TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
Luận văn tốt nghiệp
(Niên khóa 2008-2012)
Đề tài:
Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy
định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Văn Khuê
Lê Thị Trinh
Mssv: 5086009
Lớp: Luật Hành Chính k34
Cần Thơ, tháng 05/2012
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài ...........................................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài....................................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài............................................................................3
5. Bố cục của đề tài .................................................................................................4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG THỪA KẾ VÀ THỜI HIÊU KHỞI
KIỆN VỀ THỪA KẾ
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
1.3. Lược sử và sự phát triển của các chế định thời hiệu khởi kiện trong pháp luật
Việt Nam.........................................................................................................22
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1990 .............................................22
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1991 đến trước năm 1996 .............................................23
1.3.3. Giai đoạn từ năm 1996 đến trước năm 2006 .............................................24
1.3.4. Giai đoạn từ năm 2006 đến nay ................................................................25
CHƯƠNG 2: THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ THỪA KẾ TRONG HỆ THỐNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
2.1. Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế của người thừa kế trong một số trường
hợp cụ thể........................................................................................................27
2.1.1. Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế..........27
2.1.2. Thời hiệu khởi kiện để người người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền
thừa kế của mình ..................................................................................28
2.1.3. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người
khác......................................................................................................29
2.2. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản
của người chết để lại........................................................................................32
2.3. Những trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế .....................35
2.3.1. Trường hợp áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung
trong điểm a, Tiểu mục 2.4, Mục 2, Phần I, Nghị quyết số 02/2004 .....35
2.3.2. Trường hợp di sản thừa kế không do người thừa kế trực tiếp quản lý,
sử dụng được quy định trong điểm b, Tiểu mục 2.4, Mục 2, Nghị
quyết số 02/2004...................................................................................39
2.4. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện và bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện
về vụ án dân sự, việc dân sự nói chung và thừa kế nói riêng............................40
2.4.1. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện về vụ án dân sự nói
chung và thừa kế nói riêng....................................................................41
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
Trang 3
SVTH: Lê Thị Trinh
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Như một tất yếu, con người sinh ra, tồn tại cần phải có những lợi ích vật chất
để đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở… của mình. Vì thế, điều duy nhất và cần thiết trước
hết mà con người cần phải làm đó là lao động để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho
chính xã hội nói chung và con người nói riêng. Song để biến lao động thành một hoạt
động tự giác, phát huy được tính năng động, sáng tạo của người lao động thì xã hội
phải quan tâm tới lợi ích của họ. Chính vì thế, chế định quyền thừa kế nói chung và
chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế nói riêng ra đời là một trong những phương
thức pháp lý cần thiết để bảo toàn và gia tăng tích lũy của cải trong xã hội.
Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan
trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các
quyền của công dân, trong chế định thừa kế thì chế định thời hiệu khởi kiện về thừa
kế đã trở thành một chế định không thể thiếu được đối với đời sống của mỗi cá
nhân, gia đình, cộng đồng xã hội. Một khi pháp luật đã cho mọi người một quyền
năng nhất định đó là quyền khởi kiện thì mọi người cần phải tuân thủ đúng những
quy định trong khoảng thời gian được phép thực hiện điều đó; và pháp luật dân sự
về thời hiệu khởi kiện đã cho phép những người thừa kế khởi kiện về quyền thừa kế
xâm phạm quyền được hưởng thừa kế của công dân, quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
do người chết để lại, điều này xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của những người
thừa kế cũng như các chủ nợ.
Trong thời gian gần đây nhiều văn kiện của Đảng như Nghị quyết 48 về chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, Nghị quyết số 08
của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác cải cách tư pháp trong
thời gian tới, đã xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu, sự cần thiết phải hoàn thiện hệ
thống pháp luật trong thời kỳ đổi mới, trong đó có pháp luật về thừa kế nói chung
và thời hiệu khởi kiện về thừa kế nói riêng.
Xuất phát từ những lý do trên, người viết đã chọn đề tài: “Thời hiệu khởi kiện
về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành- Lý luận và thực tiễn”
để làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình. Đây là một đề tài có ý nghĩa quan
trọng cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài “Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành- Lý luận và thực tiễn” nhằm làm sáng tỏ những quy
định của pháp luật có liên quan đế chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế và đánh
giá thực trạng việc áp dụng những quy định này trong cuộc sống thường nhật. Trên
cơ sở đó, nêu lên những quan điểm, giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong
việc áp dụng pháp luật về thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn là một công trình nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề có liên
quan đến chế định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế qua các giai đoạn lịch sử, để
phân tích đưa ra những nhận định, đánh giá nhằm làm sáng tỏ quá trình phát triển
và thực trạng áp dụng của pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn cụ thể. Từ những
nhận xét, đánh giá sự phát triển và thực trạng áp dụng pháp luật thời hiệu khởi kiện
về thừa kế ở Việt Nam, tham khảo một số quan điểm của nhà luật học, Thẩm
phán… Luận văn đã đưa ra các quan điểm, giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những
bất cập trong những quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan và thực tiễn áp
dụng của chế định này.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Để hoàn thành luận văn người viết chủ yếu sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu như sau:
*Phương pháp phân tích, tổng hợp: Người viết dựa trên các điều khoản của
pháp luật về thời hiệu khởi kiện về thừa kế để phân tích nó ra thành những yếu tố
đơn giản để nghiên cứu và làm sáng tỏ vấn đề, sau đó tổng hợp các vấn đề có liên
quan được phân tích.
*Phương pháp so sánh, đối chiếu: Người viết vận dụng phương pháp này để
so sánh những điểm giống nhau cũng như khác nhau của pháp luật về thời hiệu
khởi kiện về thừa kế qua các thời kỳ. Bên cạnh đó, đối chiếu giữa lý luận và thực
tiễn để tìm ra và giải quyết những hạn chế, bất cập trong chế định này.
*Phương pháp thu thập nghiên cứu tài liệu: Thu thập và nghiên cứu tài liệu
là một công việc quan trọng trong bất kỳ một hoạt động nghiên cứu nào, để thuận
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
Trang 6
SVTH: Lê Thị Trinh
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
tiện cho việc nghiên cứu đề tài, người viết đã tiếp thu cũng như là thu thập từ nhiều
tài liệu khác nhau như: sách bình luận khoa học về thừa kế, giáo trình, tạp chí… để
hỗ trợ cho trong quá trình nghiên cứu.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn còn có
phần nội dung nghiên cứu được cơ cấu thành 3 chương:
* Chương 1. Những vấn đề chung về thừa kế và thời hiệu khởi kiện về thừa
SVTH: Lê Thị Trinh
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỪA KẾ VÀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN
VỀ THỪA KẾ
1.1. Những vấn đề chung về thừa kế
1.1.1. Khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế
1.1.1.1. Khái niệm thừa kế
Thừa kế, với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm móng và xuất hiện ngay
trong thời kì sơ khai của xã hội loài người. Ở thời kỳ này, việc thừa kế nhằm di
chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống được tiến hành dựa trên
quan hệ huyết thống và phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định.
Nghiên cứu về thừa kế Ăng Ghen viết “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào
mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo phong tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc
chết. Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại có giá trị lớn, nếu lâu nay
trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó đó cho những bà con thân thích
nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người”1. Quan hệ thừa kế là
một quan hệ pháp luật, xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và phát triển cùng
với sự phát triển của xã hội loài người. Do vậy, sở hữu cũng là một yếu tố khách
quan xuất hiện ngay từ khi có xã hội loài người và cùng với thừa kế, chúng phát
triển cùng với xã hội loài người.
Ở nước ta, thừa kế là một trong những vấn đề lớn nhất của pháp luật dân sự.
Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã dành
hẳn phần thứ tư gồm 5 chương để nói về nó (chưa kể các điều luật liên quan đến
thừa kế quyền sử dụng đất); các nghiên cứu trong luật thực định luôn chiếm tỷ trọng
cao trong tổng “khối lượng” công trình nghiên cứu luật học dân sự. Chính vì thừa
chết gọi là người để lại di sản, người được hưởng tài sản của người chết gọi là
người thừa kế.
Khái niệm quyền thừa kế là một phạm trù pháp luật mà nội dung của nó xác
định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế. Theo điều
631 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền thừa kế của cá nhân như sau: “Cá
nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình
cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc pháp luật.”3.
Xuất phát điều luật này ta có thể hiểu quyền thừa kế như sau: “Quyền thừa kế là một
chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc
chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của người chết cho người khác theo di
chúc hoặc theo pháp luật, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương
thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ đó”. Ngoài ra, dưới góc độ thu hẹp, quyền thừa
kế được hiểu là quyền năng để người đó có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản
của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng theo di
sản theo di chúc hoặc pháp luật. Như vậy, quyền để lại di sản của người có tài sản
cho người thừa kếvà quyền hưởng di sản thừa kế là hai nội dung cơ bản của quyền
thừa kế được pháp luật công nhận và bảo vệ.
1.1.2. Các nguyên tắc của quyền thừa kế
1.1.2.1. Nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế của cá nhân và bình đẳng
về thừa kế
* Nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế của các nhân:
Quan hệ thừa kế là một quan hệ xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và
đồng thời có mối quan hệ mật thiết với quan hệ sở hữu, điều này được thể hiện ở
chỗ: nếu quyền sở hữu là tiền đề để quyền thừa kế phát sinh thì ngược lại, quyền
thừa kế là phương tiện để duy trì và cũng cố và phát triển quyền sở hữu tài sản. Tại
Điều 58 Hiến pháp năm 1992 quy định “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp
và quyền thừa kế của công dân”. Điều này cho thấy rằng quyền sở hữu và quyền
3
di chúc cho hưởng di sản thì không ai có quyền hạn chế quyền được hưởng di sản
của họ (trừ trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc)4,
và nếu như người chết không muốn định đoạt tài sản bằng di chúc cho họ thì họ có
quyền hưởng di sản theo pháp luật nếu họ thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của
người chết. Ta thấy rằng, đây là phương diện bảo hộ quyền thừa kế của người thừa
kế đó là quyền được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật và
nếu như người thừa kế không muốn nhận di sản thừa kế vì một số lý do nào đó thì
họ có quyền từ chối nhận di sản thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự năm
4
Điều 669, Bộ luật Dân sự năm 2005:
Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, nếu di
sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ
cho hưởng ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều
642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1, Điều 643 của Bộ luật
này:
1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng:
2. Con đã thành niên không có khả năng lao động
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
Trang 10
SVTH: Lê Thị Trinh
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực
hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập bằng văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế
khác, người được gia cho nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.
3. Thời hạn từ chối di sản thừa kế là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa
kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế
6
Điều 5, Bộ luật Dân sự năm 2005: Nguyên tắc bình đẳng
Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành
phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình
đẳng với nhau.
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
Trang 11
SVTH: Lê Thị Trinh
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
phải để lại cho con” (Điều 360 Dân luật Bắc kì và Điều 359 Dân luật Trung kì).
Như vậy, ta thấy rằng dưới thời Pháp thuộc có sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, sự
bất bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ thừa kế một cách rõ rệt.
Nguyên tắc bình đẳng về thừa kế thể hiện nguyên tắc Hiến định “Mọi người
đều bình đẳng trước pháp luật”. Mục đích của nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho
mọi thanh viên trong gia đình bình đẳng với nhau, cùng nhau đoàn kết, xây dựng
gia đình ấm no hạnh phúc phù hợp với nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân
dân, cũng như phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống dân tộc của nhân dân
hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép, hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả
mạo di chúc; sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của
người để lại di sản.
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
Trang 12
SVTH: Lê Thị Trinh
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
phải là người thừa kế theo pháp luật do đã bị tước quyền thừa kế. Những người từ
chối nhận di sản hợp pháp cũng không được hưởng thừa kế di sản (có thể là từ chối
theo di chúc hoặc theo pháp luật hoặc từ chối theo di chúc và pháp luật). Người
thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự không thể nhường quyền hưởng di sản
cho người thừa kế khác, như đã từng được quy định tại Điều 31 Pháp lệnh Thừa kế
năm 19909.
Bên cạnh đó, song song với việc người thừa kế phải còn sống vào thời điểm
mở thừa kế thì tổ chức cũng phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Đó là trường
hợp người thừa kế là tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc, nếu như tổ chức bị
không còn tồn tại ở thời điểm mở thừa kế thì cũng không được quyền hưởng di sản
thừa kế từ di chúc của người chết. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 các
pháp nhân cùng loại có thể bị chấm dứt khi sáp nhập, hợp nhất, chia.10 Trong những
trường hợp này, pháp nhân không chấm dứt tuyệt đối mà quyền và nghĩa vụ của nó
được chuyển giao cho các pháp nhân khác. Mặc dù, quyền và nghĩa vụ không chấm
dứt tuyệt đối nhưng đối với nhưng trường hợp này thì pháp nhân không có quyền
hưởng thừa kế, bởi một khi những pháp nhân này bị sáp nhập, hợp nhất hoặc bị chia
SVTH: Lê Thị Trinh
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
như pháp nhân bị giải thể hoặc phá sản thì cũng sẽ không được hưởng di sản thừa
kế theo di chúc của người chết.
1.1.2.3. Nguyên tắc người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do
người chết để lại
Pháp luật Việt Nam không quy định về độ tuổi và năng lực nhận di sản thừa kế
mà chỉ quy định quyền của cá nhân được hưởng di sản và thực hiện một số nghĩa vụ
nhất định về tài sản. Do vậy, người có năng lực hành vi hay không có năng lực hành
vi dân sự đều được nhận di sản thừa kế theo pháp luật phần ngang nhau nếu họ cùng
thuộc hàng thừa kế được hưởng. Tuy nhiên, song song với quyền thừa kế của người
thừa kế là các nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại.
Người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại. Người
hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại. Theo quy
định này, việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại thuộc về người hưởng di sản,
nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại mà người hưởng di sản thực hiện được hiểu
là người thừa kế kế quyền tài sản đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của
người chết để lại trong phạm vi di sản thừa kế. Di sản thừa kế là những tài sản của
người chết để lại được chia cho những người có quyền hưởng theo di chúc hoặc
theo pháp luật. Tuy nhiên, những quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân
thân người chết thì không phải là di sản thừa kế, vì nghĩa vụ gắn liền với nhân thân
người chết chấm dứt cùng thời điểm mở thừa kế. Người hưởng di sản theo quy định
của pháp luật phải chỉ thanh toán nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại trong
phạm vi di sản của người đó, khi nhận thừa kế thì các chủ nợ của người chết cũng
không có quyền đòi quá số di sản để lại. Và người thừa kế phải có trách nhiệm thực
hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại theo Điều 637 Bộ luật Dân sự năm
vừa qua, với những chính sách đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần… đến nay thành phần, khối lượng, giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu tư nhân –
nguồn của di sản thừa kế ngày một phong phú, nhiều hơn và lớn hơn. Theo quy
định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có
giá và các quyền tài sản”. Từ quy định này ta có thể hiểu rằng tài sản có khá nhiều
hình thức tồn tại, chính vì thế di sản thừa kế cũng tồn tại ở nhiều hình thức khác
nhau trong thực tế.
Tuy nhiên, về di sản thừa kế có nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí ngay
trong pháp luật qua mỗi thời kì cũng quy định khác nhau. Theo hướng dẫn của
Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1982 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn
giải quyết các tranh chấp về thừa kế tại mục II thì di sản thừa kế không những bao
gồm những tài sản, quyền tài sản mà còn bao gồm nghĩa vụ của một người đã chết
được dịch chuyển cho người thừa kế hợp pháp của người đó. Cho đến khi Bộ luật
Dân sự năm 1995 ra đời, di sản thưa kế đã được quy định cụ thể tại điều tại Điều
637 như sau: “Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản
riêng của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Quyền sử dụng đất
cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm
của Bộ luật này”, theo quy định này ta có thể hiểu rằng di sản thừa kế chỉ bao gồm
tài sản, quyền tài sản của người để lại di sản mà không bao gồm những nghĩa vụ tài
sản của họ. Đến khi Bộ luật dân sự năm 2005 ra đời thì tại Điều 634 đã bỏ quy định
tại đoạn hai của Điều luật tương ứng và chỉ quy định thành một đoạn: “Di sản bao
gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản riêng của người chết trong khối tài
sản chung với người khác”. Ta có thể liệt kê di sản thừa kế trong quy định này bao
gồm tiền bảo hiểm, quyền sử dụng rừng, quyền sử dụng đất…. Điều này không có
nghĩa là từ nay pháp luật không thừa nhận quyền sử dụng đất là một di sản. Quyền
3. Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết
để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuân khác.
4. Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì phải thực hiện nghĩa vụ
tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.
pháp luật”13. Hoặc là “Tài sản riêng của người chết là tài sản mà người đó có được
từ các căn cứ xác lập quyền sở hữu hợp pháp”14. Theo quy định tại khoản 1, Điều
212, Bộ luật Dân sự năm 2005 thì tài sản riêng của người chết bao gồm: “Thu nhập
hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi,
lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức sở hữu
tư nhân. Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số
lượng, giá trị”.
Như vậy, có thể hiểu tài sản riêng của người chết là phần tài sản về phương
diện pháp lý không bị chi phối hay phải chịu một ràng buộc nào với các chủ thể
khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và thực hiện quyền định đoạt. Tất cả các tài sản
riêng của người chết không phân biệt tư liệu sản xuất hay tư liệu tiêu dùng, không
13
14
TS. Phan Trùng Lập: Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, 2008, tr.31.
TS. Lê Đình Nghị: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam- tâp 1, Nxb.Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.242.
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
Trang 16
SVTH: Lê Thị Trinh
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
phân biệt là vật, tiền, giấy tờ có giá hay quyền tài sản nếu thuộc quyền sở hữu hợp
pháp của người đó thì đều trở thành di sản thừa kế.
Di sản thừa kế là phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với
người khác: Bên cạnh việc quy định tài sản riêng của người chết là di sản thì pháp
16
Điều 217, Bộ luật Dân sự năm 2005: Sở hữu chung hợp nhất
1. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung
không được xác định đối với tài sản chung.
Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất
không phân chia.
1. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
Trang 17
SVTH: Lê Thị Trinh
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
với tài sản chung hợp nhất không thể phân chia như: sở hữu chung của cộng đồng
(Điều 220 Bộ luật Dân sự năm 2005), sở hữu chung trong nhà chung cư (Điều 225
Bộ luật Dân sự năm 2005)… thì không thể xác định được là di sản thừa kế cho nên
khi có một người chết đi thì tài sản đó thuộc quyền sở hữu của những chủ thể còn
lại chứ không thể xác định là di sản thừa kế của người chết.
Lưu ý: Khi xác định di sản thừa kế, sự cần thiết phải xác định đúng tài sản nào
là di sản thừa kế, loại tài sản nào không phải là di sản thừa kế để tránh những tranh
chấp do có sự hiểu lầm bản chất của di sản thừa kế, chẳng hạn như đối với những
quyền tài sản gắn liền với nhân thân của người để lại di sản như: quyền của người
để lai di sản khi còn sống được hưởng lương hưu, hưởng trợ cấp thương tật… thì
không thuộc di sản thừa kế. Bởi vì những quyền này chấm dứt khi người để lại di
sản chết và thể chuyển giao được cho những người thừa kế. Ngược lại những tài sản
mà người để lại di sản được hưởng từ những quyền nhân thân khi còn sồng thì
thừa kế của người chết để lại. Vì vậy, việc xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu
của người thừa kế đối với di sản thừa kế sẽ được áp dụng dựa vào nguyên tắc chung
về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản được quy định tại Điều 168 Bộ
luật Dân sự năm 2005. Theo đó, thời điểm xác lập quyền sở hữu của người người
thừa kế từ khi họ nhận được di sản (đối với tài sản mà pháp luật không yêu cầu phải
đăng ký quyền sở hữu) hoặc từ khi hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với di
sản thừa kế (đối với những tài sản mà pháp luật bắt buộc phải đăng ký quyền sở
hữu)17.
1.1.4. Thời điểm mở thừa kế và địa điểm mở thừa kế
1.1.4.1. Thời điểm mở thừa kế
Pháp luật dân sự quy định thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản
chết (khoản 1, Điều 633 Bộ luật Dân sự năm 2005), việc xác định thời điểm mở
thừa kế có ý nghĩa rất quan trọng, vì thời điểm đó xác định được chính tài sản,
quyền và nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản gồm có những gì. Tuy nhiên,
trên thực tế có người chết mà không xác định được ngày người đó chết, pháp luật
quy định trường hợp này tại khoản 2 Điều 81 Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo đó,
ngày chết của người mà tòa án tuyên bố là đã chết bằng một bản án thì thời điểm
mở thừa kế của người này là ngày bản án tuyên bố người này chết có hiệu lực pháp
luật. Ngoài ra, thời điểm mở thừa kế còn là căn cứ xác định những người thừa kế
của người đã chết, vì người thừa kế phải là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa
kế hoặc sinh ra và còn sống vào thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi
người để lại di sản chết.
Việc xác định chính xác thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa rất quan trọng đối
với các vấn đề về thừa kế cụ thể như sau:
Thứ nhất, là căn cứ để xác định tài sản và nghĩa vụ về tài sản do người chết để
lại, nhờ vào thời điểm mở thừa kế mà chúng ta có thể xác định di sản của người chết
để lại gồm có những gì và đến khi chia thừa kế còn bao nhiêu. Do đó, cần phải xác
định chính xác ngày mở thừa kế. Ngoài ra, dựa vào thời điểm mở thừa kế mà những
người thừa kế có thể yêu cầu những người gây thiệt hại cho di sản thừa kế phải bồi
kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị quy định tại Điều 677 của Bộ
luật này" (Điều 641 Bộ luật Dân sự năm 2005).
Thứ ba, thời điểm người có tài sản chết là thời điểm di chúc phát sinh hiệu lực
pháp luật, di chúc được mang ra thực hiện theo ý chí của người người lập di chúc.
Chính vì vậy việc xác định thời điểm mở thừa kế rất quan trọng trong việc xác định
hiệu lực của di chúc. Hơn thế nữa, thời điểm mở thừa kế có vai trò quan trọng trong
việc xác định quyền từ chối nhận di sản, vì theo khoản 3 Điều 642 Bộ luật Dân sự
năm 2005 thì người thừa kế chỉ có quyền từ chối nhận di sản trong vòng 6 tháng kể
từ ngày mở thừa kế, nếu sau 6 tháng đó mà người thừa kế không từ chối nhận di sản
thì xem như đồng ý nhận thừa kế.
Thứ tư, thời điểm mở thừa kế là căn cứ để bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện về
thừa kế theo quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2005 và thời điểm mở thừa
kế còn là thời điểm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế theo Điều
636: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài
sản do người chết để lại”.
Tóm lại: Thời điểm mở thừa kế giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
xác định các vấn đề liên quan đến thừa kế như trên nên việc xác định chính xác thời
điểm mở thừa kế là một việc làm hết sức cần thiết. Nếu chúng ta không xác định
chính xác thời điểm mở thừa kế sẽ dẫn đến việc xác định không đúng những vấn đề
về thời hiệu. Từ đó dẫn đến việc chia thừa kế cho những người không có quyền
hưởng di sản thừa kế hoặc bỏ sót những người có quyền thừa kế.
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
Trang 20
SVTH: Lê Thị Trinh
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
1.2.1. Quyền khởi kiện về thừa kế của cá nhân
Pháp luật trên thế giới nói chung và Việt Nam chúng ta nói riêng đều ghi nhận
rằng có nhân có quyền yêu cầu công lý can thiệp để bảo vệ quyền lợi của mình và
quyền khởi kiện của cá nhân về thừa kế là một trong những quyền cơ bản của cá
nhân được pháp luật thừa nhận.
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
Trang 21
SVTH: Lê Thị Trinh
Đề tài: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhLý luận và thực tiễn
Hiện nay, quyền khởi kiện vụ án là một trong những quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua
người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (gọi chung là người khởi kiện) tại tòa án
có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy,
người thừa kế là người được thừa hưởng tài sản của người chết để lại theo chỉ định
trong di chúc hoặc theo quy định của pháp luật thì khi quyền hưởng di sản thừa kế
của họ bị xâm phạm thì họ có quyền khởi kiện về thừa kế để bảo vệ lợi ích chính
đáng cho họ.
1.2.2. Khái niệm thời hiệu và thời hiệu khởi kiện về thừa kế
1.2.2.1. Khái niệm thời hiệu khởi kiện
Xét về phương diện xã hội, thời hiệu là phương tiện được sử dụng nhằm ổn
định tình trạng hiện hữu của các quan hệ xã hội sau một thời gian nào đó vì lợi ích
của thương mại hay pháp lý. Và về mặt pháp lý, việc kiện tụng không thể thực hiện
một cách vô hạn định mà cần phải thực hiện trong thời hạn mà nhà lập pháp ấn
định. Do vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã định nghĩa về thời hiệu khởi