BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN THỊ MAI
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH
PHÒNG BỆNH LAO VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI NHÀ BỆNH NHÂN LAO PHỔI
TẠI HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN THỊ MAI
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH
PHÒNG BỆNH LAO VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI NHÀ BỆNH NHÂN LAO PHỔI
TẠI HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
TS. Nguyễn Ngọc Ấn
1.3. Những nghiên cứu liên quan đến bệnh lao trong những năm gần đây... 15
1.3.1. Trên thế giới ................................................................................................ 15
1.3.2. Tại Việt Nam ............................................................................................... 16
1.4. Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu ..................................................... 19
1.4.1. Vị trí địa lý .................................................................................................. 19
1.4.2. Dân số - kinh tế - văn hóa – xã hội ............................................................. 19
1.4.3. Thông tin về Trung tâm Y tế huyện ............................................................ 19
Khung lý thuyết .................................................................................................... 21
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu ......................................... 22
III
2.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................... 22
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................................. 22
2.3. Thiết kế nghiên cứu ....................................................................................... 22
2.4. Mẫu và phương pháp chọn mẫu .................................................................... 22
2.5. Phương pháp thu thập số liệu......................................................................... 23
2.6. Phân tích số liệu ............................................................................................. 24
2.7. Biến số nghiên cứu ........................................................................................ 24
2.8. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu ................................................. 28
2.9. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu .................................................................. 29
2.10. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục ............................. 29
Chương 3: Kết quả nghiên cứu ......................................................................... 31
3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu...................................... 31
3.2. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về bệnh lao và phòng bệnh lao ........... 32
3.3. Thực hành của đối tượng nghiên cứu về phòng bệnh lao ............................. 40
3.4. Một số yếu tố liên quan ................................................................................. 49
3.4.1. Kiến thức với một số đặc điểm nhân khẩu học........................................... 49
3.4.2. Thực hành với một số đặc điểm nhân khẩu học ......................................... 50
Cộng tác viên
CTCLQG
Chương trình chống lao quốc gia
DOTS
ĐTNC
HIV/AIDS
Hóa trị liệu ngắn ngày có giám sát trực tiếp/
Directly Observed Treatment, Short – Course
Đối tượng nghiên cứu
Vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người/
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
TTYT
Trung tâm Y tế
TYT
Trạm Y tế
TCYTTG
Tổ chức Y tế thế giới
TTGDSK
Biểu đồ 3.12. Các nguyên tắc điều trị bệnh lao ................................................... 37
Biểu đồ 3.13. Khả năng phòng bệnh.................................................................... 38
Biểu đồ 3.14. Cách người bệnh phòng lây nhiễm cho người nhà ...................... 38
Biểu đồ 3.15. Cách phòng lây nhiễm của đối tượng nghiên cứu ........................ 39
Biểu đồ 3.16. Đánh giá kiến thức chung của đối tượng ...................................... 40
Biểu đồ 3.17. Đi khám ngay khi có dấu hiệu nghi ngờ ....................................... 40
Biểu đồ 3.18. Mang khẩu trang khi tiếp xúc với người bệnh .............................. 41
Biểu đồ 3.19. Dùng riêng đồ dùng cá nhân, đồ dùng ăn uống ............................ 41
Biểu đồ 3.20. Giữ nhà cửa thông thoáng ............................................................. 42
Biểu đồ 3.21. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, hạn chế rượu bia, thuốc lá ............. 42
Biểu đồ 3.22. Tập luyện thể dục nâng cao sức khỏe ........................................... 43
Biểu đồ 3.23. Hỗ trợ, nhắc nhở người bệnh dùng thuốc và tái khám ................ 43
Biểu đồ 3.24. Hỗ trợ, nhắc nhở người bệnh mang khẩu trang ............................ 44
Biểu đồ 3.25. Hỗ trợ, nhắc nhở xử lý đàm đúng cách ......................................... 44
Biểu đồ 3.26. Hỗ trợ, nhắc nhở người bệnh dùng riêng vật dụng cá nhân .......... 45
Biểu đồ 3.27. Đánh giá mức độ thực hành chung của đối tượng ........................ 45
Biểu đồ 3.28. Loại thông tin được tiếp cận ......................................................... 46
Biểu đồ 3.29. Nguồn thông tin được tiếp cận ...................................................... 46
Biểu đồ 3.30. Kênh truyền thông được chấp nhận .............................................. 47
Biểu đồ 3.31. Sự giúp đỡ, hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức ................................. 48
VII
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Trên thế giới, bệnh lao ngày nay đã trở thành một vấn đề lớn của hầu hết các
nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Phát hiện sớm và điều trị khỏi là yếu tố
quan trọng cho sự thành công của chương trình chống lao[1]. Kiến thức của cộng
đồng mà đặc biệt là người nhà sống cùng bệnh nhân lao vẫn là một vấn đề quyết
định. Nghiên cứu Kiến thức, thực hành phòng bệnh lao và một số yếu tố liên quan
đích là nữ, nông dân, người có học vấn dưới THCS, người cao tuổi. Thời gian tiếp
cận để truyền tải thông tin nên linh hoạt, phù hợp với đối tượng. Ngoài nội dung
chung cần nhấn mạnh truyền thông tiêm BCG và xử lý đàm đúng qui cách. Kênh
truyền thông nên tận dụng thế mạnh của cán bộ y tế, cộng tác viên và tivi.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lao là một trong những nguyên nhân gây mắc và tử vong hàng đầu, đặc
biệt tại các nước đang phát triển trong những năm cuối của thế kỷ 20 [1]. Mức độ
nặng nề của bệnh lao đã ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân và chỉ số phát triển con
người của mỗi Quốc gia. Bệnh lao là nguyên nhân chủ yếu làm nghèo đói dai dẳng
và là trở ngại đối với sự phát triển kinh tế xã hội [3].
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, trong năm 2014 có khoảng 9,6 triệu
trường hợp mắc lao mới: 5,4 triệu ở nam giới, 3,2 triệu ở phụ nữ và 1,0 triệu trẻ
em. Ngoài ra còn có 1,5 triệu lượt người tử vong vì lao, trong đó có khoảng 890 000
người là nam giới, 480 000 người là phụ nữ và 140 000 là trẻ em [35]. Việt Nam là
nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 12 trong 22 nước có gánh nặng bệnh lao
toàn cầu, đồng thời là là nước thứ 14 trong 27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng
thuốc nhất thế giới [8]. Do điều kiện sống còn thấp, môi trường không khí, nước
thường xuyên bị ô nhiễm. Đại dịch HIV/AIDS và nhiều vấn đề kinh tế xã hội, loài
người đã và đang đối mặt với sự phát triển trở lại của bệnh lao. Công tác phòng
chống lao đã và sẽ ngày càng là yêu cầu cấp bách, bởi lẽ bệnh lao làm nhiều người
mắc và tỉ lệ tử vong cao. Công tác phòng chống lao muốn đạt hiệu quả thì phải được
lồng ghép vào các hoạt động của xã hội và được xã hội hóa một cách rộng rãi [2].
Tại Việt Nam, chương trình chống lao quốc gia xem công tác truyền thông –
huy động xã hội cùng tham gia công tác chống lao là một giải pháp cơ bản, lâu dài
và mang tính bền vững. Cần phải mang đến cho cộng đồng những thông tin cần
thiết, với những kỹ năng cần thiết để tăng tính hiệu quả của công tác phòng, chống
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả kiến thức, thực hành về phòng bệnh lao của người nhà bệnh nhân
lao phổi đang điều trị tại huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp năm 2016.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh lao
của người nhà bệnh nhân lao phổi đang điều trị tại huyện Thanh Bình tỉnh Đồng
Tháp năm 2016.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Thông tin chung về bệnh lao
1.1.1. Khái niệm về bệnh lao:
Lao là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis)
gây nên. Bệnh lao có thể gặp ở tất cả các bộ phận của cơ thể, trong đó lao phổi là
thể lao phổ biến nhất (chiếm 80 – 85%) và là nguồn lây chính cho người xung
quanh. Bệnh lây truyền qua đường hô hấp do hít phải không khí có chứa vi khuẩn
lao được sinh ra trong quá trình ho, khạc, hắt hơi hoặc nói chuyện với người bị lao
phổi trong giai đoạn tiến triển [1].
1.1.2. Dịch tễ học bệnh lao
Vì đặc tính của bệnh lao là một bệnh nhiễm trùng lây lan và mang tính xã
hội, do đó tình hình dịch tễ học bệnh lao cũng thay đổi theo từng quốc gia. Điều
đáng chú ý là 95% số bệnh nhân lao và 98% trường hợp tử vong do lao đều ở các
nước đang phát triển, 75% các trường hợp này đều ở trong lứa tuổi lao động sản
xuất. Như vậy, bệnh lao trở thành một gánh nặng thật sự đối với các nước đang phát
triển cả về mặt kinh tế xã hội.
dễ có nguy cơ bị bệnh.
- Trẻ em chưa được tiêm phòng lao bằng vaccine BCG, trẻ suy dinh dưỡng,
giảm sức đề kháng của cơ thể. Trẻ em càng nhỏ mà tiếp xúc với nguồn lây càng dễ
bị bệnh hơn.
- Một số bệnh tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh lao bùng phát: bệnh đái tháo
đường, bệnh bụi phổi, bệnh loét dạ dày tá tràng....
- Đại dịch HIV/AIDS là một trong những nguyên nhân làm cho bệnh lao
quay trở lại.
- Các yếu tố xã hội: chỗ ở chật chội, điều kiện kinh tế và mức sống thấp,
trình độ học vấn thấp, các phong tục tập quán lạc hậu làm cho bệnh lao thường trầm
trọng hơn [22].
- Phụ nữ ở thời kỳ thai nghén: Bệnh lao dễ phát sinh và phát triển trong 3
tháng đầu của thời kỳ thai nghén và sau đẻ. Điều này được giải thích do thay đổi nội
tiết của cơ thể mẹ tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển [7].
1.1.3. Cơ chế sinh bệnh
Bệnh lao diễn biến qua 2 giai đoạn:
6
- Nhiễm lao: là khi vi khuẩn lao lần đầu tiên đột nhập vào cơ thể chưa bao
giờ tiếp xúc với vi khuẩn lao, qua đường hô hấp vi khuẩn lao xâm nhập vào tận phế
nang, sau khoảng 3 tuần đến 3 tháng người bị lây ở tình trạng lao nhiễm, lúc này
trong cơ thể đã nhiễm lao đã có kháng thể kháng lao và phản ứng Tuberculin dương
tính (Tuberculin: là một loại test nội bì để đánh giá miễn dịch lao).
- Bệnh lao: đa số người bị bệnh chỉ ở tình trạng nhiễm lao khoảng (80% 90%) không chuyển sang giai đoạn lao, người ta gọi là lao thứ phát (khoảng 10%20%). Khi sức đề kháng cơ thể giảm, số lượng và độc tính của vi khuẩn tăng và đặc
biệt ở những người như: các bệnh phổi mãn tính, các bệnh toàn thân như tiểu đường
loét dạ dày tá tràng, nghiện rượu nghiện ma túy, HIV (+)… sẽ dễ phát triển thành
bệnh lao [7].
Trong nghiên cứu sinh bệnh học bệnh lao những năm gần đây người ta đưa
người có HIV, lao trẻ em, lao nghi đa kháng thuốc), X quang phổi chuẩn, phản ứng
Tuberculin [9].
1.1.6. Tác hại của bệnh lao:
- Bệnh lao tàn phá cơ thể, làm giảm khả năng lao động của người bệnh, làm
suy kiệt sức khỏe của người bệnh.
- Làm cho nhiều gia đình lâm vào cảnh đói nghèo. Một người mắc bệnh lao
không được điều trị mỗi năm sẽ gây bệnh cho 15 – 20 người khác.
- Trẻ em mắc bệnh lao nặng có thể bị tử vong hoặc để lại di chứng tàn tật
không phát triển về thể chất và tinh thần gây ảnh hưởng đến giống nòi.
- Một địa phương có nhiều người mắc bệnh lao sẽ làm cho địa phương đó
kém phát triển về kinh tế – văn hóa – xã hội…
- Một quốc gia có nhiều người mắc bệnh lao sẽ làm cho quốc gia đó chậm
phát triển, yếu kém nghèo nàn lạc hậu [7].
1.1.7. Những điều cần thiết để chữa khỏi bệnh lao
Ngày nay tại cơ sở chống lao ở địa phương có đã có đủ thuốc để chữa bệnh
lao, thuốc chống lao được chương trình chống lao quốc gia cấp miễn phí. Để chữa
khỏi bệnh lao người mắc bệnh lao cần thực hiện đủ 4 điều kiện sau:
- Dùng phối hợp các thuốc chống lao, tức là trong 2 tháng tấn công, bệnh
nhân phải dùng đồng thời 4 đến 5 loại thuốc chống lao; trong giai đoạn duy trì dùng
ít nhất 2 loại thuốc.
8
- Dùng thuốc đúng liều lượng, tức là hàng ngày phải dùng đủ số lượng viên
của mỗi loại thuốc.
- Dùng thuốc đều đặn, tức là phải dùng thuốc hàng ngày vào một giờ nhất
định khi bụng đói.
- Dùng thuốc đủ thời gian 6 tháng liên tục.
- Xét nghiệm đàm 3 lần sau tháng thứ 2, tháng thứ 5 và tháng thứ 6 để giám
- Tăng cường sức khỏe, như ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, chế độ làm
việc nghỉ ngơi hợp lý; không sử dụng các chất gây nghiện, chất kích thích: Rượu
bia, thuốc lá, ma túy…; tập thể dục thường xuyên.
- Vệ sinh môi trường, giữ nhà ở thông thoáng, thường xuyên phơi nắng:
chiếu, chăn, màn...
- Hỗ trợ người nhà bị bệnh tuân thủ điều trị và xử lý đàm đúng cách [24].
1.1.8.3. Đối với người bệnh:
- Điều quan trọng nhất là phải uống thuốc đều đặn, đầy đủ, đúng liều theo
hướng dẫn của thầy thuốc.
- Luôn luôn che miệng với khăn giấy mỗi khi ho, hắt hơi, cười. Bỏ những
khắn ấy vào một túi nilông và cho vào thùng rác.
- Xử lý đàm đúng cách: khạc đàm vào khăn giấy hoặc lọ, lon có nắp đậy rồi
đem chôn hoặc đốt.
- Thường xuyên tắm nắng, hít thở không khí trong lành, luyện tập và sống
trong môi trường sạch sẽ, thường xuyên mở cửa sổ khi ở nhà hay nơi làm việc, tận
dụng ánh nắng mặt trời càng nhiều càng tốt cho nơi ở và các vật dụng cá nhân. Tạo
được những điều kiện thông gió tốt để không khí được lưu thông nhằm giảm thấp
nhất nồng độ các hạt chứa vi khuẩn lao trong không khí.
- Khi bệnh đang phát triển cần được ngủ riêng giường, dùng bát đũa, cốc
chén riêng và phải luộc sôi sau khi dùng; áo quần, chăn màn hàng tuần phải được
luộc sôi sau khi giặt.
- Dinh dưỡng cân bằng với chế độ ăn bao gồm thịt, cá, trứng, đậu đỗ, rau
xanh và hoa quả… Những người nghiện rượu cần giảm rượu bởi vì nó sẽ làm giảm
tác dụng của thuốc, ảnh hưởng tới việc điều trị [24].
10
1.2. Tình hình bệnh lao hiện nay
1.2.1. Tình hình bệnh lao trên thế gới
11
nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh viện nhiễm trùng với khoảng 1,3
triệu người tử vong do lao, trong đó có khoảng 320.000 người đồng nhiễm HIV; và
khoảng 420.000 phụ nữ chết do lao. Tình hình dịch tễ lao kháng thuốc đang có diễn
biến phức tạp và đã xuất hiện hầu hết các quốc gia, ước tính tỷ lệ bệnh lao đa kháng
thuốc là 3,6% trong số bệnh nhân mới và 20% trong số bệnh nhân điều trị lại [8].
Trong năm 2014, ước tính có khoảng 9,6 triệu trường hợp mắc lao mới: 5,4
triệu ở nam giới, 3,2 triệu ở phụ nữ và 1,0 triệu trẻ em. Ngoài ra còn có 1,5 triệu
lượt người tử vong vì lao (1,1 triệu trong số những người bị nhiễm HIV và 0,4 triệu
trong số những người nhiễm HIV dương tính), trong đó có khoảng 890 000 người là
nam giới, 480 000 người là phụ nữ và 140 000 là trẻ em. Số tử vong vì lao là quá
cao, với chẩn đoán sớm và điều trị đúng phác đồ, gần như tất cả những người bị lao
có thể được chữa khỏi [9].
1.2.2. Tình hình bệnh lao tại Việt Nam.
Bệnh lao bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố xã hội. Các nước nghèo, mức sống
thấp, bệnh lao thường tiến triển tới trầm trọng. Qua điều tra của Viện lao và bệnh
phổi Trung ương nguy cơ nhiễm lao hàng năm ở nước ta ước tính là 1,7%, trong đó
các tỉnh phía Bắc là 1,2% và các tỉnh phía Nam 2,2% [22].
Cùng với đại dịch HIV lan truyền rất nhanh tại Việt Nam, đây là một nguy cơ
rất lớn đe dọa chương trình chống lao trong giai đoạn tới. Đồng nhiễm HIV và lao
không chỉ làm tăng số bệnh nhân lao (ước tính toàn cầu tăng gần 30% lao do có
HIV) mà còn làm giảm hiệu quả điều trị và làm tăng rất nhanh tỷ lệ tử vong do lao.
Có thể số lượng lao phổi AFB(+) mới được phát hiện còn rất cao và đây chính là
nguồn lây lan trong cộng đồng, bệnh lao tại Việt Nam vẫn còn là một vấn đề sức
khỏe trầm trọng [12].
Việt Nam là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 12 trong 22 nước có
gánh nặng bệnh lao toàn cầu, đồng thời là nước thứ 14 trong 27 nước có gánh nặng
bệnh lao đa kháng thuốc nhất thế giới. Tháng 01/2013 Chương trình chống lao quốc
gia đã phối hợp cùng Tổ chức Y tế thế giới tiến hành hội thảo phân tích tình hình
phòng chống lao quốc gia: Ưu tiên phát hiện và điều trị bệnh nhân lao phổi ho khạc
ra vi trùng là nguồn lây lao chính cho cộng đồng, phát hiện bệnh lao chủ yếu bằng
xét nghiệm đàm soi trực tiếp, điều trị ngoại trú cho đa số bệnh nhân lao, chỉ điều trị
nội trú đối với các bệnh nhân lao nặng [27].
13
Bảng 1.1. Kết quả thu nhận bệnh nhân lao của Đồng Tháp từ 2010-2015 [26]
Năm
AFB (+)
mới
Tái phát; thất
bại; điều trị lại
AFB
(-)
Lao
ngoài phổi
Tổng số
2010
1687
238
%
61,4
9,1
14,7
14,8
100
2012
1784
240
391
390
2805
%
63,6
8,5
2014
1820
275
469
460
3024
%
60,18
9,09
15,51
15,21
100
2015
1827
276
14
phối hợp chặt chẽ thường xuyên và liên tục; một số cấp chính quyền cơ sở có tư
tưởng chủ quan trong công tác phòng chống lao [27].
Những tồn tại trên, đặt ra cho CTCLQG của tỉnh rất nhiều khó khăn trở ngại,
nếu không có giải pháp hữu hiệu thì khó có thể đạt được mục tiêu đề ra cho tới năm
2015 là giảm tỉ lệ mắc, giảm tỉ lệ chết và tỉ lệ nhiễm lao, để phấn đấu bệnh lao
không còn đe dọa tới sức khỏe nhân dân và không gây ảnh hường tới sự phát triển
kinh tế của tỉnh. Phối hợp chặt chẽ với các Ban, Ngành, Đoàn thể tham gia tuyên
truyền kiến thức bệnh lao về chiều rộng, lẫn chiều sâu trong nhân dân để họ biết
cách phòng ngừa cho bản thân và cho gia đình [27].
1.2.4. Tình hình bệnh lao tại huyện Thanh Bình
Thanh Bình là một huyện vùng sâu nằm ở phía bắc của tỉnh Đồng Tháp với
diện tích 329,46 km2; dân số 182.725 người; toàn huyện có 13 xã, thị trấn và gồm
55 khóm, ấp. Phát triển kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản [30].
Trong những năm qua công tác phòng, chống bệnh lao tại huyện đã được triển khai
mạnh mẽ, nhiều biện pháp nhằm khống chế bệnh lao như: điều trị miễn phí cho
bệnh nhân lao; tăng cường công tác tuyên truyền rộng rãi trong cộng đồng (loa đài,
ban ngành, đoàn thể, cộng tác viên…); các văn bản phối hợp giữa các ngành…
nhưng nhìn chung, tình hình bệnh lao vẫn chưa có dấu hiệu giảm.
Bảng 1.2. Tình hình thu dung bệnh nhân lao từ năm 2010 – 2015 [30]
2010
AFB (+)
Tái phát,
Mới
thất bại
160
55
247
142
2013
156
20
32
31
239
136
2014
174
15
30
39
157
Số liệu bảng 1.4 cho thấy tình hình mắc lao chung của huyện Thanh Bình từ
năm 2010 đến năm 2015, chỉ giảm vào năm 2011, các năm còn lại thì hầu như
15
không giảm. Trung bình lao các thể có tỷ lệ 141/100.000 dân, lao phổi AFB (+) mới
tỷ lệ 91/100.000 dân. Các số liệu này cho thấy nguy cơ tiềm ẩn của bệnh lao trong
cộng đồng là rất cao, nếu không phát hiện và điều trị sớm, thì sẽ không thể nào cắt
được nguồn lây lan trong cộng đồng. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới công tác khám
phát hiện bệnh, đặc biệt là trình độ nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, địa
bàn rộng, khả năng tiếp cận của người dân với các kênh truyền thông không đồng
đều nên ảnh hưởng không nhỏ đối với công tác khám và phát hiện bệnh [27].
Công tác khám phát hiện bệnh lao mới chủ yếu là thụ động, dựa vào người
dân đến khám tại tổ lao của Trung tâm Y tế huyện, Trạm Y tế xã, thị trấn; công tác
tuyên truyền còn hạn chế, người dân chưa biết mình có nguy cơ bị mắc bệnh lao,
không muốn đi khám bệnh hoặc còn mặc cảm giấu bệnh... Vấn đề đặt ra cho Tổ
chống lao của Huyện là làm thế nào để hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch được giao.
Muốn khắc phục tốt và bền vững nhất là nâng cao nhận thức của người dân trong
huyện về bệnh, cách phòng bệnh lao để người dân biết các dấu hiệu nghi ngờ mắc
lao, biết đi khám lao ở đâu, xóa bỏ mặc cảm khi bị bệnh lao, mạnh dạn điều trị và
biết được bệnh lao điều trị hoàn toàn miễn phí [30].
1.3. Những nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng bệnh lao trong những
năm gần đây
1.3.1. Trên thế giới
Trong những năm qua các nghiên cứu trên thế giới cho thấy ở nhiều
nơi kiến thức về bệnh lao của người dân vẫn còn nhiều hạn chế.
Tại Tây Ban Nha, năm 2009, tác giả Sanz Barbero B và Blasco Hermandez