LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH tổ chức và hoạt động của thanh tra nhà nước cấp tỉnh - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN HÀNH CHÍNH

-----o0o-----

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Niên khóa: 2005-2009

Đề tài:

Giáo viên hướng dẫn:
Nguyễn Hữu Lạc

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Văn Thảo
MSSV: 5054929
Lớp: Luật HC-K31

CầnThơ, 11/2008


CẢM ƠN
@&?
Nhân kỉ niệm 20/11 ngày Nhà giáo Việt Nam, em kính chúc quý Thầy, Cô sức
khỏe, hạnh phúc và luôn thành công trong cuộc sống.
Được sự quan tâm, giảng dạy, hướng dẫn tận tình của Thầy, Cô tôi đã có được
những kiến thức rất bổ ích về chuyên ngành. Để hôm nay, sau hơn hai tháng nghiên cứu
và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp Đại học của tôi được hoàn thành. Đó cũng là nhờ
sự giúp đỡ của Thầy, Cô, gia đình cùng những người thân và bạn bè. Nhân đây, tôi xin
chân thành cảm ơn sâu sắc đến:

...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
.......................................................... ./.
Cần thơ, ngày …. tháng …. năm 2008


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

@

@&?
......................................................................................................................

...........................................................................................................................................


1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Phạm vi nghiên cứu.......................................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................. 3
5. Cấu trúc của đề tài............................................................................................ 3
CHƯƠNG 1 .......................................................................................................................... 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG........................................................... 4
THANH TRA NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH ................................................................................ 4

1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN...................................................... 4
2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA................................. 10
2.1. Vị trí, cơ cấu của tổ chức thanh tra trong hệ thống bộ máy nhà nước........... 10
2.1.1. Vị trí..................................................................................................... 10
2.1.2. Về tổ chức bộ máy thanh tra ................................................................. 10
2.2. Sự cần thiết phải thành lập cơ quan thanh tra............................................... 14
2.2.1. Thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước............ 14
2.2.2. Thanh tra là phương thức đảm bảo trật tự kỷ cương trong quản lý góp
phần tăng cường pháp chế Xã Hội Chủ Nghĩa ................................................ 15
2.2.3. Thanh tra là một phương thức góp phần bảo đảmquyền dân chủ của nhân
dân ................................................................................................................. 16
2.3. Mối quan hệ giữa thanh tra với quản lý nhà nước........................................ 16
2.3.1. Cơ chế quản lý nhà nước ...................................................................... 19
2.3.2. Cơ chế điều chỉnh pháp luật.................................................................. 21
2.4. Khái quát tổ chức và hoạt động thanh tra của một số nước trên thế giới ...... 22
2.4.1. Các cơ quan tổng thanh tra của pháp..................................................... 22
2.4.2. Tổ chức Thanh tra của Cộng hòa liên bang Đức ................................... 23
2.4.3. Tổ chức Thanh tra của Mỹ.................................................................... 23
2.4.4. Tổ chức Thanh tra của Anh................................................................... 23
2.4.5. Tổ chức Thanh tra của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ......................... 24

2. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN THANH TRA NHÀ NƯỚC CẤP
TỈNH..................................................................................................................... 39
2.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức thanh tra ......................... 39
2.2. Chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra tỉnh ..................................................... 41
2.2.1. Về chức năng........................................................................................ 41
2.2.2 Về nhiệm vụ, quyền hạn ........................................................................ 41
2.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương .................................................................................................................. 43
2.4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra tỉnh trong công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo. ................................................................................................................ 43
2.5. Nhiệm vụ của ngành Tranh tra nói chung và Thanh tra tỉnh nói riêng trong
công tác phòng, chống tham nhũng .................................................................... 44
3. CÁC TIÊU CHUẨN ĐỂ TRỞ THÀNH CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGÀNH
THANH TRA........................................................................................................ 46
3.1. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức thanh tra ............................................. 46
3.2. Tiêu chuẩn để trở thành cán bộ, công chức ngành Thanh tra ....................... 47
3.2.1. Tiêu chuẩn để trở thành Thanh tra viên................................................. 47
3.2.2. Tiêu chuẩn để trở thành Cộng tác viên thanh tra ................................... 48
4. HOẠT ĐỘNG THANH TRA NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH.................................... 49
4.1. Những đặc thù của hoạt động thanh tra ....................................................... 49
4.2. Hình thức thanh tra...................................................................................... 50
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

SVTH: Nguyễn Văn Thảo

ii


Đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhà nước cấp tỉnh”


khiếu nại, tố cáo.......................................................................................... 72
1.1.2.6. Công tác phòng, chống tham nhũng ............................................... 73
1.1.2.7. Công tác tổ chức xây dựng lực lượng ............................................. 74
1.1.2.8. Công tác xây dựng và triển khai văn bản ........................................ 75
1.2. Tỉnh Bến Tre............................................................................................... 77
1.2.1. Tổng hợp kết quả thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo. ...................... 77
1.2.2. Kết quả thực hiện công tác thanh tra ..................................................... 77
1.2.2.1. Công tác thanh tra kinh tế xã hội .................................................... 77
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

SVTH: Nguyễn Văn Thảo

iii


Đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhà nước cấp tỉnh”

1.2.2.2. Kết quả thanh tra theo các lĩnh vực ................................................ 77
1.2.2.3. Thanh tra chuyên ngành ................................................................. 84
1.2.2.4. Công tác phòng, chống tham nhũng ............................................... 84
1.2.3. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo .................................................... 84
1.2.3.1. Tình hình công tác tiếp dân ............................................................ 84
1.2.3.2. Tình hình khiếu nại và giải quyết khiếu nại: ................................... 84
1.2.3.3. Tình hình tố cáo và giải quyết tố cáo .............................................. 85
1.2.3.4. Kết quả thanh, tra kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật
về khiếu nại, tố cáo ..................................................................................... 86
1.2.3.5. Kết quả thực hiện quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh ................. 86
1.2.4. Công tác chống tham nhũng.................................................................. 86
1.2.5. Công tác tổ chức xây dựng lực lượng và một số nội dung khác............. 87
2. THỰC TRANG CHUNG VỀ CÔNG TÁC THANH TRA CỦA TỈNH HẬU

phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm. Để xứng đáng với Đảng, Nhà nước và niềm tin của
nhân dân. Về vị trí của thanh tra đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong huấn thị
về công tác thanh tra (1960); Người nói: “Thanh tra là tai mắt của Đảng và Chính
phủ. Tai mắt có sáng suốt thì người mới sáng suốt”. Có thể nói, đổi mới hệ thống tổ
chức và hoạt động thanh tra là một trong những vấn đề cơ bản, vừa là mục tiêu, vừa là
nôi dung của đường lối đổi mới của Đảng ta được xuyên suốt trong quá trình đổi mới
của đất nước.
Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân - một Nhà
nước mang bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Do
vậy, phát huy và không ngừng mở rộng quyền dân chủ của nhân dân là một trong
những phương thức quan trọng để xây dựng, củng cố và phát triển bộ máy nhà nước,
nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong
tình hình đầy biến động hiện nay. Trong mối liên hệ đó, thời gian qua, bên cạnh việc
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hệ thống các cơ quan có chức năng thanh tra,
kiểm tra, giám sát ở nước ta không ngừng được củng cố, hoàn thiện cả về hệ thống tổ
chức, cả về phương thức, cơ chế hoạt động. Từ đó, đấu tranh một cách có hiệu quả
chống những biểu hiện tiêu cực, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước, sự nỗ lực
phối hợp hoạt động của các cơ quan nhà nước có chức năng thanh tra, giám sát thực sự
đã góp phần vào việc thiết lập lại trật tự, kỷ cương xã hội, tăng cường hiệu lực hoạt
động quản lý của bộ máy nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm sự ổn định chung,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Một trong những vấn đề quan trọng nữa hiện
nay là nước ta đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO và thành viên
không thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc. Đây là một trong những điều
kiện và tiền đề để nước ta ngày càng phát triển.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

SVTH: Nguyễn Văn Thảo

1


cũng như hoạt động của Thanh tra nhà nước cấp tỉnh;
- Mô hình tổ chức Thanh tra nhà nước cấp tỉnh, nhằm nâng cao hiệu quả công
tác thanh tra cũng như quản lý nhà nước;
- Đưa ra luận cứ phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan
thanh tra. Từ đó, thấy được những bất cập, hạn chế trong công tác thanh ta để đề ra
những phương thức cũng như kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống cơ cấu tổ chức và
hoạt động của cơ quan Thanh tra nhà nước cấp tỉnh về cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám
sát.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

SVTH: Nguyễn Văn Thảo

2


Đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhà nước cấp tỉnh”

3. Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở nội dung đã đăng ký, người viết chỉ tập trung nghiên cứu những nội
chính dung sau:
- Những vấn đề lý luận về công tác thanh tra; quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát;
- Tổ chức và hoạt động thanh tra mà đặc biệt là Thanh tra nhà nước cấp tỉnh;
- Chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan Thanh tra nhà nước cấp tỉnh;
- Các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan có chức năng
thanh tra, giám sát ở nước ta; thực hiện phân định chức năng, nhiệm vụ và thực hiện
cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có chức năng thanh tra, giám sát với các cơ quan
quản lý nhà nước.
4. Phương pháp nghiên cứu

1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Thanh tra được hình thành và hoàn thiện cùng với sự ra đời và phát triển của
Nhà nước, nó gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước. Tuy vậy, vấn đề nhận thức
đúng vị trí, vai trò thanh tra trong quản lý nhà nước hiện nay còn nhiều ý kiến khác
nhau. Sở dĩ có sự khác nhau đó là do chưa nhận thức đúng và đầy đủ khái niệm thanh
tra. Về khái niệm thanh tra được đề cập, xem xét trên nhiều khía cạnh, giác độ khác
nhau. Tuy nhiên, những khái niệm thanh tra được nhiều người thừa nhận, được ghi lại
thành tài liệu nghiên cứu về thanh tra.
Theo Từ điển tiếng Việt năm 1992 thì: “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ
việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với khái niệm trên giúp ta nhận thấy
hoạt động thanh tra không đồng nhất với hoạt động điều hành, quản lý, khác với hoạt
động của người làm công tác kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ.
Nếu xem xét về nguồn gốc, ngữ nghĩa thì khái niệm thanh tra xuất phát từ gốc
La-tinh (in-spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ một sự xem xét từ bên ngoài
vào hoạt động của một đối tượng nhất định: “là sự kiểm soát đối với đối tượng bị
thanh tra” trên cơ sở thẩm quyền (quyền hạn và nghĩa vụ) được giao nhằm đạt được
mục đích nhất định. Tính chất của thanh tra mang tính thường xuyên, tính quyền lực,
do đó hệ quả của thanh tra thường là “phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy
định”.
Trong sách báo pháp lý của ngành Thanh tra thì “thanh tra được hiểu là sự xem
xét, kiểm soát, kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhằm rút ra những nhận xét, kết luận
cần thiết để kiến nghị với các cơ quan nhà nước khắc phục những nhược điểm, phát
huy ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước”.
Thời kỳ phong kiến (các triều đại Lý, Trần, Lê) có cơ quan gọi là “Ngự sử đài”
(tương tự Tổng thanh tra ngày nay) có nhi ệm vụ giúp Vua trong việc xem xét, trình tấu
những công việc hệ thống, có quyền can gián Vua và đối với những nghĩa sĩ trung
thực, dám nói thẳng, nói thật mới được phong hàm “Gián nghị đại phu” (Thanh tra
viên).
Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức và coi trọng công tác thanh tra. Ngay sau
khi thành lập nước, Đảng và Nhà nước đã nhận thấy cần thiết thành lập cơ quan Thanh

chú trọng đến tổ chức bộ máy và lựa chọn cán bộ. Đó là những yếu tố cần thiết cho tổ
chức, hoạt động thanh tra. Cùng với việc thành lập Ban Thanh tra đặc biệt Đảng và
Nhà đã sớm xây dựng tổ chức Thanh tra ở một số bộ như: Ban Thanh tra thuộc Bộ Nội
vụ; Bộ Tài chính; Bộ Canh nông và thành lập Ban Thanh tra ở các xứ: Bắc bộ, Trung
bộ và Nam bộ. Tổ chức ở các xứ gọi là thanh tra chính trị và hành chính. Khi Hiến
pháp 1946 được ban hành, Đảng và Nhà nước đã điều chỉnh tổ chức, hoạt động thanh
tra phù hợp với tinh thần Hiến pháp và yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng. Ngày
18/12/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 138B/SL thành lập Ban Thanh tra
trực thuộc Thủ tướng Chính phủ. Nhiệm vụ của Ban Thanh tra Chính phủ là: “xem xét
sự thi hành chính sách, chủ trương của Chính phủ, thanh tra các Uỷ viên Uỷ ban kháng
chiến hành chính và viên chức về phương diện liêm khiết; thanh tra các sự khiếu nại
của nhân dân”. Đến năm 1956 khi miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ cách
mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới. Ở miền Bắc, toàn Đảng, toàn dân thực
hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, ở miền Nam tiếp tục kháng chiến giải phóng
dân tộc. Lúc này, cơ bản công tác thanh tra ở miền Bắc được củng cố, kiện toàn nhiệm
vụ thanh tra được mở rộng không chỉ trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước mà

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

SVTH: Nguyễn Văn Thảo

5


Đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhà nước cấp tỉnh”

còn thanh tra đối với các doanh nghiệp, thanh tra việc thực hiện kế hoạch nhà nước,
quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước. Nhiệm vụ của thanh tra đã được xác định
trong Sắc lệnh 261/SL ngày 28/3/1956. Theo quy định của Sắc lệnh này, thanh tra có
nhiệm vụ: “thanh tra công tác của các bộ, các cơ quan dân chính, và chuyên môn các

nắn, sửa chữa sai lầm, thiếu sót có thể xảy ra… Các cán bộ lãnh đạo (các Bộ trưởng,

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

SVTH: Nguyễn Văn Thảo

6


Đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhà nước cấp tỉnh”

Thứ trưởng…) nhất định phải chỉ đạo trực tiếp cơ quan Thanh tra của mình”. Từ quan
điểm trên cho thấy Đảng và Nhà nước luôn khẳng định vị trí, vai trò công tác thanh tra
trong công tác lãnh đạo, quản lý, thanh tra gắn liền với quản lý, đồng thời nó là công
việc, trách nhiệm của người quản lý. Mỗi tổ chức Thanh tra chuyên nghiệp phải thực
sự là công cụ thiết yếu của cơ quan nhà nước, hoạt động thanh tra cung cấp thông tin
cần thiết, bảo đảm cho chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được thực hiện
thông suốt. Với quan điểm đó thì thanh tra là cơ quan bảo vệ pháp luật, chứ không
phải là cơ quan điều hành các hoạt động quản lý. Đảng và Nhà nước ta đã chú ý kiện
toàn, tăng cường tổ chức Thanh tra cùng với việc kiện toàn tổ chức kiểm tra Đảng, coi
đó là nhiệm vụ của các cấp uỷ đảng. Quan điểm đó thể hiện trong Thông tri số
210/TT/TW, ngày 22/12/1967 của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Trong Thông tri này,
Ban Bí thư đã chỉ rõ: “Lưu ý các cấp ủy và các Đảng đoàn phải hết sức chú trọng lãnh
đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra của Đảng, công tác thanh tra và xét thư khiếu tố của
nhân dân: Không những chỉ lãnh đạo về nội dung mà phải chấn và bổ sung về mặt tổ
chức làm cho bộ máy tương xứng với nhiệm vụ”. Đảng và Nhà nước ta không chỉ
nhận thức rõ mối quan hệ giữa công tác kiểm tra Đảng và công tác thanh tra của Nhà
nước, mà còn đặt nó trong mối quan hệ với hoạt động kiểm sát, coi đó là các bộ phận
hình thành cơ chế kiểm tra, giám sát của Nhà nước. Với cơ chế phối hợp đó sẽ tạo
thêm sức mạnh tổng hợp góp phần giữ gìn kỷ cương, kỷ luật trong bộ máy nhà nước

quản lý đến đâu thì yêu cầu phạm vi thanh tra phải tương ứng đến đó. Từ nhiệm vụ
ban đầu của Ban Thanh tra đặc biệt được Đảng và Nhà nước xác định tại Sắc lệnh
64/SL ngày 23/11/1945 đã được nhiều lần bổ sung qua các sắc lệnh, chỉ thị, nghị quyết
của Đảng, Nhà nước, đó là Sắc lệnh 138/SL ngày 18/12/1949; Sắc lệnh số 261/SL
ngày 28/3/1956; Nghị định 165/CP ngày 31/8/1970; Nghị định 01/CP ngày 3/01/1977
của Hội đồng Chính phủ. Tại Nghị định 165/CP đã khẳng định rõ nhiệm vụ, quyền
hạn, tổ chức bộ máy của Uỷ ban Thanh tra Chính phủ: “Thanh tra việc thực hiện các
chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch và
ngân sách của Nhà nước, nhằm tăng cường kỷ luật, nâng cao tinh thần trách nhiệm, cải
tiến tổ chức và lề lối làm việc trong bộ máy của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở”.
Từ quan điểm trên cho thấy công tác thanh tra không chỉ gắn với hoạt động điều hành,
chấp hành các quyết định quản lý mà còn phải góp phần chấn chỉnh quản lý từ khâu
ban hành, thực hiện quyết định đến việc kiện toàn bộ máy quản lý. Về vị trí, thanh tra
được Đảng và Nhà nước ta khẳng định là cơ quan nhân danh quyền hành pháp, xem
xét việc thực thi chính sách, pháp luật chủ yếu về kinh tế. Quan điểm này được thể
hiện rõ trong Nghị định 01/CP ngày 3/1/1977 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều
lệ về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ: “Uỷ ban Thanh tra
của Chính phủ là cơ quan của Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm thay mặt Hội đồng
Chính phủ thanh tra một cách thường xuyên, kịp thời, chính xác việc thực hiện các chủ
trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, kế hoạch và pháp luật của Nhà nước, chủ
yếu về mặt kinh tế”. Từ vị trí, vai trò thanh tra được ở trên, Đảng và Nhà nước ta đã
khẳng định tổ chức Thanh tra phải gắn với các cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp,
các ngành. Cùng với việc xác định rõ vị trí, vai trò, tổ chức của các cơ quan Thanh tra,
Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ phương châm thanh tra, phẩm chất của người cán bộ
thanh tra. Quan điểm đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ qua lời huấn thị của Người
tại Hội nghị cán bộ thanh tra toàn miền Bắc ngày 19/4/1957. Người nói: “Thanh tra
không chỉ xem địa phương thực hiện nghị quyết, chỉ thị như thế nào. Nếu họ làm sai
hay gặp khó khăn, còn giúp đỡ họ làm cho đúng với nghị quyết, chỉ thị của trên đưa
xuống”. “Thái độ của cán bộ thanh tra là kiểm tra phải cẩn thận: nghe không được
thiên lệch, nghe một bên, nên nghe người này, nghe người kia. Phải khách quan: chớ

Chính phủ);
- Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương;
- Thanh tra sở, ngành;
- Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và cấp tương đương.
Chức năng thanh tra nhà nước ở xã, phường do Uỷ ban nhân dân cùng cấp đảm
nhận.
Ngày nay, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng đề xướng và lãnh đạo
đã mang lại thành quả bước đầu quan trọng, kinh tế phát triển vượt qua khủng hoảng,
đời sống nhân dân được nâng cao, chính trị ổn định. Các cơ quan quản lý nhà nước đã
từng bước vươn lên, khắc phục sai lầm, khuyết điểm của cơ chế tập trung bao cấp. Tổ
chức và hoạt động thanh tra đã được kiện toàn một bước, đáp ứng bước đầu công cuộc
đổi mới đất nước. Ngày 01/10/2004, Luật thanh tra được ban hành. Đây là văn bản
pháp lý điều chỉnh tổng thể hoạt động thanh tra hiện nay, cơ quan Thanh tra Nhà nước
được đổi Thành thanh tra Chính phủ, do đồng chí Quách Lê Thanh Ủy viên trung ưong
Đảng giữ chức Tổng thanh tra nhà nước. Luật thanh tra đã phân định rõ về tổ chức,
hoạt động thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân. Đối với Thanh tra nhà nước được
chia thành hai bộ phận đó là Thanh tra hành chính và Thanh tra chuyên ngành đây là
điểm mới của Luật thanh tra năm 2004. Mỗi loại hình thanh tra có vị trí, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn riêng nhưng tất cả đều hướng vào phục vụ yêu cầu quản lý nhà

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

SVTH: Nguyễn Văn Thảo

9


Đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhà nước cấp tỉnh”

nước, nhằm góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội

hình thành. Ngoài ra, Chính phủ còn thành lập một số Đặc uỷ đoàn của Chính phủ để
trực tiếp đi kiểm tra các địa phương.
Thời kỳ Ban Thanh tra Chính phủ:

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

SVTH: Nguyễn Văn Thảo

10


Đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhà nước cấp tỉnh”

Được thành lập theo Sắc lệnh 138b-SL ngày 18/12/1949, trực thuộc Thủ tướng
Chính phủ. Ban Thanh tra Chính phủ gồm có: một Tổng Thanh tra, một Tổng thanh tra
phó, ba Thanh tra. Giúp việc Ban Thanh tra có một văn phòng và một số phái viên
thanh tra do nghị định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm.
Thời kỳ Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ:
Được thành lập theo Sắc lệnh 261-SL ngày 28/3/1956. Ban Thanh tra trung
ương của Chính phủ gồm có: một Tổng Thanh tra, hai Tổng Thanh tra Phó và một số
uỷ viên do sắc lệnh của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bổ nhiệm. Sau đó,
ở các bộ cần thiết và các khu, thành phố, tỉnh đã thành lập các Ban Thanh tra theo
Nghị định số 1194-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Từ đó, các tổ chức Thanh tra được
hình thành đặt dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của Ban Thanh tra trung ương
của Chính phủ.
Thời kỳ Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ:
- Lệnh số 18/LCT ngày 26/7/1960 công bố Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ
quy định có Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ thay cho Ban Thanh tra trung ương của
Chính phủ. Nghị định 136/CP ngày 29/9/1961 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ
chức bộ máy của Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ. Giai đoạn này có Tổng Thanh tra,

Giai đoạn này, Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ gồm có Chủ nhiệm, các Phó
Chủ nhiệm, các Uỷ viên, bộ máy giúp việc của Uỷ ban có sự thay đổi. Đến năm 1977,
gồm Văn phòng, các cụ chuyên môn, Vụ tổng hợp, Vụ Xét khiếu tổ, Vụ Tổ chức - Cán
bộ, Vụ Quản lý công tác Thanh tra nhân dân, Tr ường Cán bộ Thanh tra.
Thời kỳ Uỷ ban Thanh tra nhà nước:
Để tăng cường tổ chức Thanh tra và nâng cao hiệu lực thanh tra, Hộ đồng Bộ
trưởng đã ban hành Nghị quyết 26/HĐBT ngày 15/2/1984. Nghị quyết đã xác định hệ
thống Thanh tra các cấp gồm có:
- Uỷ ban Thanh tra nhà nước trung ương;
- Uỷ ban Thanh tra Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Uỷ ban Thanh tra nhà nước quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Ban Thanh tra nhân dân ở cơ sở.
Đó là một hệ thống tổ chức Thanh tra được quản lý thống nhất từ Trung ương
đến cơ sở. Uỷ ban Thanh tra các cấp gồm có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm, một số
uỷ viên không chuyên trách là đại diện của một số ngành quản lý tổng hợp và đoàn thể
chính trị.
Tổ chức Thanh tra ở các bộ, ngành trung ương và sở, ngành địa phương là các
Ban Thanh tra do thủ trưởng cùng cấp quản lý, chỉ đạo trực tiếp, Uỷ ban Thanh tra nhà
nước các cấp hướng dẫn về công tác, nghiệp vụ.
Bộ máy giúp việc của Uỷ ban Thanh tra nhà nước trong thời kỳ này cũng có sự
thay đổi so với quy định trên. Bổ sung thêm Tạp chí Thanh tra là đơn vị trực thuộc Uỷ
ban Thanh tra nhà nước. Năm 1983, chức năng tổng hợp được tập trung vào Văn
phòng. Năm 1988, các Vụ Thanh tra Kinh tế - Văn hoá - Xã hội và Vụ Thanh tra Xét
khiếu tố được sắp xếp lại thành các Cục Thanh tra 1 và 2, có thêm một số phái viên
thanh tra.
Thời kỳ Thanh tra nhà nước:
Ngày 01/4/1990, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký Lệnh số 33/LCT-HĐBT công
bố Pháp lệnh thanh tra và được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 29/3/1990. Pháp
lệnh đã khẳng định: “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà
nước”.

trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố bổ nhiệm; Thanh tra viên cấp II do
Tổng Thanh tra nhà nước bổ nhiệm; Thanh tra viên cấp III do Chủ tịch Hội đồng Bộ
nhiệm (nay là Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm).
Thời kỳ Thanh tra nhà nước theo Luật thanh tra năm 2004
Ngày 24/6/2004, Chủ tịch nước ký Lệnh số 11/2004/L-CTN công bố Luật
thanh tra và Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004.
Hệ thống tổ chức Thanh tra nhà nước gồm có:
- Cơ quan thanh tra được thành lập theo cấp hành chính:
+ Thanh tra Chính phủ;
+ Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Thanh tra
tỉnh);
+ Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Thanh tra
huyện).
- Cơ quan thanh tra được thành lập ở cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực:
+ Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (gọi chung là Thanh tra bô)
+ Thanh tra sở
Ngày nay, chức danh Thanh tra viên được khẳng định trong Luật thanh tra. Đã
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

SVTH: Nguyễn Văn Thảo

13


Đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhà nước cấp tỉnh”

thông qua ngày 15/6/2004. Có hiệu lực ngày 01 tháng 10 năm 2004 quy định rõ Thanh
tra viên các cấp và thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thanh tra viên do

tổ chức kinh tế, các đơn vị lực lượng vũ trang và các cá nhân tốt hay xấu; mức độ vi
phạm và nguyên nhân từ đó kiến nghị nhằm phát huy nhân tố tích cực, khắc phục kịp
thời những cơ sở, yếu kém, đề xuất biện pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

SVTH: Nguyễn Văn Thảo

14


Đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhà nước cấp tỉnh”

quản lý tốt hơn và có hiệu quả hơn. Chính vì vậy, trong hoạt động quản lý nhà nước
cần phải có thanh tra và thanh tra phải phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước.
Ở nước ta, công tác thanh tra và kiểm tra được xây dựng theo năm hệ thống và
có mối quan hệ với nhau trong toàn bộ hoạt động thanh tra, kiểm tra của nhà nước. Đó
là sự kiểm tra của Đảng, kiểm tra của cơ quan lập pháp, kiểm tra của cơ quan tư pháp,
thanh tra của cơ quan hành pháp, kiểm tra, giám sát của quần chúng nhân dân.
Trong các cơ quan hành pháp, công tác thanh tra, kiểm tra cùng tiến hành theo
nhiều hình thức hoạt động khác nhau, trong đó có hệ thống Thanh tra tỉnh. Quá trình
hình thành và phát triển của tổ chức Thanh tra nhà nước mà đặc biệt là Thanh tra tỉnh
gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ máy hành chính nhà nước. Tùy
theo yêu cầu của mọi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ của tổ chức Thanh
tra cũng có sự thay đổi nhất định.
2.2.2. Thanh tra là phương thức đảm bảo trật tự kỷ cương trong quản lý
góp phần tăng cường pháp chế Xã Hội Chủ Nghĩa
Với chức năng giám sát hoạt động của các đối tượng bị quản lý bao gồn giám
sát việc chấp hành chính sách, pháp luật, chức trách, nhiệm vụ của cơ quan hành chính
nhà nước và công chức nhà nước, việc chấp hành chính sách, pháp luật của các tổ

những nhân tố mới, cơ chế mới náy sinh và phát triển. Có như vậy thì hiệu quả công
tác quản lý mới được nâng cao và đáp ứng yêu cầu phát triển của thực tiễn.
2.2.3. Thanh tra là một phương thức góp phần bảo đảmquyền dân chủ của
nhân dân
Dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ của nhân dân được thể hiện
thông qua người đại diện của mình là nhà nước. Điều đó có nghĩa là quyền lực của nhà
nước là thuộc về nhân dân. Vì lẽ đó, Nhà nước có nghĩa vụ chăm lo, bảo vệ quyền và
lợi ích của nhân dân, tạo mọi điều kiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của
mình, tham gia quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Hiến pháp và các văn bản pháp
luật khác của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chỉ ghi nhận mà
còn có các cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân thông qua
hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
Nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đối với cơ quan nhà nước, cán bộ
công chức nhà nước thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước do mình bầu ra;
thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội – nghề nghiệp mà mình là thành viên;
thông qua các Ban Thanh tra nhân dân; thông qua vi ệc khiếu nại, tố cáo những hành vi
vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc kiểm tra,
giám sát là phương thức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân.
Các tổ chức thanh tra nhà nước tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền dân
chủ của mình thông qua việc tiếp nhận giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; thông
qua việc hỗ trợ, giúp đỡ ban thanh tra nhân dân hoạt động. Qua việc xem xét, kết luận
và kiến nghị giải quyết khiếu nại, tố cáo các tổ chức thanh tra nhà nước giúp Đảng và
Nhà nước phát hiện kịp thời những sai phạm của cán bộ, công chức, loại trừ những
biểu hiện quan liêu, mất dân chủ, thiếu công bằng, xa rời lợi ích của nhân dân. Từ đó
có các biện pháp xử lý, khắc phục, vừa góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nhân dân. Với ý nghĩa đó thanh tra không chỉ là chức năng thiết yếu của cơ quan quản
lý nhà nước mà còn là phương thức quan trọng góp phần bảo đảm quyền dân chủ của
nhân dân.
2.3. Mối quan hệ giữa thanh tra với quản lý nhà nước
Thanh tra được hình thành và hoàn thiện cùng với sự ra đời và phát triển của

La tinh: “In - Pectare”, nghĩa là nhìn vào bên trong. Từ khái niệm này cho thấy: tuy
thanh tra gắn liền với quản lý, song nó có đặc điểm riêng, không giống hoạt động của
cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ của bộ máy quản lý.
Khái niệm này cho thấy, trong hoạt động thanh tra có tính độc lập, không phụ
thuộc vào ý chí chủ quan của người quản lý. Đây là vấn đề có liên quan đến việc xác
định vị trí tổ chức Thanh tra, trình tự, thủ tục thanh tra. Tính độc lập về vị trí thể hiện
qua việc thiết kế mô hình tổ chức Thanh tra, trình tự, thủ tục thanh tra. Tính độc lập
về vị trí thể hiện qua việc thiết kế mô hình tổ chức Thanh tra. Đó là tổ chức của cơ
quan cấp trên đối với cấp dưới, tổ chức Thanh tra từ bên ngoài đối với hệ thống quản
lý; độc lập về các điều đảm bảo cho hoạt động thanh tra chỉ tuân theo pháp luật v.v…
Từ các khái niệm trên cho thấy thanh tra xuất phát từ yêu cầu hoạt động quản lý của
Nhà nước, song để mang lại cho chủ thể quản lý những thông tin khách quan thì nó
phải hoạt động độc lập. Tính độc lập của thanh tra thể hiện trong quá trình thu thập,
phân tích, xử lý, đưa ra các kiến nghị. Mặt khác, thanh tra lại gắn liền với quản lý,
phục vụ trực tiếp yêu cầu, mục tiêu quản lý. Do đó, tổ chức Thanh tra không thể tách
ra một cách biệt lập với hệ thống tổ chức quản lý. Vấn đề cơ bản ở đây là cần có cơ
chế hoạt động, các chế định pháp luật nhằm khắc phục sự can thiệp chủ quản, tuỳ tiện
của chủ thể quản lý vào hoạt động thanh tra, làm cho thông tin thanh tra thiếu chính
xác.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

SVTH: Nguyễn Văn Thảo

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status