1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCS
Bao cao su
BPTT
Biện pháp tránh thai
ĐTV
Điều tra viên
ĐTNC
Đối tượng nghiên cứu
LTQĐTD Lây truyền qua đường tình dục
QHTD
Quan hệ tình dục
THN
Trước hôn nhân
SV
Sinh viên
Hành vi quan hệ tình dục không an toàn có thể gây nguy hại không chỉ cho sức
khỏe và ảnh hưởng hưởng tới cơ hội nghề nghiệp và công việc sau này của các em.
Trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa hiện tại có 1501 SV đang theo học tại trường,
trong trường không xây dựng khu kí túc xá, do vậy SV chủ yếu sống ngoại trú.
Nghiên cứu “Quan hệ tình dục trước hôn nhân và một số yếu tố liên quan của sinh
viên trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa năm 2018” được tiến hành trên 384 đối
tượng sinh viên chính quy nhằm mô tả thái độ và thực trạng quan hệ tình dục trước
hôn nhân của sinh viên, xác định một số yếu tố liên quan đến quan hệ tình dục trước
hôn nhân của sinh viên.Thời gian nghiên cứu là từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 7
năm 2018. Nghiên cứu được thực hiện bằng thiết kế nghiên cứu cắt ngang, phương
pháp nghiên cứu định lượng. Thông tin được thu thập bằng bảng phát vấn, câu hỏi
tự điền khuyết danh.
Tiến hành nghiên cứu trên 384 sinh viên trường cao đẳng Y tế Thanh Hóa, phân
tích SPSS. Kết quả cho thấy tỷ lệ SV đã QHTD là 24,4% (nam là 44,3%, nữ là
20,1%) tỷ lệ QHTD của sinh viên năm thứ 3 (22,6%) thấp hơn năm thứ 1 (22,9%)
và năm thứ 2 (27,9%). Tuổi QHTD THN trung bình của SV là 19,2 (nam là 18,95
và nữ là 19,33). Quan điểm về QHTD THN của SV là cởi mở. Tỷ lệ SV nam ủng hộ
quan điểm hiện đại về QHTD THN (85,7%) cao hơn so với nữ (68,2%). Các yếu tố
liên quan đến thực trạng QHTD THN của SV được tìm thấy trong nghiên cứu đó
là : giới tính, thái độ về QHTD THN, mức độ xem khiêu dâm, sử dụng chất kích
thích, đi bar, vũ trường, bạn bè QHT, sự quan tâm của bố mẹ.
Để SV thực hiện hành vi QHTD an toàn, các biện pháp đề ra phải đồng bộ trên các
nhóm đối tượng khác nhau: sinh viên, gia đình và nhà trường và các nhà hoạch định
chính sách. Đối với nhà trường, cần tăng cường công tác truyền thông và kỹ năng
4
sống cho SV, kiểm tra và xử lý các hành vi không lành mạnh (hút thuốc lá, uống
rượu bia…). Đối với gia đình, cha mẹ cũng cần tạo không khí thoải mái và bổ sung
nữ chưa kết hôn và khoảng 60-70% các ca nạo phá thai là sinh viên của các trường
cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp [5]. Do vậy, nếu nhóm trí thức này không có
hiểu biết về tình dục và sự chuẩn bị về tâm lý, các em có thể mang thai ngoài ý
muốn, nạo phá thai mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục…, ảnh hưởng việc
học hành cũng như cơ hội nghề nghiệp của cuộc sống sau này [11].
Trường cao đẳng Y tế Thanh Hóa là trường đào tạo cán bộ y tế, sinh viên của
trường chủ yếu là sống ngoại trú do trường không có khu kí túc xá. Phần lớn sinh
viên khi vào trường là sống một môi trường mới, tự do hơn khi sống với gia đình.
Nhiều mối quan hệ được nảy sinh, đây được coi là yếu tố thuận lợi cho hành vi
quan hệ tình dục[13]. Qua khảo sát nhanh, có tới 6/27 (chiếm tỷ lệ 22,2%) sinh viên
6
đã quan hệ tình dục trước hôn nhân. Mặt khác, sinh viên Trường cao đẳng y tế
Thanh Hóa mỗi năm có khoảng 2-3 SV nghỉ học hoặc bảo lưu kết quả liên quan tới
vấn đề thai sản. Từ trước tới nay, đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ và
hành vi QHTD THN ở nhiều khu vực tại Việt Nam nhưng chưa có một nghiên cứu
nào về QHTD THN được tiến hành trên đối tượng SV trường cao đẳng Y tế Thanh
Hóa.
Câu hỏi cần đặt ra là : “Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh
viên trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa như thế nào? Những yêú tố nào liên quan
đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên?”. Nghiên cứu “Quan
hệ tình dục trước hôn nhân và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Cao
đẳng Y tế Thanh Hóa, năm 2018” được thực hiện để trả lời các câu hỏi trên từ đó
góp phần giúp nhà trường, các cơ sở y tế có kế hoạch phù hợp chăm sóc sức khỏe
tình dục, sức khỏe sinh sản của sinh viên nói chung và sinh viên Y, Dược nói riêng
và hạn chế thấp nhất hậu quả do QHTD không an toàn để lại.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
tuổi trở xuống thuộc cả 2 nhóm VTN và thanh niên, một phần SV từ 20 tuổi trở
lên nằm trong nhóm thanh niên [4]
Quan hệ tình dục: Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, quan hệ tình dục
(QHTD) là nhu cầu tự nhiên về thể chất, tình cảm của con người. QHTD là một
hành động mà hai người có thể thực hiện để tạo sự gần gũi, mang lại niềm vui cho
nhau, kích thích xúc cảm để đạt đến cực khoái. Quan hệ tình dục bao gồm tất cả cử
chỉ, hành động mang lại cho nhau khoái cảm như âu yếm, ôm hôn, kích thích để
tạo được khoái cảm. Giao hợp chỉ là một trong những hình thức QHTD. Tuy nhiên,
trong phạm vi nghiên cứu này, QHTD được xét đến là một hình thức giao hợp.
QHTD có thể xảy ra ở những người cùng giới, khác giới hoặc lưỡng giới. Ngoài bộ
phận sinh dục, QHTD có thể được thực hiện bằng những bộ phận khác (đường
miệng, đường hậu môn) [7]
Quan hệ tình dục trước hôn nhân (QHTD THN) ở SV trong nghiên cứu này được
hiểu là việc SV chưa kết hôn nhưng đã có QHTD.
Bệnh lây truyền qua đường tình dục: Bệnh lây truyền qua đường tình dục
(LTQĐTD) là các bệnh do lây nhiễm qua đường tình dục. Bệnh có thể lây truyền
do quan hệ đồng giới, nhưng chủ yếu thường gặp là những người QHTD khác giới.
Bệnh LTQĐTD thường gặp là lậu, giang mai, sùi mào gà, nấm, trùng roi, viêm gan
B và HIV. Các lây nhiễm qua QHTD có thể gây bệnh ở cơ quan sinh dục tiết niệu
và ở cơ quan khác như da, xương, gan, thận, phổi..[18]
Tình dục an toàn: Quan hệ tình dục an toàn (TDAT) được hiểu là tình dục không có
nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục, kể cả HIV/AID, hoặc gây ra
thương tổn. Hiện nay khái niệm tình dục an toàn còn được hiểu là tình dục không
dẫn tới có thai ngoài ý muốn [15]
Biện pháp tránh thai: Biện pháp tránh thai (BPTT) là biện pháp can thiệp tác động
lên cá nhân nhằm ngăn cản việc thụ thai ở nữ giới. Các BPTT thường áp dụng là
thuốc, hóa chất, thiết bị đưa vào cơ thể nhằm cắt đứt đường đi, ngăn cản không cho
trứng gặp tinh trùng, hoặc các nỗ lực của các cá nhân nhằm tránh thụ thai [4].
Một số BPTT cơ bản:
Thái độ: Thái độ được hiểu một cách đơn giản là cái nhìn, quan điểm tích cực, tiêu
cực hay trung lập về một cả thể (có thể là một người, một hành vi, một sự kiện, hay
một thuộc tính nào đó). Thái độ thường bắt nguồn từ kiến thức, niềm tin và kinh
nghiệm thu được trong cuộc sống, đồng thời thái độ cũng chịu ảnh hưởng của
10
người xung quanh, môi trường, hoàn cảnh. Thái độ phản ánh những điều người ta
thích hay không tin, đồng ý hay không đồng ý, ủng hộ hay ngăn cản[25]
Hành vi: hành vi là “cách ứng xử trong một hoàn cảnh, sự việc nhất định qua hành
động” [25]
1.2. Một số nghiên cứu trong nước và trên thế giới
1.2.1. Thực trạng hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh thiếu niên và
sinh viên
Trên thế giới.
Tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân
Ngày nay trên thế giới việc QHTD THN của TTN không còn quá xa lạ. Tuy
nhiên, tình hình QHTD THN ở TTN rất khác nhau giữa các quốc gia và châu lục.
Tại châu Phi kết quả nghiên cứu của Melhado (2009) tiến hành ở 4 nước khu vực
cận Sahara cho thấy ¾ nước này đếu có trên 50% TTN trong độ tuổi từ 18-19 đã
từng QHTD THN. Còn tại các nước phương Tây như Mỹ tỷ lệ QHTD THN ở TTN
là 75%. Tương tự ở các quốc gia như Anh và Pháp tỷ lệ TTN dưới 20 có QHTD là
79% và 67% [29]
Trên đối tượng sinh viên, tại châu Á, nghiên cứu của Barbour trên đối tượng
sinh viên đại học tại Lebanon năm 2009 có 73,3% nam giới và 21,8% nữ giới có
QHTD THN. Trong đó hầu hết nam giới quan hệ có sử dụng BCS tuy nhiên có đến
75,6% nữ giới không sử dụng BCS [30]. Tuy nhiên con số này lại thấp hơn nhiều
tại các quốc gia khác như Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam. Nghiên cứu về hành vi
tình dục THN năm 2004 do tác giả Vũ Mạnh Lợi thực cho thấy: ở Hà Nội, chỉ có
chủ động tìm các BPTT trừ khi họ lo lắng về sự mang thai hoặc đã có QHTD một
số lần mà chưa dùng BPTT. Có rất nhiều nguyên nhân khiến cho VTN sử dụng
BPTT: do bạn tình, sợ có thai, do cha mẹ muốn bảo vệ con gái khỏi có thai hoặc để
điều hòa kinh nguyệt. Giải thích về việc VTN sử dụng BCS không thường xuyên
trong QHTD là do niềm tin không cần sử dụng, cam kết tương lai, mức độ khoái
cảm và tình yêu [40].
Một số nghiên cứu được tiến hành ở Goa-Tê- Ma-La, Nigeria, Jamaica, Triều
Tiên, Philippines, Thái Lan và Việt Nam thấy tỷ lệ cao TN biết về nguy cơ QHTD
không an toàn, nhưng số sử dụng BCS chỉ chiếm tỷ lệ thấp . VTN ở Nepal trong
một nghiên cứu vào năm 2010 sử dụng BCS chỉ chiếm khoảng 50% [39]
Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy tỷ lệ VTN sử dụng BPTT đạt 86% [41], và
tỷ lệ mang thai ở VTN là 5,7% [42]. Tỷ lệ VTN mang thai ở các nước phát triển và
đang phát triển thấp hơn nhiều so với các nước kém phát triển [38]
Ở Việt Nam
12
TTN Việt Nam ngày nay đã cởi mở hơn và có xu hướng QHTD THN nhiều hơn
so với thế hệ trước. Theo điều tra SAVY2, năm 2005, tính chung cho cả những
người đã kết hôn lẫn những người chưa kết hôn, kết quả cho thấy có 9,5% TTN cho
biết họ đã từng có QHTD trước hôn nhân. Đối chiếu với tỷ lệ này ở SAVY1 là 7,6%
[5]
Riêng trong nhóm TN đang là SV, một số nghiên cứu tại các trường Cao đẳng, Đại
học công bố tỷ lệ QHTD trước hôn nhân ở SV nằm trong khoảng 10 – 30% [1, 10,
12] cao hơn so với kết quả điều tra về VTN, TN nói chung (SAVY2). Đa số các
nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ QHTD THN ở nam SV cao hơn so với nữ từ 1,5-3 lần
[10, 12, 18]
Các nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ QHTD cũng có chiều hướng tăng
lên qua các năm. Năm 2001, nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh tại một trường
viên không sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu. Chỉ có 39% sinh viên sử dụng
BCS còn lại là sử dụng BPPTT không đảm bảo [12]
Như vậy, càng ngày TTN và SV đã có ý thức về QHTD an toàn, tuy nhiên tỷ lệ
không sử dụng BPTT cũng còn cao.
Tuổi QHTD lần đầu
Tuổi QHTD lần đầu có xu hướng giảm. Ở SAVY1 tuổi QHTD lần đầu trung
bình là 19,6 đối với nam là 20 và với nữ là 19,4 tuổi. Trong khi đó chỉ 3 năm sau, ở
SAVY2, tuổi QHTD lần đầu trung bình toàn mẫu là 18,1 giảm 1,5 tuổi so với
SAVY1. Con số này ở nam là 18,2 (giảm 1,8 tuổi so với SAVY1) và nữ là 18 (giảm
1,4 tuổi so với SAVY1). Tỷ lệ TTN có QHTD cũng khác nhau giữa nông thôn và
thành thị. Tỷ lệ TTN ở nông thôn từng có QHTD THN là 7,1%, ở thành thị là 9%.
TN nông thôn có xu hướng QHTD sớm hơn TN đô thị (18 tuổi ở nông thôn và 18,4
tuổi ở thành thị) [5,3]
Đối tượng QHTD và số lượng bạn tình
Đối với TTN, đối tượng mà họ QHTD lần đầu phần lớn là người yêu hoặc
vợ/chồng tương lai, nhưng có một tỷ lệ TTN quan hệ với người hành nghề mại dâm.
Đối với lần QHTD đầu tiên, tỷ lệ SAVY1 là 71,9% với người yêu, 10% với bạn bè,
9,1% với gái mại dâm [5] ở SAVY2, 30% đã có QHTD với bạn tình trở thành người
chồng/vợ của mình sau này, 70% khác có QHTD với người yêu, bạn bè và gái mại
dâm 98,1%). Tỷ lệ QHTD với gái mại dâm ở SAVY2 giảm đi, hơn nữa có đến 87%
số TTN được hỏi chỉ có 1 bạn tình trong 1 năm qua, có 2 bạn tình chỉ chiếm 3,2%
chứng tỏ giới trẻ đã có ý thức hơn về tình dục an toàn [3]
14
Nghiên cứu trên SV đại học cũng cho thấy phần lớn họ QHTD với người yêu.
Có 88,6% SV nam và 100% SV nữ trường đại học tại Hải Dương đã từng QHTD
với người yêu, có tới 17% SV nam có QHTD với gái mại dâm,; 61,5% SV đã
QHTD với nhiều bạn tình [1,12]. Nghiên cứu của Vũ Hoàng Anh cũng cho kết quả
thông tin, được hướng dẫn sớm về SKSS cũng như tình dục. Với nền văn hóa khắt
khe hơn như văn hóa phương Đông, vấn đề QHTD ở VTN được coi là vấn đề nhạy
cảm, ít đề cập đến. Một cuộc khảo sát toàn cầu năm 2014 cho thấy việc chấp nhận
QHTD THN rất khác nhau giữa các quốc gia, châu lục. Các quốc gia thuộc Châu Á,
Trung Đông và Châu Phi cận Sahara số đông không chấp nhận việc QHTD THN.
Các quốc gia Hồi giáo như Indonesia, Jordan, Pakistan và Ai Cập, từng có hơn 90%
không chấp thuận, trong khi nhiều quốc gia Tây Âu như Tây Ban Nha, Đức, Pháp
có rất ít người không tán thành (dưới 10%) [43]
Nghiên cứu thái độ về QHTD THN ở VTN 15-19 tuổi thành phố Pokhara,
Nepal năm 2013 cho kết quả: 59,2% VTN đồng ý với thái độ “quan hệ tình dục
trước hôn nhân là không tốt”. Có hơn một nửa (56%) VTN cho rằng “ quan hệ tình
dục trước hôn nhân là chấp nhận được nếu cả 2 cùng đồng ý”. Sự chấp nhận thái độ
này ở nam giới cao hơn ở nữ giới (70% so với 38%). Một tỷ lệ lớn nữ giới (79%)
không đồng ý với ý kiến “quan hệ tình dục là cần thiết trước khi kết hộn”, tuy nhiên
chỉ có 37% nam giới không đồng ý với ý kiến này. Còn với thái độ “nam giới có thể
QHTD THN còn nữ giới thì không thể thì có tới 77 % số VTN không đồng ý, 85%
nữ giới phản bản lại thái độ này. Nhìn chung sự chấp nhận việc QHTD THN trong
các tình huống được đưa ra ở nam giới luôn cao hơn so với nữ giới [16]
Tại Ý, một nghiên cứu của Capuno và cộng sự đã tìm ra sự khác biệt giữa
quan niệm của VTN nam và nữ về giá trị trinh tiết trước khi kết hôn. Có đến 76%
VTN nữ đồng tình với quan niệm phải giữ gìn trinh tiết trước khi kết hôn và tỷ lệ
này đối với nam giới chỉ là 67%. Cũng trong nghiên cứu này, thì quan niệm không
cần giữ gìn trinh tiết trước hi kết hôn là 46% của VTN nam và 14% của VTN nữ.
Tình dục ở Việt Nam được biết đến là vấn đề nhạy cảm, ít được bàn luận công
khai và ngay trong việc giáo dục vấn đề này cũng được né tránh. Theo thái độ
truyền thống người con gái phải giữ được trinh tiết đến khi kết hôn.Tuy nhiên, VTN
hiện nay tỏ ra cởi mở hơn về QHTD trước hôn nhân. Tỷ lệ TTN của SAVY2 (2009)
16
17
chấp nhận QHTD THN nếu 2 người đã ăn hỏi hoặc đính hôn; 58,6% SV chấp nhận
QHTD THN nếu cả 2 đều muốn [21]
Như vậy, bên cạnh những ý kiến đồng tình với việc QHTD trước hôn nhân
vẫn có nhiều sinh viên chỉ chấp nhận QHTD khi tương lai được đảm bảo (có công
việc ổn định..) QHTD an toàn, có tiến tới hôn nhân, điều này cho thấy cũng không
hẳn những sinh viên không phải quá dễ dãi một cách “mù quáng” trong tình yêu mà
họ có sự cân nhắc nhất định
1.2.3.
Các yếu tố khác liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của
TTN và sinh viên
Yếu tố nhân khẩu –xã hội học
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi QHTD THN của TTN, trong đó
có các yếu tố: tuổi, giới của bản thân SV
Yếu tố giới
Yếu tố đề cập ở đây là sự khác biệt về giới ở TTN có QHTD THN. Các
nghiên cứu chỉ ra, ở những người cùng độ tuổi, nam giới thường có QHTD trước
hôn nhân phổ biến hơn nữ. Các kết quả nghiên cứu ở SAVY2 cũng chỉ ra rằng nam
TN có tỷ lệ từng QHTD trước hôn nhân (kể cả những người hiện đã lập gia đình) là
13,6% cao hơn 2 lần so với nữ là 5,2%. Ở SAVY1 con số này cũng có sự chênh
lệch khá lớn, ở nam đã từng có QHTD là 11,1% và ở nữ là 4%. Ở Hà Nội, tỷ lệ nam
VTN và TN có QHTD trước kết hôn là 20,6%, cao gấp 1,5 lần so với nữ VTN và
TN (13,6%) [3].
Các nghiên cứu tại các nước trên thế giới cũng chỉ ra sự khác biệt về giới trong
hành vi QHTD THN. Trong một nghiên cứu tiến hành ở 14 quốc gia so sánh sự
này với QHTD THN khi nghiên cứu của Raheel (2013) cho kết quả sinh viên có
hành vi sử dụng ma túy có nguy cơ QHTD trước hôn nhân gấp 2,5 lần những sinh
viên không sử dụng rượu, bia nói riêng và các chất gây nghiện nói chung không
những thúc đẩy QHTD THN mà còn dẫn tới việc TTN có QHTD không an toàn.
Nguy cơ QHTD không an toàn khi uống rượu bia cao hơn so với những người
không sử dụng chất kích thích này (40% so với 35%). Đặc biệt, uống rượu bia còn
làm tăng khả năng QHTD với những đối tượng bạn tình ngẫu nhiên (gái mại dâm,
người mới quen biết..) [30]
Ở Việt Nam SV càng truy cập vào các trang internet có nội dung khiêu dâm càng có
nhiều thì khả năng đồng thuận cao trong các quan niệm cởi mở về tình dục: “ tình
dục là nhu cầu cơ bản”, “tình dục gắn liền với tình yêu”, “tình dục là sự giải trí”
19
Nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh (2008) trên đối tượng TTN Gia Lâm, Hà Nội
cho kết quả có mối liên quan giữa việc xem ấn phẩm đồ trụy với hành vi QHTD
trước hôn nhân (OR=10,5; p< 0,001). Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hơn 40% TTN
thú nhận bị kích thích và thậm chí 23% TTN thừa nhận muốn bắt chước hành vi
trên phim ảnh [20]
Kiến thức về TDAT
Trong khi tình trạng QHTD ở SV ngày càng trở nên phổ biến thì một số
nghiên cứu gần đây về kiến thức QHTD nói chung về TDAT, các bệnh LTQĐTD,
nạo phá thai còn nhiều hạn chế. Theo điều tra quốc gia về SKSS VTN và TN Việt
Nam SAVY2 thì 1/3 số người được trả lời đã nghe nói đến bệnh LTQĐTD như viêm
âm đạo, hạ cam (7,6%), u sủi (11%) . Khoảng 7% VTN trong SAVY 2 chưa hề nghe
tới BPTT từ bất kỳ nguồn nào. Tỷ lệ VTN trả lời đúng câu hỏi về thời điểm dễ có
thai trong chu kỳ kinh của phụ nữ là khá thấp.
Nghiên cứu dọc của Trường đại học Y tế Công cộng về thực trạng TTN tại
Chí Linh – Hải Dương cho kết quả: một nửa số trường hợp được hỏi (9,6%) đã từng
nhóm TTN chịu nhiều tác động tiêu cực từ bạn bè ở mức độ trung bình và cao thì
TTN có xu hướng QHTD cao hơn là 4 và 7,5 lần.[13]
Một nghiên cứu khác chỉ ra những nam thanh niên biết bạn bè của mình có
QHTD THN thì có nguy cơ QHTD cao hơn 3,37 lần so với nhóm còn lại [45]
Việc trao đổi với bạn bè về các vấn đề liên quan tới tình dục cũng là một yếu tố liên
quan đến QHTD THN của TTN. Nghiên cứu trên hơn 1000 nam giới 15-19 tuổi tại
Bangladet ch biết TTN từng nói chuyện với bạn bè về tình dục có QHTD THN cao
gấp 3 lần những người không trao đổi về vấn đề này [46]
Như vậy, yếu tố đồng đẳng, bạn bè là một phần rất quan trọng quyết định hành
vi QHTD của TTN và SV.
Yếu tố gia đình
Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của mỗi cá nhân, tất cả những vấn đề
xã hội được các cá nhân tiếp nhận thông qua chất xúc tác đầu tiên là gia đình.
Chính vì thế gia đình là môi trường có thế mạnh để hình thành nhân cách mà xã
hội kì vọng và cung cấp những hiểu biết về sinh lý sinh sản cho VTN.
TTN từ 18-24 tuổi ở Việt Nam đã bắt đầu cuộc sống tự lập tuy nhiên vẫn có sự
ảnh hưởng lớn từ gia đình. Nếu gia đình không có những định hướng đúng đắn, có
sự quan tâm và giám sát TTN thì TTN có xu hướng QHTD cao hơn.
Một nghiên cứu tại Philippin cho thấy nam giới Philippin có cái nhìn khá
thoáng về việc QHTD THN của họ. Thậm chí việc đó còn được coi là cách thể hiện
21
nam tính của họ. Tuy nhiên việc nam giới Philippin sống cùng gia đình vẫn có tác
dụng làm giảm nguy cơ QHTD THN ở nam (Ushma D & et al (2006) [37]
Một nghiên cứu tương tự ở Thái Lan, việc sống với gia đình có cả bố và mẹ
22
Hóa, có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng cán bộ có trình độ về y, dược khoa bằng các
hình thức tập trung dài hạn bổ túc ngắn hạn và tại chức. Với hơn 55 năm nhà trường
đã đào tạo cán bộ cho tỉnh, cho đất nước hơn 40.000 cán bộ, nhân viên y tế. Hiện
nay, có đến hơn 80% cán bộ nhân viên đang công tác trong ngành y tế Thanh Hóa
từng là sinh viên của trường Trường. Năm học 2017 -2018 trường có tổng số SV là
5051. Tính tới thời điểm thu thập thông tin nghiên cứu (tháng 4 năm 2018).Số
lượng SV được đào tạo chính quy tại trường là 1501. SV nữ chiếm đa số với tỷ lệ
82,1% (1233 SV) trong khi đó số SV nam là chiếm tỷ lệ 19,9% (298 SV). Tổng số
lớp cao đẳng chính quy là 40 và chỉ có 1 lớp trung cấp y sĩ năm thứ 2 (37 SV). Số
sinh viên được phân bố theo các năm như sau:
Bảng 1.1: Phân bố SV theo năm học
Năm học
1.4.
Số lớp
Số SV
Năm thứ 1
12
427
Năm thứ 2
13
có ảnh hưởng lớn đến hành vi con người, là nhóm các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thực hiện và duy trì hành vi của cá nhân.
Nghiên cứu đã tham khảo và sử dụng có chọn lọc mô hình sao cho phù hợp với
tổng quan nghiển cứu, đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, khả năng nghiên
cứu. Trong nghiên cứu này,hành vi sức khỏe là hành vi quan hệ tình dục trước hôn
nhân và được mô tả trên đối tượng SV trương Cao đẳng Y tế Thanh Hóa. Đối với
việc tìm hiểu các yếu tố liên quan đến hành vi QHTD của SV nghiên cứu này dưa
trên 4 nhóm yếu tố: nhân khẩu- xã hội học, cá nhân, gia đình và bạn bè.
24
25
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng: Sinh viên trường cao đẳng Y tế Thanh Hóa
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Đang học chính quy hệ cao đẳng/trung cấp tại trường
- Chưa từng kết hôn và tự nguyện đồng ý tham gia sau khi được nghe NCV
giải thích về mục đích của nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Không có mặt trong thời gian thu thập thông tin
- Đã kết hôn tại thời điểm nghiên cứu
- Không có thái độ hợp tác/từ chối điền thông tin vào bảng hỏi
o
z: Hệ số tin cậy. Với độ tin cậy 95% thì giá trị của Z = 1,96
o
p: tỷ lệ sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân (p=0,237) theo kết quả
nghiên cứu của Lê Thị Thương thực hiện trên đối tượng sinh viên trường Đại học