Kiến thức về vệ sinh tay và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường cao đẳng y tế hà nội học lâm sàng tại bệnh viện đa khoa xanh pon năm 2019 - Pdf 68

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÁI BÌNH

LƢƠNG ANH VŨ

KIẾN THỨC VỀ VỆ SINH TAY VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN
QUAN CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ
NỘI HỌC LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
XANH PÔN NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 8 72 07 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. TS. Phạm Văn Tân
2. PGS. TS. Vũ Phong Túc

THÁI BÌNH – 2020


DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
BVĐK

Bệnh viện Đa khoa

BYT

Bộ Y tế

CĐHA

Tổ chức Y tế Thế giới


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới
Ban Giám Hiệu, Phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học, Khoa Y tế Công cộng
Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ
tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn tới TS. Phạm Văn Tân và PGS.TS. Vũ Phong Túc là hai người thầy đã trực
tiếp hướng dẫn và tư vấn cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận
văn.
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám đốc Sở Y tế Thành phố Hà Nội, Ban
Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn và Ban giám hiệu Trường Cao đẳng Y
tế Hà Nội, anh chị em đồng nghiệp đã phối hợp và tạo điều kiện giúp tôi điều tra,
thu thập xử lý số liệu kịp thời, chính xác góp phần quan trọng cho việc hoàn
thành bản luận văn.
Tôi xin cảm ơn tới những người thân trong gia đình cùng bạn bè, đồng
nghiệp đã chia sẻ động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Học viên

Lương Anh Vũ


LỜI CAM ĐOAN
Tôi là: Lương Anh Vũ, học viên chuyên ngành Thạc sĩ Y tế công cộng
K16 năm học 2018-2020.
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn
của TS. Phạm Văn Tân và PGS.TS. Vũ Phong Túc.

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: ....................................................................... 23
2.2.2. Chọn mẫu và cỡ mẫu ...................................................................... 23
2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin và các kỹ thuật áp dụng............... 24
2.2.4. Tiêu chuẩn đánh giá ........................................................................ 25
2.3. Biến số trong nghiên cứu ...................................................................... 31
2.3.1. Kiến thức về vệ sinh tay của sinh viên đang học lâm sàng tại Bệnh
viện Đa khoa Xanh Pôn ............................................................................ 31


2.3.2. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về vệ sinh tay của sinh viên
đang học lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn ............................... 31
2.4. Phương pháp xử lý số liệu .................................................................... 31
2.5. Tổ chức nghiên cứu............................................................................... 32
2.6. Sai số và cách khống chế sai số ............................................................ 32
2.7. Đạo đức nghiên cứu .............................................................................. 32
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................... 33
3.1. Đánh giá kiến thức về vệ sinh tay của sinh viên................................... 33
3.2. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức vệ sinh tay ............................... 48
3.3. Phỏng vấn sâu ban lãnh đạo bệnh viện và thảo luận nhóm sinh viên... 50
CHƢƠNG 4. BÀN LUẬN .............................................................................. 55
4.1. Đánh giá kiến thức về vệ sinh tay thường quy của sinh viên ............... 55
4.2. Một số yếu tố liên quan kiến thức vệ sinh tay ...................................... 64
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 74
KHUYẾN NGHỊ............................................................................................. 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.


Kiến thức đúng của sinh viên về vệ sinh tay .............................. 39

Bảng 3.9.

Kiến thức đúng của sinh viên về các phương pháp vệ sinh tay
cần thiết trong một số tình huống ............................................... 40

Bảng 3.10. Kiến thức của sinh viên về những yếu tố nguy hại nên tránh
lây lan từ bàn tay nhân viên y tế ................................................. 41
Bảng 3.11. Điểm trung bình kiến thức chung về vệ sinh tay của sinh viên ... 42
Bảng 3.12. Đánh giá chung về mức độ kiến thức vệ sinh tay theo điểm ...... 43
Bảng 3.13. Kiến thức của sinh viên về mức độ diệt khuẩn của rửa tay
thường quy .................................................................................. 45
Bảng 3.14. Kiến thức của sinh viên về mức độ diệt khuẩn của sát khuẩn
tay nhanh ..................................................................................... 45
Bảng 3.15. Phương tiện cần thiết phục vụ cho việc vệ sinh tay thường quy.......46
Bảng 3.16. Loại khăn lau cần thiết phục vụ cho vệ sinh tay......................... 46
Bảng 3.17. Vị trí cần trang bị bồn rửa tay cho nhân viên y tế tại các khoa
phòng........................................................................................... 47
Bảng 3.18. Kiến thức đạt về vệ sinh tay của sinh viên theo chuyên ngành .. 48
Bảng 3.19. Kiến thức đạt về vệ sinh tay của sinh viên theo giới tính ........... 49
Bảng 3.20. Kiến thức đạt về vệ sinh tay của sinh viên sau khi được đào tạo .... 49


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Kiến thức đúng của sinh viên về vai trò của VST ............. 43
Biểu đồ 3.2. Hệ vi khuẩn trên bàn tay nhân viên y tế và tác nhân gây
nhiễm khuẩn bệnh viện .................................................... 44
Biểu đồ 3.3. Vị trí đặt bồn rửa tay tại các khoa phòng ......................... 47


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn Bệnh viện (NKBV) là một trong những thách thức và mối
quan tâm rất lớn tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Nhiều nghiên cứu cho
thấy nhiễm khuẩn bệnh viện làm tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện,
tăng chi phí điều trị. Theo thống kê, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện chiếm khoảng
5- 10% ở các nước phát triển và 15- 20% ở các nước đang phát triển [1].
Có nhiều yếu tố gây ảnh hưởng nhiễm khuẩn bệnh viện như: môi trường
ô nhiễm, bệnh truyền nhiễm, xử lý dụng cụ, các thủ thuật xâm lấn, và con
người trong bệnh viện nhưng trong đó một nguyên nhân khá phổ biến và rất
quan trọng đó là bàn tay của nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc bệnh nhân. Ô
nhiễm bàn tay của nhân viên y tế (NVYT) là một mắt xích quan trọng trong
nhiễm khuẩn bệnh viện.
Tổ chức Y tế Thế giới khẳng định “Chăm sóc sạch là chăm sóc an toàn”
và “Vệ sinh tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng ngừa
nhiễm khuẩn bệnh viện”. Vệ sinh tay là một biện pháp khá đơn giản, chi phí
thấp, dễ thực hiện rất hiệu quả để phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện và bảo
vệ nhân viên y tế [69].
Tại Việt Nam, theo số liệu được đưa ra trong đại hội của Hội Kiểm soát
nhiễm khuẩn Hà Nội lần thứ nhất của bệnh viện Bạch Mai cho thấy mỗi
trường hợp nhiễm khuẩn bệnh viện kéo dài thời gian nằm viện trung bình từ
9,4 đến 24,3 ngày và làm tăng chi phí điều trị trung bình từ 2-32,3 triệu đồng.
Vệ sinh bàn tay được Bộ y tế xác nhận là biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn
hàng đầu trong cơ sở khám chữa bệnh. Công tác rửa tay trong khám chữa
bệnh đã có từ rất lâu đời ở Việt Nam nhưng chưa được hệ thống hóa thành
một lĩnh vực có tính chất chuyên môn, mà nằm rải rác trong một số quy chế
chuyên môn. Ngày 12/10/2007 Bộ Y tế đã có công văn 7517/BYT-ĐTR về


3

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Vệ sinh tay thường quy và vệ sinh tay vô khuẩn
Các phương pháp vệ sinh tay thường áp dụng trong bệnh viện
1.1.1.1. Vệ sinh tay:
- Là một thuật ngữ chung để chỉ hoặc rửa tay bằng xà phòng thường, rửa
tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa
cồn. Nhằm hạn chế sự phát triển của các vi sinh vật trên tay.
1.1.1.2. Rửa tay thường quy với xà phòng thông thường:
- Là rửa tay với nước và xà phòng thường.
- Tác dụng: Loại bỏ các vi khuẩn tạm trú ở mức độ trung bình, và được
áp dụng khi làm các công việc khám và chăm sóc thông thường
1.1.1.3. Vệ sinh tay thường quy với xà phòng diệt khuẩn
- Là rửa tay với nước và xà phòng khử khuẩn.
- Tác dụng: Đào thải và diệt các vi khuẩn tạm trú, và được áp dụng khi
làm các kỹ thuật đòi hỏi vô khuẩn ở mức độ trung bình.
1.1.1.4. Sát khuẩn tay bằng cồn
- Là hình thức vệ sinh tay khi không có nước hoặc không có thời gian.
- Tác dụng: Hiệu quả như vệ sinh tay bằng xà phòng diệt khuẩn, và được
áp dụng ở những nơi không có nước để vệ sinh tay thường quy và khi bàn tay
không nhìn thấy dính máu và dịch cơ thể người bệnh.
1.1.1.5. Chà tay khử khuẩn: Là chà toàn bộ bàn tay bằng dung dịch vệ sinh
tay chứa cồn (không dùng nước) nhằm làm giảm lượng vi khuẩn có trên bàn
tay. Những chế phẩm vệ sinh tay chứa cồn thường chứa 60% đến 90% cồn
ethanol hoặc isopropanol hoặc kết hợp các loại cồn trên với một chất khử
khuẩn khác.




5

Qua một nghiên cứu tại bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh cho
thấy tỷ lệ NKBV chung chiếm 53,9%. NKBV ở từng khoa, phòng: khoa lâm
sàng 1 (44,4%); khoa lâm sàng 2 (59,4%), khoa phục hồi chức năng (50%).
Về vi khuẩn gây NKBV: NKBV do 1 vi khuẩn (89,1%); đồng nhiễm 2 vi
khuẩn (10,9%) [20].
Tỷ lệ mắc nhiễn khuẩn bệnh viện hàng năm ước tính 5,2%, tỷ lệ này dành
cho khoảng 121.000 người bệnh bị ảnh hưởng ở mỗi quốc gia; nguy cơ tử
vong trong 90 ngày cũng tăng 80% ở những người bệnh nhiễm khuẩn bệnh
viện, và NKBV trở thành một gánh nặng rất lớn liên quan đến chăm sóc sức
khỏe người bệnh, thời gian điều trị bệnh, khả năng sống sót và tiêu hao kinh
tế của người bệnh [50].
1.2. Các tác nhân gây bệnh trên bàn tay
1.2.1. Một số tác nhân gây bệnh trên bàn tay
Các tác nhân gây bệnh trên đôi bàn tay nhân viên y tế khá phong phú và đa
dạng về chủng loại, tính chất và đặc điểm sinh học, nhất là tính đề kháng với
kháng sinh. NKBV qua bàn tay của nhân viên y tế có thể do một hoặc nhiều tác
nhân gây bệnh gây nên, làm tăng thêm quá trình bệnh lý, khó khăn cho điều trị.
Bên cạnh đó, sự xuất hiện ngày càng nhiều NKBV do vi khuẩn gây bệnh cơ hội
gây nên, làm cho ngăn ngừa và kiểm soát NKBV gặp nhiều khó khăn và phức
tạp. Trên da bàn tay có hai nhóm vi sinh vật thường cư trú: Là vi khuẩn vãng
lai và vi khuẩn định cư.
+ Vi khuẩn định cư: Gồm các cầu khuẩn gram (+): S. epidermidis, S.
aureus, S. hominis, v.v. và các vi khuẩn gram (-): Acinetobacter,
Enterobacter... Các vi khuẩn gram (-) thường chiếm tỷ lệ cao ở tay NVYT
thuộc đơn vị hồi sức cấp cứu, đặc biệt ở những người VST dưới 8 lần/ngày.
Phổ vi khuẩn định cư thường cư trú ở lớp sâu của biểu bì da. VST thường quy

vi khuẩn trên đó. Các tác nhân NKBV không chỉ có ở các vết thương nhiễm


7

khuẩn, ở chất thải và dịch tiết của NB mà thường xuyên có trên da lành của
NB. Lượng vi khuẩn (ví dụ: S. epiderminis, Proteus mirabilis, Klebsiella spp.
và Acinetobacter spp.) có ở 1 cm2 da lành của NB thay đổi từ 102 đến 106 vi
khuẩn, nhiều nhất là ở vùng bẹn, vùng hố nách, vùng nếp khuỷu tay, bàn tay.
Có 25% da người bình thường mang S. Aureus, da người mắc bệnh tiểu
đường, NB lọc máu chu kỳ và người viêm da mãn tính có S. aureus định cư
cao hơn. Các tác nhân gây bệnh này, đặc biệt là các chủng tụ cầu hoặc cầu
khuẩn đường ruột có khả năng sống sót cao trong điều kiện môi trường khô,
làm ô nhiễm quần áo, ga giường, đồ dùng cá nhân và bề mặt các phương tiện
khác trong buồng bệnh.
- Trong quá trình chăm sóc NB, bàn tay NVYT thường xuyên bị ô nhiễm
VSV có ở trên da NB cũng như ở bề mặt môi trường bệnh viện. Theo Lê Thị
Anh Thư và cs (Bệnh viện Chợ Rẫy), lượng vi khuẩn trung bình có ở bàn tay
NVYT là 5,4 log, cao nhất ở hộ lý, kế đến là bác sỹ và thấp nhất là điều
dưỡng. Pittet D. và cs. (1999) đánh giá mức độ ô nhiễm bàn tay NVYT trực
tiếp chăm sóc NB, số lượng vi khuẩn có ở các đầu ngón tay thay đổi từ 0 đến
300 đơn vị khuẩn lạc, trong đó trực khuẩn gram (-) chiếm 15% và tụ cầu vàng
chiếm 11% các chủng vi khuẩn phân lập được. Thời gian thao tác càng dài thì
mức độ ô nhiễm bàn tay càng lớn [64].
- Không VST trước khi chăm sóc NB là nguyên nhân quan trọng làm lan
truyền NKBV. Các VSV có ở bàn tay ô nhiễm lan truyền trực tiếp sang NB
thông qua các thực hành chăm sóc hoặc gián tiếp do bàn tay làm ô nhiễm các
dụng cụ chăm sóc. Tại bệnh viện Bạch Mai, Nguyễn Việt Hùng và cs. đã
nghiên cứu thấy bàn tay NVYT bị ô nhiễm trung bình: 1,65 log khuẩn lạc.
Một số chủng vi khuẩn gây bệnh thường gặp gồm: A. baumannii, K.

nhiễm khuẩn bệnh viện.
Cơ chế kháng Vancomycin: vi khuẩn thu nhận được các loại gen mới
không có vị trí bám dính cho Vancomycin. Các gen Vancomycin của
Enterococci lan truyền thông qua Plasmin và Transponson.


9

3. Các vi khuẩn đường ruột (Enterobacteriaceae)
Các vi khuẩn đường ruột tiết ra Enzym ESBL như: Klebsiella
Pneudomonas, E.coli, Enterobacter, Proteus… là nguyên nhân của 30-35%
các trường hợp nhiễm khuẩn bệnh viện. Chúng thường gây nhiễm khuẩn tiết
niệu (>50%), nhiễm khuẩn huyết (5-20%), nhiễm khuẩn vết thương hoặc vết
mổ (10-20%).
β-lactamase phổ rộng là các β-lactamase điều tiết cho Plasmid có nguồn
gốc từ Enzym hoặc TEM-2 và SHV-1. Các ESBL đề kháng hoặc giảm nhạy
cảm với Cephalosphorin thế hệ 3 như Cefotaxim, Ceftazidine, hoặc
β-lactamase khác như Aztreonam. Các ESBL không tác động tới hoạt tính của
Cephamycins hoặc Carbapennems. Các ESBL bị bất hoạt bởi chất ức chế
β-lactamase như acid Klavulanic, sullactam hay tazobactam.
4. Trực khuẩn mủ xanh (P.aeruginosa)
Trực khuẩn mủ xanh chiếm từ khoảng 10-11% nguyên nhân gây nhiễm
khuẩn bệnh viện. Đây là trực khuẩn Gram âm, hiếu khí, có lông ở một đầu, di
động, ít khi có vỏ, không sinh nha bào, có khả năng sinh trưởng trong môi
trường nuôi cấy thông thường.
Trực khuẩn mủ xanh thường sống ở trong đất, trên da, niêm mạc của
người và động vật. Là loại vi khuẩn gây bệnh có điều kiện, khi cơ thể suy
giảm miễn dịch, bị mắc các bệnh ác tính hoặc mạn tính, …
Trong bệnh viện nó có ở nhiều nơi như khăn lau nhà, khăn lau tay, xà
phòng, ống thông, máy hô hấp nhân tạo… có thể có trong dung dịch khử

Trong suốt thế kỷ thứ XIX, ở Châu Âu và Mỹ, 25% bà mẹ sinh con tại
bệnh viện đã tử vong do sốt hậu sản. Nguyên nhân mãi sau này, nhờ tiến bộ
của khoa học mới phát hiện ra là do vi khuẩn Streptococcus pyogenes và
nguyên nhân ở đây được cho là có liên quan đến vệ sinh tay [42]. Và việc vệ
sinh bàn tay không đảm bảo cũng là nguyên nhân chính gây tử vong sau sinh
cho các bà mẹ [47].


11

Ngày càng nhiều các nghiên cứu trên thế giới chứng minh vai trò của
RTTQ đối với việc làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng liên quan tới chăm sóc y tế.
Theo Conly, tỷ lệ nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế đã giảm rõ rệt,
từ 33% xuống còn 12% và từ 33% xuống còn 10%, ngay sau hai lần can
thiệp đẩy mạnh việc RTTQ cách nhau 4 năm.
CDC yêu cầu các bệnh viện trên toàn nước Mỹ khuyến khích NVYT
khử khuẩn tay bằng dung dịch sát khuẩn có chứa cồn trong mọi thao tác chăm
sóc, điều trị cho NB.
Tại Việt Nam, ngành y tế đã quan tâm, chú trọng đến vấn đề VST. Năm
2006, Bộ Y tế bắt đầu thực hiện dự án tăng cường vệ sinh bệnh viện, trong đó
VST thường quy với nước và xà phòng được coi là một trong những biện
pháp chiến lược. Dự án đã phát động “Tuần lễ VST” tại 21 bệnh viện với
khoảng 7000 người tham gia.
Năm 2017, Bộ Y tế ban hành Quyết định 3619 ngày 28 tháng 8 năm
2017 về việc phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở
khám chữa bệnh. Quyết định ban hành kèm theo hướng dẫn thực hành VST
trong các cơ sở khám chữa bệnh [4].
Năm 2018, tuân thủ VST được đưa vào nội dung Thông tư
16/2018/TT-BYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 của Bộ Y tế hướng dẫn thực
hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám chữa bệnh [29].

viện, đồng thời cũng là biện pháp đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế trong
thực hành chăm sóc và điều trị người bệnh.
1.3. Thực trạng vệ sinh tay trên Thế giới và Việt Nam
1.3.1 Trên Thế giới
Vệ sinh tay là một trong những chiến lược hiệu quả nhất để nhiễm
trùng liên quan đến chăm sóc sức khỏe. Thực hành vệ sinh tay có khả năng
ngăn ngừa đau khổ và cứu sống người bệnh cũng như giảm chi phí Bệnh viện.
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra sự tuân thủ vệ sinh tay ở nhân viên y tế


13

nói chung là thấp. Qua khảo sát ở kiến thức và thực hành ở sinh viên điều
dưỡng tại Hồng Kông cho kết quả sinh viên có kiến thức vừa phải (điểm trung
bình 7,33/10 điểm); trong khi đó điểm thức hành tốt (4,76/5); và sự tuân thủ
vệ sinh tay theo hướng dẫn của WHO chiếm tỷ lệ cao (88,71%) [54].
Một trong những nghiên cứu nổi tiếng cho thấy lợi ích của việc tuân
thủ rửa tay được tiến hành từ năm 1995-1998 (có hồi cứu) là nghiên cứu của
GS.TS Didier Pittet. Ông và cộng sự đã tiến hành nhiều nghiên cứu về vệ sinh
bàn tay. Trong nghiên cứu này Pittet đã đưa ra khái niệm là tất cả những lần
rửa tay với nước và xà phòng, rửa tay với dung dịch sát khuẩn tại những thời
điểm khuyến cáo rửa tay đều được tính là sự tuân thủ rửa tay. Đối tượng được
giám sát là tất cả cán bộ y tế ở các khoa lâm sàng. Thời điểm giám sát là tất cả
các ngày trong tuần, 20 phút đầu tiên của một ca làm việc. Thời gian giám sát
được tính đến khi nào thỏa mãn cỡ mẫu cần thiết. Những điều dưỡng chuyên
ngành kiểm soát nhiễm khuẩn thực hiện giám sát sự tuân thủ rửa tay. Để đánh
giá hiệu quả của chương trình rửa tay, nhóm nghiên cứu đã đưa ra các chỉ số
đánh giá: tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện, tỷ lệ MRSA (tỷ lệ vi khuẩn kháng
thuốc) và mức độ tiêu thụ dung dịch rửa tay chứa cồn [64]. Một nghiên cứu
khác của ông cũng vệ sinh tay bằng dung dịch có chứa cồn là biện pháp quan

53,5% nhân viên rửa tay thường xuyên trước khi chạm vào bệnh nhân; 51,2%
rửa tay thường xuyên sau khi chạm vào bệnh nhân; 11,7% nhân viên không
bao giờ đeo mặt nạ hoặc khẩu trang khi có khả năng tiếp xúc với các sol khí
truyền nhiễm. Không có sự liên quan giữa kiến thức và trình độ học vấn cũng
như giữa kiến thức thức và thực hành (p>0,05) [66].
Vệ sinh tay là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc kiểm
soát sự lây lan phát triển của nhiễm trùng không chỉ đối với riêng sinh viên
ngành y trong Bệnh viện, mà nó còn có vai trò ngăn chặn bệnh truyền nhiễm
trong môi trường học đường nói chung. Nghiên cứu được tiến hành ở các
nhóm sinh viên tại Hy Lạp [55]. Trong một nghiên cứu khác của tác giả


15

Barikani cùng các cộng sự năm 2012 tiến hành trên 148 sinh viên y khoa. Cho
thấy kết quả kiến thức đạt 6,8 ± 2,1 điểm (tối đa 10), thái độ 16,6 ± 4,2 điểm
(tối đa 20). Kiến thức của sinh viên y khoa năm 7 cao hơn so sinh viên năm 6
(p
64,5% y tế không đeo gang tay. Những y tá mới thực hành tiêm có tỷ lệ rửa
tay rất thấp (18,9%). Tiêm dưới da có tỷ lệ rửa tay sau tiêm thấp nhất (26,7%)
so với các đường tiêm khác [40].
Phần lớn những người tham gia đề cập rằng họ thường xuyên rửa tay
bằng xà phòng. Một số người tham gia chỉ rửa tay bằng nước thường. Tuy
nhiên, phần lớn những người tham gia đề cập rằng sự lười biếng là rào cản
chính của việc rửa tay thường xuyên, tiếp theo là thiếu nguồn cung cấp nước
gần đó và sau đó cảm giác rằng bàn tay của họ không đủ bẩn để bị nhiễm
bệnh. Phần lớn những người tham gia đồng ý rằng rửa tay có ý nghĩa lâm
sàng trong việc giảm sự lây lan của bệnh truyền nhiễm; một số người trong số
họ không đồng ý. Đa số những người tham gia đều biết kỹ thuật rửa tay trong
trường đại học [41].


17

1.3.2. Tại Việt Nam
Một trong những yếu tố góp phần giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là
các nhân viên y tế là những người trực tiếp khám chữa bệnh và chăm sóc
bệnh nhân. Và một trong những vấn đề có liên quan trực tiếp và thường xuyên
đến nhân viên y tế đang công tác tại bệnh viện đó là vấn đề vệ sinh cá nhân,
mà trước hết là vệ sinh bàn tay và kiến thức về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh
viện. Ngày càng nhiều các nghiên cứu trên thế giới chứng minh vai trò của
vệ sinh tay thường quy đối với việc làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn liên quan
tới chăm sóc y tế.
Nghiên cứu của Nguyễn Nam Thắng và Lê Đức Cường được thực hiện
nhằm đánh giá kiến thức và thực hành về vệ sinh tay thường quy của điều
dưỡng viên đang công tác tại hai Bệnh viện Đa khoa thuộc huyện Tiền Hải,
tỉnh Thái Bình năm 2017. Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 224 điều dưỡng
viên với bộ phiếu điều tra gồm 25 câu hỏi. Điều dưỡng viên trả lời đúng từ 17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status