42, kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên có biểu hiện
stress ở mức độ vừa, nặng và rất nặng là 27% [64].
Ở Canada, năm 2014, tổ chức Mental Health Task Force on Graduate
Student Mental Health của đại học California Berkey đã khảo sát sinh viên cử
nhân của Trường và phát hiện có 45% sinh viên phải ứng phó với các vấn đề liên
quan đến stress trong vòng 12 tháng trở lại đây [47].
Tác giả Leta Melaku và cộng sự (2015) đã tiến hành nghiên cứu trên 329
sinh viên y khoa tại đại học Jimma với thang đo GHQ-12 và thu được kết quả là
52,4% sinh viên bị stress [56].
Ở Ai Cập, tác giả Wafaa Yousif Abdel Wabed và cộng sự năm 2016 đã
thực hiện nghiên cứu trên 442 sinh viên y khoa từ năm nhất đến năm tư, thông
qua thang đo DASS 21, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sinh viên có biểu hiện
stress ở mức bình thường là 37,6%, ở mức nhẹ và trung bình là 31,7%, ở mức
nặng và rất nặng là 30,8% [79].
Nghiên cứu của Shamsuddin Khadijah và cộng sự năm 2013 trên 506 sinh
1.2.2. Thực trạng lo âu ở sinh viên
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, nghiên cứu của Nuran Bayram và cộng sự năm 2008
thực hiện trên 1.617 sinh viên với thang đo DASS 42 cho kết quả 47,1% sinh
viên có biểu hiện lo âu từ mức độ vừa đến rất nặng [64].
9
Tại Parkistan nghiên cứu của tác giả Tabasum Alvi năm 2010 trên 279
sinh viên Y khoa sử dụng thang đo Beck Anxety Inventory (BAI) để đo lường
mức độ lo âu và cho thấy 47,7% sinh viên có biểu hiệu lo âu [74].
Ở Ai Cập, năm 2016, nghiên cứu của Wafaa Yousif Abdel Wahed và cộng
sự sử dụng thiết kế cắt ngang trên 442 sinh viên Y khoa từ năm nhất đến năm tư
và chỉ ra thực trạng có biểu hiện lo âu của sinh viên: 35,7% ở mức bình thường,
34,4% ở mức nhẹ và trung bình, 29,9% ở mức nặng và rất nặng [79].
Nghiên cứu của Shamsuddin Khadijah và cộng sự năm 2013 trên 506 sinh
viên tuổi từ 18 - 24 thuộc 4 trường Đại học công lập tại Klang Valley, Malaysia.
Tác giả dựa vào thang đo DASS 21 đã cho thấy thực trạng lo âu ở sinh viên
Malaysia như sau: 34% sinh viên có biểu hiện lo âu ở mức độ vừa, 29% ở mức
độ nặng và rất nặng [70].
Nghiên cứu của Lê Minh Thuận năm 2011, thực hiện trên sinh viên năm
nhất và năm ba của đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng thang đo
DASS 42 cho thấy mức độ có biểu hiện lo âu nặng ở sinh viên là 12% và mức độ
có biểu hiện lo âu rất nặng là 11% [26].
Tác giả Trần Thị Thu Mai và Nguyễn Ngọc Duy năm 2015 đã tiến hành
khảo sát 650 sinh viên ở 2 trường sư phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh,
gồm Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và Cao đẳng sư phạm
Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh bằng hai thang lượng giá BAI (Beck
Anxiety Inventory, 1993) và SAS (The Zung Self Rating Anxiety Scale,
1971), kết quả nghiên cứu đã chỉ ra biểu hiện rối loạn lo âu ở mức độ nhẹ, trung
cảm là 29,9%, lo âu là 41,1% và stress là 27% [54].
Nghiên cứu của Shamsuddin Khadijah và cộng sự năm 2013 trên 506 sinh
viên tuổi từ 18 - 24 thuộc 4 trường Đại học công lập tại Klang Valley, Malaysia.
Tác giả dựa vào thang đo DASS 21 đã cho thấy 27,5% sinh viên có biểu hiện
trầm cảm ở mức vừa, 9,7% ở mức độ nặng và rất nặng [70].
Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu đánh giá thực trạng trầm cảm ở sinh
viên Y khoa. Năm 2013, một nghiên cứu quy mô lớn về trầm cảm được nhóm tác
giả thuộc Viện Nghiên cứu sức khỏe cộng đồng Đại học Y Dược Huế, trường
11
Đại học Y tế Công cộng và công tác xã hội, Đại học Công nghệ Queensland và
Đại học Y Hà Nội tiến hành ở 2.099 sinh viên thuộc 8 trường Đại học Y Dược
trên toàn quốc. Nghiên cứu sử dụng thang đo CES-D để đánh giá nguy cơ trầm
cảm. Trong đó, 23% sinh viên có biểu hiện trầm cảm từ mức nhẹ đến trung bình
(16 ≤ CES-D ≤ 21) và 20,2% có biểu hiện trầm cảm nặng (CES-D ≥ 21) [37].
Trong nghiên cứu của Nguyễn Tấn Đạt (2009) trên 570 sinh viên ở 3 khối
Y, Dược và Điều dưỡng trường Đại học Y Dược Cần Thơ sử dụng thang đo
CES-D để xác định tỷ lệ sinh viên có biểu hiện rối loạn trầm cảm. Điểm trung
bình của thang đo CES-D là 18,03, tỷ lệ sinh viên có biển hiện trầm cảm là 18%,
trong đó tỷ lệ sinh viên Điều dưỡng có biểu hiện rối loạn trầm cảm cao hơn so
với sinh viên Y và Dược [75].
Nghiên cứu của Lê Minh Thuận năm 2011, thực hiện trên sinh viên năm
nhất và năm ba của đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng thang đo
DASS 42 cho thấy mức độ có biểu hiện trầm cảm nặng ở sinh viên là 2% và mức
độ có biểu hiện trầm cảm rất nặng là 5% (toàn bộ là sinh viên nữ) [26].
Trong nghiên cứu sinh viên năm thứ nhất của Trường Đại học Y Dược
Thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Do Dinh Quyen, cho thấy 39,6% sinh viên
có biểu hiện trầm cảm và 60,4% sinh viên khơng có biểu hiện trầm cảm [44].
viên tuy nhiên có thể tổng hợp các ngun nhân này thành 4 nhóm ngun nhân
chính đó là những nguyên nhân xuất phát từ sinh viên như: sống xa gia đình phải
tự lập và hầu như tất cả các mặt trong cuộc sống. Nhóm nguyên nhân gây stress
do học tập như chưa quen với phương pháp học tập mới, tự nghiên cứu, có quá
nhiều kỳ thi, bài kiểm tra và học quá nhiều môn cũng như kết quả học tập khơng
như kỳ vọng. Nhóm ngun nhân thứ ba là những vấn đề stress về tài chính và
nhóm nguyên nhân cuối cùng là do gia đình, xã hội (tình yêu, tình bạn,
Internet…) [46].
13
1.3.1. Yếu tố cá nhân
1.3.1.1. Tuổi
Những sinh viên có độ tuổi lớn hơn thường có nguy cơ stress, lo âu và
trầm cảm cao hơn [31].
Nghiên cứu của Khadijah Shamsuddin và cộng sự năm 2013 tại Malaysia
cho thấy mức độ có biểu hiện stress, lo âu và trầm cảm ở nhóm sinh viên trên 20
tuổi cao hơn nhóm sinh viên nhỏ tuổi [70].
1.3.1.2. Giới tính
Nghiên cứu của Hamza M. Abdulghani đã tìm ra nguy cơ bị tress của nữ
sinh viên cao gấp 2,3 lần so với nam sinh viên, p < 0,001 [33].
Tác giả Nguyễn Hữu Thụ (2009) đã chỉ ra giới tính là tác nhân chủ yếu
trong nhóm ngun nhân đứng hàng thứ 2 gây nên stress ở sinh viên [21].
Nghiên cứu của Wafaa Yousif Abdel Wahed và cộng sự (2016) đã tiến
hành điều tra trên 442 sinh viên y khoa từ năm nhất đến năm tư của trường Đại
học Fayoum, Ai Cập và cho thấy mức độ stress và lo âu ở nữ giới cao hơn nam
giới [79].
Theo WHO, mặc dù trầm cảm là một trong những nguyên nhân gây ra
gánh nặng bệnh tật ở cả nam giới và nữ giới, nhưng gánh nặng do trầm cảm ở nữ