BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Cƣờng
XUNG ĐỘT TÂM LÍ GIỮA GIÁO VIÊN VÀ
HỌC SINH Ở MỘT SỐ TRƢỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Cƣờng
XUNG ĐỘT TÂM LÍ GIỮA GIÁO VIÊN VÀ
HỌC SINH Ở MỘT SỐ TRƢỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tâm lí học
Mã số
: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ TỨ
Thị Tứ - nhà khoa học đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, truyền lửa cũng như cung
cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết để tác giả thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh, Khoa Tâm lý giáo dục đã tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành tốt công
việc nghiên cứu khoa học của mình.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn ủng hộ, đồng
hành, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
thực hiện Luận văn.
Tác giả luận văn
Phạm Thị Cƣờng
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Mục lục
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT TÂM LÍ GIỮA GIÁO VIÊN
VÀ HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ ...................................................7
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................. 7
1.1.1. Các quan điểm khác nhau về xung đột tâm lí ..............................................7
1.1.2. Hướng nghiên cứu của các nhà Tâm lí học Việt Nam.................................9
1.2. Các khái niệm cơ bản .................................................................................. 13
1.2.1. Xung đột ............................................................................................. 13
1.2.2. Xung đột tâm lí ................................................................................... 14
1.2.3. Học sinh THCS ................................................................................... 19
2.3.1. Cơ sở đề xuất biện pháp ....................................................................... 74
2.3.2. Một số biện pháp.................................................................................. 75
2.3.3. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp ........................ 88
Tiểu kết chƣơng 2 ........................................................................................................90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .....................................................................................92
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Học sinh
HS
Giáo viên
GV
Trung học cơ sở
THCS
Thành phố Hồ Chí Minh
TP HCM
Xung đột
XĐ
Xung đột tâm lý
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.
Mẫu khách thể nghiên cứu ........................................................................46
Bảng 2.2.
Tần suất XĐTL giữa GV và học sinh THCS .............................................50
Bảng 2.3.
Tần suất XĐTL giữa GV và HS THCS xét theo giới tính, khối lớp và
địa bàn ........................................................................................................50
Bảng 2.4.
Mức độ biểu hiện xung đột tâm lí giữa GV và học sinh THCS ................52
Bảng 2.5.
Mức độ biểu hiện XĐTL giữa GV và HS THCS qua các vấn đề cụ
thể trong từng lĩnh vực hoạt động .............................................................. 54
Bảng 2.6.
Mức độ biểu hiện XĐTL giữa GV và HS THCS về mặt nhận thức ..........56
Bảng 2.7.
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Thời điểm xuất hiện XĐTL giữa GV và HS THCS ...................... 55
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cùng với gia đình, nhà trường là môi trường giáo dục có tầm quan trọng vô
cùng to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Hoạt động dạy học
trong nhà trường được coi là hoạt động trung tâm góp phần hình thành và phát triển
toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường, trong đó không thể
không nhắc đến vai trò của người giáo viên. Thầy cô giáo không chỉ dạy kiến thức mà
còn định hướng con đường và cách sống cho các em. Thầy cô giáo không chỉ truyền
đạt tri thức mà còn là những hiểu biết giá trị và lối sống nhân văn cao đẹp.
Tuổi học sinh Trung học cơ sở là một giai đoạn phát triển tâm lí đầy biến động
của một đời người. Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt, các em đang tách dàn khỏi thời
thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn là người trưởng thành. Chính điều này
tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình
cảm, đạo đức… của thời kì này. Ở lứa tuổi này có nhiều thay đổi về thể chất, tâm sinh
lý, dễ chịu tác động của những biến đổi trong xã hội, vai trò của gia đình và nhà
trường càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết [38]. Trong khi đó, sự phát triển kinh
tế xã hội hiện nay cùng với xu thế giao lưu, hội nhập quốc tế, văn hóa xã hội mang
tính chất toàn cầu, ngoài những tác động tích cực còn có những mặt hạn chế làm cho
các mối quan hệ cũng như tác động giáo dục và ảnh hưởng của giáo dục nhà trường có
chiều hướng giảm sút. Thầy cô nhiều khi do không hiểu học sinh đầy đủ cộng với
những ảnh hưởng từ biến động của xã hội, kinh tế, văn hóa đã áp dụng nhiều biện pháp
giáo dục cứng nhắc. Trong quan hệ giữa thiếu niên với thầy cô giáo cũng thường hay
xảy ra các mâu thuẫn. Những xung đột của thiếu niên với thầy cô giáo thường dẫn đến
những hậu quả xấu đối với sự phát triển tâm lí của các em. Sự rối nhiễu tâm lí, sự sai
tuổi THCS.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh một số trường
THCS tại TPHCM. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm giúp học sinh và
giáo viên giải quyết xung đột tâm lí tốt hơn.
3. Đối tƣợng và khách thể
a. Đối tượng nghiên cứu
Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS.
3
b. Khách thể nghiên cứu
Giáo viên và học sinh THCS một số trường THCS tại Tp HCM.
4.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4. 1. Giới hạn đối tượng và nội dung nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu về thực trạng xung đột tâm lí giữa thầy cô và học sinh THCS tại
Tp HCM, gồm: Thực trạng mức độ biểu hiện các xung đột tâm lí, thực trạng các vấn
đề gây xung đột, nguyên nhân của thực trạng, tác động của xung đột tâm lí đến học
sinh THCS và các biện pháp giải quyết xung đột của học sinh và thầy cô khi có xung
đột trên 3 bình diện: nhận thức, thái độ và hành động.
Đề tài tập trung nghiên cứu xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh được
nhìn từ phía học sinh Trung học cơ sở.
4.2. Giới hạn khách thể nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên khách thể là 400 học sinh lớp 8 và lớp 9 ở các
trường THCS trên địa bàn Quận 5 và Quận Gò Vấp.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh
trong nghiên cứu.
7.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu và hệ thống hóa tài liệu những tri thức lý luận và thực có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu nhằm xác định xơ sở lý luận cho vấn đề và định hướng nghiên
cứu thực tiễn.
Phương pháp này diễn ra theo các giai đoạn như phân tích, tổng hợp, hệ thống
hóa và khái quát hóa những lý thuyết cũng như những công trình nghiên cứu của các
tác giả trong và ngoài nước trên cơ sở các công trình đã được công bố trên các tạp chí,
sách báo… nhằm mục đích lựa chọn được những khái niệm và công cụ nghiên cứu,
xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài và định hướng cho việc nghiên cứu thực tiễn.
7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
Là phương pháp thu thập dữ liệu từ mẫu chọn trong đó sử dụng công cụ chính là
bảng hỏi để phục vụ mục đích nghiên cứu. Cùng với phương pháp nghiên cứu tài liệu
5
thì đây là phương pháp chính được sử dụng nhằm thực hiện mục đích của đề tài nghiên
cứu. Phương pháp này sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến với một hệ thống câu hỏi được
soạn thảo dựa trên mục đích nghiên cứu.
Cách thức thực hiện: Để có được bảng hỏi theo đúng yêu cầu nghiên cứu, chúng
tôi sẽ tiến hành thiết kế bảng hỏi qua 3 giai đoạn khác nhau:
Giai đoạn 1: Thiết kế bảng hỏi.
Giai đoạn 2: Khảo sát thử trên 20 học sinh và giáo viên để chỉnh sửa bảng hỏi, bổ
sung và hoàn thiện bảng hỏi cho phù hợp với yêu cầu của đề tài. Bảng hỏi chính thức
này sẽ được thực hiện trong giai đoạn 3.
Giai đoạn 3: Khảo sát chính thức.
Mục đích: Tìm hiểu thực trạng xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS
qua tỷ lệ phần trăm mối quan hệ có xung đột, các mức độ xung đột, nguyên nhân xung
7
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT TÂM LÍ
GIỮA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các quan điểm khác nhau về xung đột tâm lí
1.1.1.1. Các quan điểm trong Tâm lí học phương Tây về xung đột tâm lí
Trong Tâm lí học Phương Tây, có hai hướng nghiên cứu chủ yếu. Hướng nghiên
cứu thứ nhất đi sâu nghiên cứu XĐTL bên trong nhân cách và hướng nghiên cứu thứ
hai đi sâu nghiên cứu XĐTLLNC và XĐTL giữa các nhóm xã hội.
Hướng nghiên cứu thứ nhất được nghiên cứu sâu rộng ở Tâm lí học đại cương,
tâm lí học sư phạm, tâm bệnh học và phân tâm học. Ở hướng này có một số nhà tâm lí
tiêu biểu như: K. Lewin, N.Miller, S. Freud, Erich From [9] và các nhà tâm lí học
thuộc hướng nghiên cứu này cho rằng XĐTL là sự đấu tranh giữa các lực lượng tâm lí:
Cái nó, cái tôi và cái siêu tôi. Trong quá trình này thường xuyên diễn ra sự dồn nén, sự
thỏa hiệp và sự giải tỏa bằng các hình thức khác nhau. Cuộc sống của trẻ lứa tuổi
THCS đầy những căng thẳng và xung đột, lúc thì yêu thương, lúc thì căm ghét, lúc thì
phụ thuộc vào bố mẹ và những người lớn.
Hướng nghiên cứu thứ hai (từ những năm 60) bắt đầu được nghiên cứu bởi các
nhà tâm lí học xã hội mà mục đích chủ yếu là nghiên cứu XĐTLLNC và XĐTL giữa
các nhóm xã hội. Ở hướng nghiên cứu này, có hai lý thuyết tâm lí học chủ yếu đó là
thuyết động lực và thuyết tâm lí học xã hội nhận thức.
J.Piaget và các nhà tâm lí học nhận thức, nghiên cứu sự hình thành – phát triển
các cấu trúc nhận thức và trí tuệ cá nhân. Trong đó xung đột được đề cập như một
trạng thái thiếu hụt, mất cân bằng giữa các quá trình đồng hóa và điều ứng các kích
ứng từ môi trường.Theo J.Piaget, sự phát triển tâm lí trẻ em là sự phát triển các sơ đồ
nhận thức, “Sự phát triển nhận thức bắt nguồn từ sự đan xen thường xuyên giữa đồng
hóa và điều ứng. Đồng hóa duy trì và bổ sung cho các năng lực hữu hiệu và các bài
đột và bản chất của xung đột [32].
1.1.2.1. Quan điểm của các nhà Tâm lí học Mác xít về xung đột tâm lí
Vấn đề XĐTL cũng được các nhà Tâm lí học Mác xít nghiên cứu theo hai góc
độ: Góc độ tâm lí học cá nhân đó là XĐTL bên trong nhân cách; góc độ tâm lí học xã
hội đó là xung đột tâm lí liên nhân cách và xung đột tâm lí giữa các nhóm xã hội. Các
9
tác giả tiêu biểu như: A.G.Kovaliop, A.V. Petrovxki, G.L Smirnop,… Nghiên cứu
XĐTL trong mối quan hệ liên nhân cách trong gia đình trên cở sở quá trình tổ chức
hoạt động chung, thông qua tính quy định của các nhân tố lịch sử - xã hội. Việc nghiên
cứu lý luận được coi trọng nhưng việc nghiên cứu ứng dụng – thực tiễn chưa được
thực hiện nhiều [21]. Tác giả A.V.Ptrovxki (1982) đi sâu nghiên cứu xung đột lứa tuổi
thiếu niên với người lớn. Ông cho rằng nguyên nhân xung đột là do người lớn không
biết cách và không muốn tìm cho thiếu niên một vị trí bên cạnh mình [22].
Ở Việt Nam có thể kể đến là: Phạm Tất Dong, Mai Hữu Khuê, Nguyễn Ngọc
Phú, Đỗ Long, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Vũ Dũng,… Thành tựu của các
nhà tâm lí học Mác xít, đặc biệt các nhà tâm lí học Xô Viết trong việc nghiên cứu về
XĐTL trong tập thể thể hiện trước hết ở chỗ họ đã từng bước hoàn thiện khái niệm,
nêu rõ ảnh hưởng tiêu cực của XĐTL đến cá nhân và tập thể, chỉ ra nguồn gốc, nguyên
nhân cơ bản gây ra XĐTL trong tập thể, một số tác giả đã đề cập đến những vấn đề có
tính quy luật của xung đột, đưa ra các biện pháp tâm lí nhằm phòng ngừa và giải quyết
XĐTL trong tập thể. Thành tựu về XĐTL mà các nhà tâm lí học Mác xít khám phá ra
là cơ sở lý luận quan trọng giúp ta có thể kế thừa, bổ sung hoàn chỉnh thêm, đóng góp
một phần đáng kể vào việc phòng ngừa và giải quyết XĐTL trong các tập thể hiện nay
[28].
1.1.2. Hướng nghiên cứu của các nhà Tâm lí học Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề xung đột ở lứa tuổi ở thiếu niên hay học sinh THCS cũng có
một số tác giả nghiên cứu, cả về nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn
1.1.2.1. Nghiên cứu lý luận
quan đến vấn đề này có công trình nghiên cứu của tác giả Ngô Minh Tuấn và Nguyễn
Văn Tuân. Trong công trình nghiên cứu của mình, họ đã tìm hiểu được những biểu
hiện của xung đột giữa các cá nhân trong tập thể quân nhân và ảnh hưởng của xung đột
tới bầu không khí tâm lí trong tập thể [36].
Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI này còn phải kể đến những đề tài nghiên cứu
về xung đột tâm lí trong tập thể và trong mối liên hệ liên nhân cách. Các đề tài này đã
hệ thống được những quan điểm lý luận khác nhau về xung đột, tìm ra nguyên nhân
xung đột và phương pháp giải quyết xung đột trong quan hệ vợ chồng, trong tập thể
quân nhân ở đơn vị cơ sở quân đội và trong hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo [34].
11
1.1.2.2. Nghiên cứu thực tiễn
Tại Việt Nam, có khá nhiều nghiên cứu thực tiễn về xung đột trong các mối quan
hệ liên nhân cách như “Nghiên cứu sự xung đột trong quan hệ vợ chồng” (2001) của
tác giả Cao Thị Huyền Nga phân tích thực trạng trên 450 gia đình và 30 cặp hiện có
xung đột, Nguyễn Đình Mạnh (2006) nghiên cứu vấn đề “Xung đột tâm lí trong tình
yêu nam nữ của sinh viên” trên 624 sinh viên và 15 cặp sinh viên hiện đang có xung
đột, vấn đề “Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa” được
Trần Thu Hương (2007) tiến hành nghiên cứu trên 475 người. Các nghiên cứu đều
nhằm tìm hiểu nhận thức, quan điểm chung về vấn đề xung đột, nguyên nhân của các
vấn đề đó và từ đó đề xuất biện pháp tác động. Các biện pháp đề xuất của các tác giả
đã đóng góp vào cơ sở lí luận chung về vấn đề xung đột những cách thức, giải pháp để
giải quyết cho các vấn đề xung đột liên nhân cách.
Ở lứa tuổi thiếu niên hay tuổi học sinh THCS, cũng có nhiều công trình nghiên
cứu về xung đột trong lứa tuổi này, đặc biệt là xung đột với cha mẹ.
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, trong tác phẩm “Khi con đến tuổi dậy thì” đã cung
cấp cho cha mẹ một số biểu hiện về lứa tuổi thiếu niên và đưa ra một số câu chuyện về
sự xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ nhắm giúp cha mẹ có kinh nghiệm thêm trong
việc giáo dục con cái [37].
Trong lĩnh vực giao tiếp, tác giả Dương Thủy Nguyên (2016) đã chỉ ra được
những biểu hiện chính và những nội dung mà lứa tuổi học sinh THCS ở Đồng Nai
thường xảy ra xung đột với chính cha mẹ mình. Từ đó đã có những biện pháp nhằm
nâng cao năng lực và hiệu quả trong giao tiếp với cha mẹ [27].
Như vậy, các công trình nghiên cứu đã cho thấy xung đột tâm lí là tất yếu trong
quá trình trẻ tham gia vào các hoạt động đa dạng và các mối quan hệ liên nhân cách.
Từ đó các tác giả chỉ ra được những nguyên nhân và phương thức giải quyết xung đột
để thúc đẩy sự phát triển của trẻ em. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên tập
trung nghiên cứu xung đột mà chưa đi sâu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới xung
đột tâm lí cúa thiếu niên.
Xung đột tâm lí trong các mối quan hệ của học sinh THCS đã được quan tâm bởi
nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực xã hội khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề xung đột tâm
lí trong các mối quan hệ ở nhà trường mà đặc biệt là với các thầy cô giáo ở nước ta
vẫn chưa được chú trọng đến. Nhận thấy, trong giai đoạn xã hội có nhiều thay đổi lớn
như sự xuất hiện của mạng xã hội, công nghệ điện tử, sự hội nhập của nhiều nền văn
13
hóa nước ngoài đa dạng và những bước chuyển trên đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới tính
chất mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, ảnh hưởng tới qua trình rèn luyện nhân
cách và kết quả học tập của các em lứa tuổi có nhiều thay đổi nay. Chính vì thế, người
nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu vấn đề xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh
THCS trên cơ sở kế thừa và phát huy những cơ sở lý luận có sẵn, tạo thêm góc nhìn
mới về vấn đề không còn mới mẻ nhưng lại rất ít nghiên cứu này ở Việt Nam.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Xung đột
Xung đột có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “Conflictus” - tức là sự va chạm, bất
hòa, sự tranh cãi, đụng độ, chống đối giữa những khuynh hướng đối lập nhau trong ý
thức của mỗi cá nhân; trong sự tác động qua lại giữa các cá nhân hay nhóm người gắn
liền với các trạng thái cảm xúc tiêu cực.
những sức mạnh ngược chiều và ngang sức nhau.
XĐ liên cá nhân: Là XĐ diễn ra giữa chủ thể này với chủ thể khác, giữa nhóm
này với nhóm khác và nó có đặc điểm như sau:
- Có sự khác nhau giữa các cá nhân.
- Tạo ra trạng thái căng thẳng ở mỗi cá nhân khi diễn ra XĐ.
- XĐ diễn ra ở các cá nhân có mối liên quan với nhau và tạo ra những biến đổi
tâm lí ở mỗi cá nhân.
Trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận XĐ theo hướng XĐ liên cá nhân và chúng
tôi hiểu về XĐ như sau: XĐ là sự bất đồng quan điểm, sự va chạm, mâu thuẫn ở mức
độ cao giữa những chủ thể có mối quan hệ qua lại với nhau.
1.2.2. Xung đột tâm lí
Nếu như XĐ theo quan điểm triết học luôn tồn tại ở mọi sự vật hiện tượng thì
XĐTL chỉ xuất hiện ở con người. Với những đặc trưng của con người, nên XĐTL diễn
ra dưới cơ chế đặc thù và được phân thành nhiều loại.
1.2.2.1. Định nghĩa xung đột tâm lí
Trong Triết học, xung đột thường được hiểu là mức độ cao của mâu thuẫn, thậm
chí là mâu thuẫn đối kháng, là phương thức để giải quyết mâu thuẫn, mở đường cho sự
phát triển, còn trong tâm lí học xung đột có phổ rộng hơn, không chỉ là mức độ cao
của mâu thuẫn, mà ngay cả khi có sự khác nhau, sự đối lập của các hiện tượng tâm lí
trong một chủ thể hoặc giữa các chủ thể cũng được coi là mức độ nhất định của xung
15
đột. Nói cách khác, xung đột tâm lí có biên độ khác nhau đến mâu thuẫn, xung khắc
nhau về các yếu tố tâm lí cá nhân hoặc giữa các cá nhân, các nhóm xã hội [28].
Trong Triết học, xung đột chỉ xảy ra khi mâu thuẫn trở nên đối kháng không điều
hòa được.Trong Tâm lí học, xung đột không nhất thiết chỉ từ mâu thuẫn đối kháng mà
từ nhiều mức độ khác nhau. Bởi lẽ, trong một cá nhân có một nhân cách, nhận thức,
thái độ sống, quan điểm,… và nhiều khi đối lập với người khác. Vì thế, trong hoạt
động cùng nhau, sự va chạm, bất đồng giữa người này với người khác là điều khó
Từ định nghĩa trên về xung đột, có thể nhấn mạnh một số điểm sau:
Thứ nhất: Xung đột tâm lí là hiện tượng tâm lí phổ biến trong quá trình tồn tại và
phát triển của cá nhân và nhóm xã hội; là thuộc tính của tương tác và quan hệ xã hội.
Không có tương tác và hoạt động cùng nhau thì sẽ không có xung đột [28].
Thứ hai: Xung đột tâm lí không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một quá trình
động, theo một vòng khâu của tương tác và hoạt động của chủ thể: bắt đầu từ sự thống
nhất -> sự khác nhau -> sự khác biệt -> sự đối lập -> sự mâu thuẫn -> xung khắc.
Chính trong quá trình đi từ sự đồng nhất đến xung khắc thường diễn ra quá trình điều
chỉnh, giải quyết nhằm khắc phục xung đột ở các mức khác nhau [28].
Thứ ba: Xung đột không phải bao giờ cũng dẫn đến sự triệt tiêu, phá hủy, mang
tính chất tiêu cực, mà có cả ý nghĩa tích cực. Xung đột là phương thức giải quyết mâu
thuẫn, đưa sự vật phát triển lên trình độ mới [28].
Thứ tư: Xung đột tâm lí có phổ rất rộng, bao gồm một dải từ sự khác nhau, bất
đồng, mâu thuẫn, đến va chạm giữa các yếu tố tâm lí trong mỗi chủ thể hoặc giữa các
chủ thể. Xung đột bao giờ cũng được xảy ra trong tương tác giữa các yếu tố tâm lí của
cá nhân hoặc tương tác giữa hai hay nhiều chủ thể. Không có xung đột ngoài tương tác
[28].
Thứ năm: Xung đột tâm lí có thể diễn ra trong một chủ thể, trong đó chủ thể thấy
mình bị thôi thúc bởi sức mạnh của sự khác biệt, đối lập nhau của các hiện tượng tâm
lí của bản thân (các nhu cầu, giá trị, động cơ khác nhau, trái ngược nhau,…) – xung
đột nội tâm (nội xung đột). Xung đột cũng có thể diễn ra giữa nhiều cá nhân với nhau,
giữa chủ thể này với chủ thể khác – xung đột liên nhân cách. Xung đột cũng có thể xảy
ra giữa nhóm xã hội này với nhóm xã hội khác – xung đột nhóm xã hội [28].
Thứ sáu: Nguyên nhân dẫn đến sự XĐTL là do sự khác biệt, đối lập về những
mục đích, lợi ích, những xu hướng tâm lí; sự khác biệt, mâu thuẫn về nhận thức, cảm
xúc,… của các cá nhân hay nhóm.