LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại CHẾ tài PHẠT VI PHẠM TRONG hợp ĐỒNG THƯƠNG mại - Pdf 48

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2007 - 2011

Đề tài

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI

Giảng viên hướng dẫn:
Th.s Nguyễn Mai Hân
Bộ môn Thương Mại

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Đức Triệu
MSSV: 5075074
Lớp: LK0764A1

Cần Thơ, tháng 5 năm 2011

================================================================
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
trang
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI


================================================================
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

Nhận xét của giảng viên hướng dẫn
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………....
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………....
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………....
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………....
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………....
………………………………………………………………………………

trang 2
6. Kết cấu đề tài
trang 2
PHẦN NỘI DUNG
trang 4
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG
HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
trang 4
1.1 Giới thiệu chung về hợp đồng thương mại
trang 4
1.1.1 Khái quát về thuật ngữ thương mại
trang 4
1.1.2 Khái niệm về hợp đồng
trang 5
1.1.3 Đặc điểm của hợp đồng thương mại
trang 8
1.1.4 Nội dung của hợp đồng thương mại
trang 10
1.1.5 Hình thức của hợp đồng thương mại
trang 12
1.2 Khái quát chung về chế tài phạt vi phạm
trang 15
1.2.1 Khái niệm chế tài phạt vi phạm
trang 15
1.2.1.1 Khái niệm chế tài
trang 15
1.2.1.2 Khái niệm chế tài phạt vi phạm
trang 16
1.2.2 Đối tượng áp dụng của chế tài phạt vi phạm
trang 17



CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

2.1.3.4 Xảy ra sự kiện bất khả kháng
trang 31
2.2 Thực tiễn việc áp dụng phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại và giải pháp
hoàn thiện
trang 33
2.2.1 Thực tiễn áp dụng chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại..............
trang 33
2.2.2 Giải pháp hoàn thiện
trang 43
PHẦN KẾT LUẬN
trang 49
Danh mục tài liệu tham khảo
LỜI CÁM ƠN

================================================================
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trong xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường trên phạm vi toàn
cầu, hợp đồng thương mại ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình và trở

CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

2. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm nắm rõ khái niệm về thương mại, hợp đồng thương
mại, chế tài và phân loại chế tài. Hiểu và nắm được các quy định của pháp luật về việc
áp dụng phạt vi phạm, các điều kiện áp dụng của phạt vi phạm, bên cạnh đó, nhận thức
được sự khác nhau và giống nhau giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
Giải quyết những vụ án liên quan đến chế tài phạt vi phạm, đưa ra phương hướng riêng
để giải quyết những điểm chưa phù hợp của chế tài phạt vi phạm trong hoạt động
thương mại.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, người viết chỉ tập trung nghiên cứu chế tài phạt vi phạm được
quy định trong Luật Thương mại 2005, đồng thời người viết cũng dựa vào Bộ luật dân
sự năm 2005 để làm rõ chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng.
4. Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, bài viết này tập trung phân tích các
quy định pháp lý về khái niệm, đặc điểm của chế tài phạt vi phạm, so sánh giữa phạt vi
phạm và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, những vấn đề liên quan đến phạt vi
phạm và một số ý kiến nhằm làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý về phạt vi phạm.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ vấn đề được đặt ra, người viết sử dụng các phương pháp phương
pháp sau đây:
-

Phương pháp phân tích luật viết được sử dụng để tìm hiểu các quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành.

-

Phương pháp so sánh, đối chiếu được vận dụng để đối chiếu với các quy

chế tài phạt vi phạm, nghiên cứu và phân tích mức phạt vi phạm, phân tích so sánh mối
quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Người viết tập trung nghiên
cứu, phân tích các tình huống cụ thể của việc áp dụng chế tài phạt vi phạm trong hợp
đồng. Bên cạnh đó đưa ra hướng giải quyết thực tế, đề nghị giải pháp hoàn thiện của
chế tài phạt vi phạm nói chung và mức phạt vi phạm nói riêng.

================================================================
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
trang 3
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI

1.1 Giới thiệu chung về hợp đồng thương mại
1.1.1 Khái quát về thuật ngữ thương mại
Việc trao đổi hàng hóa, mua bán hàng hóa đã xuất hiện cách đây hàng nghìn năm,
ban đầu đó là những hành vi trao đổi giữa hàng hóa với hàng hóa nhằm mục đích phục
vụ cho cá nhân, gia đình, sau đó dần nâng lên ngoài việc trao đổi hàng hóa này lấy
hàng hóa khác, còn có hành vi mua bán hàng hóa lấy một vật ngang giá chung (vỏ sò,
bạc, vàng,...), từ vật ngang giá chung đó, người ta lại có thể mua lại những hàng hóa
cần thiết khác. Có thể nói hoạt động thương mại đã xuất hiện khá lâu đời, nhưng vào
thời điểm đó, thương mại vẫn chưa có một khái niệm cụ thể. Như vậy theo nghĩa chung
nhất “thương mại” là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ
v.v giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông
qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi

UNCITRAL năm 1985.
Theo Luật Thương mại năm 1997 khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa hẹp,
chỉ bao gồm 14 hành vi mua bán hàng hóa và dịch vụ liên quan trực tiếp đến mua bán
hàng hóa. Thậm chí đối tượng của việc mua bán hàng hóa cũng bị giới hạn ở các động
sản, chủ yếu là các máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu phục vụ sản xuất, tiêu dùng,
các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình
thức cho thuê, mua bán3. Với định nghĩa thương mại theo luật Thương mại năm 2007,
rõ ràng nó đã bó hẹp các phạm vi của giao dịch, thật sự còn nhiều hạn chế vì chưa đủ
tiến bộ so với các quy định về thương mại trên thế giới.
Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra khái niệm thương mại “Hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” 4. và
phạm vi điều chỉnh theo nghĩa rộng. Khái niệm này đã được tiếp cận theo đúng bản
chất thương mại, tức gắn liền với “hoạt động nhằm mục đích sinh lời”. Điều này tạo cơ
sở quản lý quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc
tế của Việt Nam. Cụ thể hơn hoạt động thương mại là hoạt động kinh doanh thương
mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi
nhuận bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý, ký
gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, vận chuyển hàng hóa, khách
hàng bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa, mua bán cổ phiếu và giấy tờ có
giá khác, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác; là quyền chuyển

2
3
4

Khoản 3 Điều 2 Luật Doanh Nghiệp 1999.
Điều 5 Luật Thương Mại năm 1997.
Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005.


5

6

Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2004.
Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự.
Hợp đồng thương mại là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện
công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận
khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện
kế hoạch của mình.
Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công,
điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

================================================================
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
trang 6
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

bản chất, tức là đều phản ánh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa tiền tệ, nội
dung đều là những hành vi mua bán và trao đổi các lợi ích vật chất, chủ thể của chúng
đều là pháp nhân, cá nhân và các chủ thể khác. Trên thực tế, việc áp dụng luật hợp
đồng đã gặp không ít khó khăn và đã từng có những vụ việc mà dựa vào pháp luật hiện
hành mỗi cơ quan có thểm quyền xử lí theo mỗi cách7. Bộ luật dân sự năm 2005 được
ban hành, thay thế Bộ luật dân sự năm 1995 và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày
29/9/1989 (văn bản quan trọng nhất của hệ thống pháp luật hợp đồng kinh tế lúc bấy


================================================================
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
trang 7
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

đều tồn tại khách quan và độc lập tương đối với nhau; những thuộc tính vốn có của hợp
đồng dân sự được biểu hiện cụ thể trong hợp đồng thương mại, đồng thời hợp đồng
thương mại cũng có những đặc thù riêng của nó.
Đối với pháp luật của các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa như
Pháp, Đức và các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này (ví dụ: Bỉ, Tây
Ban Nha, một số nước ở châu Mỹ La tin,...) phân biệt khá rõ ràng giao dịch dân sự và
giao dịch thương mại. Những nước này xem hợp đồng là dạng của giao dịch khi có sự
thống nhất ý chí của hai hay nhiều người nên pháp luật không đưa ra khái niệm về hợp
đồng thương mại mà chỉ có khái niệm giao dịch thương mại (hành vi thương mai), theo
đó, mọi giao dịch gắn liền với hoạt động thương mại của thương nhân được xem là
giao dịch thương mại và chịu sự điều chỉnh riêng của pháp luật thương mại.10
Đối với các nước theo truyền thống pháp luật Anh – Mỹ như Anh, Mỹ, các nước
chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này và một số nước Châu Âu như Ý, Hà
Lan, Thụy Sỹ không phân biệt luật dân sự và pháp luật thương mại và cũng không
phân biệt hành vi thương mại với hành vi dân sự, lại càng không phân biệt hợp đồng
thương mại với hợp đồng dân sự. Pháp luật của các nước theo truyền thống Anh – Mỹ
hoàn toàn không có khái niệm hợp đồng, hợp đồng thương mại, hợp đồng dân sự, ngay
cả khái niệm hợp đồng nói chung cũng được hình thành từ án lệ. Hệ thống án lệ Anh
quan niệm hợp đồng là một hoặc nhiều cam kết (promise) mà nếu bên đưa ra cam kết
vi phạm thì phải chịu các chế tài. Cơ sở hình thành hợp đồng là một hoặc nhiều lời cam
kết tự nguyện nhận về mình những nghĩa vụ pháp lý nhất định. Còn theo hệ thống án lệ

thương mại: các bên hoặc ít nhất một bên của hợp đồng phải là thương nhân12, các chủ
thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng
các điều kiện theo quy định của pháp luật13. Theo Bộ luật thương mại Đức chỉ cần một
bên hợp đồng là thương nhân thực hiện hoạt động thương mại thì có thể áp dụng pháp
luật thương mại đối với hợp đồng này. Đối với Bộ luật thương mại Pháp xem hợp
đồng có cả hai bên chủ thể là thương nhân là hợp đồng thương mại; nếu chỉ có một
bên là thương nhân, bên kia không phải là thương nhân thì đó là hợp đồng hỗn hợp và
nếu có tranh chấp xảy ra từ hợp đồng này thì bên không phải là thương nhân được
quyền lựa chọn kiện thương nhân tại tòa dân sự thẩm quyền chung hoặc tòa thương
mại, trong khi nếu thương nhân kiện bên không phải là thương nhân thì chỉ có thể kiện
ở tòa dân sự có thẩm quyền chung mà thôi.14
Một đặc điểm nổi bật của hợp đồng thương mại, đó là mục đích tìm kiếm
lợi nhuận thường xuyên của một hoặc các bên tham gia hợp đồng. Bộ luật thương mại
Đức nhấn mạnh rằng hợp đồng thương mại là những hợp đồng được thực hiện trong
khuôn khổ nghề thương mại một cách hệ thống, chuyên nghiệp và nhăm mục đích
kiếm lời. Đối với Bộ luật thương mại Pháp xem hợp đồng thương mại là hợp đồng do
thương nhân thực hiện trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm
lợi nhuận thường xuyên. Đối với Việt Nam, việc thực hiện hợp đồng thương mại phải
tiến hành đúng theo các quy định của pháp luật, trong khuôn khổ ngành nghề đăng ký

11

TS. Vũ Thị Lan Anh Hợp đồng thương mại và pháp luật về hợp đồng thương mại của một số nước trên thế
giới, Tạp chí Luật học số 11/2008, trang 37.
12
Khoản 3 Điều 1 Luật Thương Mại ngày 14/6/2005
13
Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự ngày 24/6/2004.
14
TS. Vũ Thị Lan Anh, Vấn đề chung về hợp đồng thương mại, Tạp chí Luật học số 11/2008, trang 6

bên liên quan đối với những vấn đề quan trọng và thể hiện thông qua một quá trình mà
mọi quan điểm của các bên liên quan đều phải được xem xét và dung hoà được tất cả
các tranh chấp; là việc các bên (cá nhân hay tổ chức) có ý định chung tự nguyện cùng
nhau thực hiện những nghĩa vụ mà họ đã cùng nhau chấp nhận vì lợi ích của các bên.
Sự đồng tình tự nguyện này có thể chỉ được tuyên bố miệng và được gọi là thoả thuận
quân tử (hợp đồng quân tử) hay được viết thành văn bản gọi là hợp đồng viết hay hợp
đồng thành văn.16
15

Điều 7 Luật Thương mại 2005.

16

Xem: />Q9JmtpbmQ9ZXhhY3Qma2V5d29yZD1USE8lZTElYmElYTIrVEhVJWUxJWJhJWFjTg==&page=1

================================================================
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
trang 10
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

1.1.4 Nội dung của hợp đồng thương mại
Nội dung cơ bản của hợp đồng dân sự là tổng hợp những điều khoản mà các chủ thể
tham gia hợp đồng đã thỏa thuận. Các điều khoản đó xác định những quyền và nghĩa
vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng. Đây cũng chính là điều khoản cần phải
có trong một hợp đồng. Ví dụ: Điều 402 Bộ luật dân sự 2005 quy định về nội dung của
hợp đồng dân sự như sau: “Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về
những nội dung sau đây:


8. Các nội dung khác”.

Trong tất cả các điều khoản nói trên, có những điều khoản mà trong hợp đồng này
các bên không cần phải thỏa thuận nhưng trong một hợp đồng khác các bên buộc phải
thỏa thuận thì hợp đồng mới được coi là giao kết. Mặt khác, ngoài những nội dung cụ
thể này các bên còn có thể thỏa thuận xác định với nhau thêm một số nội dung khác. Vì
vậy có thể phân chia các điều khoản trong nội dung của hợp đồng thành ba loại sau
đây:
- Những điều khoản cơ bản: Là những điều khoản xác định nội dung chủ yếu của
hợp đồng, là những điều khoản không thể thiếu được đối với từng lọai hợp đồng. Nếu
không thể thỏa thuận được về những điều khoản đó thì xem như hợp đồng không thể
giao kết được. Ví dụ: điều khoản về đối tượng của hợp đồng, giá cả, cách thức thanh
tóan hay thực hiện nghĩa vụ…Ví dụ: bên A và bên B ký với nhau một hợp đồng mua
bán hàng hóa, có đầy đủ các điều khoản khác, trong hợp đồng hai bên thỏa thuận loại
hàng hóa mua bán là cam sành loại 1 và giá là 35,000 đồng/1kg, thì trong trường hợp

================================================================
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
trang 11
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

này việc hai bên thỏa thuận về loại hàng hóa mua bán cam sành loại 1) và giá cả
(35,000 đồng/1kg) là những điều khoản cơ bản của hợp đồng.
- Những điều khoản thông thường (phổ thông): Là những điều khoản được pháp
luật quy định trước. Nếu khi giao kết hợp đồng, các bên không thỏa thuận trước những
điều khoản này thì vẫn coi như hai bên đã mặc nhiên thỏa thuận và được thực hiên như

GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
trang 12
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

Ngoài ra trong một hợp đồng còn có thể có phụ lục của của hợp đồng. Điều 408 của
Bộ Luật dân sự của Việt Nam quy định về phụ lục hợp đồng như sau:
- Kèm theo hợp đồng có thể có phụ lục để quy định chi tiết một số điều khoản của
hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng
không được trái với nội dung của hợp đồng.19
- Trong trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của điều
khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa
thuận khác. Trong trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái
với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa
đổi.20
Dựa vào hai nội dung trên, có thể thấy rằng chế tài phạt vi phạm là một chế tài độc
lập, không bắt buộc trong việc ký kết hợp đồng giữa các bên, nó hoàn toàn có thể là
điều khoản riêng lẻ nằm trong phụ lục riêng lẻ của hợp đồng, có thể dễ dàng được bổ
sung, thay thế hay hủy bỏ khi có sự thống nhất và thỏa thuận trong hợp đồng. Phạt vi
phạm được xét ra đó là một khoản trong nội dung của hợp đồng mà các bên có quyền
tự do thỏa thuận hoặc là không, việc thỏa thuận này hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của
các bên, mang lại cho các bên một sự thỏa thuận tốt nhất. Trong trường hợp hợp đồng
chính bị vô hiệu thì điều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng, hay trong phụ lục của
hợp đồng cũng sẽ bị vô hiệu theo hợp đồng chính vì xét chung dù phạt vi phạm là một
thỏa thuận không bắt buộc trong hợp đồng, nhưng khi đã có thỏa thuận về phạt vi
phạm trong hợp đồng thì nó trực tiếp liên quan đến hợp đồng và phụ thuộc vào hợp
đồng chính.
1.1.5 Hình thức của hợp đồng thương mại

Ở nhiều nước trên thế giới, pháp luật có những điều khoản cụ thể đối với một số
hợp đồng, bắt buộc từng loại phải được thể hiện bằng hình thức nhất định, nếu vi phạm
quy định này, hợp đồng đã ký kết sẽ không có giá trị pháp lý. Vi phạm các quy định
bắt buộc về hình thức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật và trật tự công. Vì vậy,
chừng nào sự thống nhất của các bên chưa được thể hiện bằng những hình thức nhất
định theo đòi hỏi của pháp luật thì chừng đó chưa có hợp đồng. Pháp luật một số nước
coi sự vi phạm về hình thức là vi phạm lợi ích công cộng nên hợp đồng vô hiệu tuyệt
đối. Ví dụ, pháp luật của Đức đã đưa ra các đòi hỏi đầu tiên là phải tuân thủ nghiêm
ngặt điều kiện về hình thức để nhằm bảo vệ những người không có kinh nghiệm đối
mặt với những tình huống bất ngờ, cũng như để hạn chế phương pháp chứng cứ. Tuy
nhiên, việc pháp luật quy định hợp đồng phải được thiết lập bởi những hình thức nhất
định sẽ vô tình tạo nên khoảng cách nhất định giữa sự thỏa thuận mong muốn của các
bên với hiệu lực của hợp đồng. Hay ở một số nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ
(common law), người ta quan niệm hình thức văn bản là bắt buộc đối với các hợp đồng
có giá trị. Đơn cử Anh và Úc, hợp đồng bắt buộc phải được lập thành văn bản khi giá
trị của nó lớn hơn 10 bảng Anh. Quy định này xuất phát từ hệ thống luật án lệ coi các
văn bản hợp đồng có giá trị bắt buộc và có tính chất như luật đối với các bên và đó
chính là căn cứ cơ bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết tranh chấp. Nhờ
đó, hợp đồng ở các nước này được soạn thảo rất chặt chẽ.21

21

Th.s Phạm Hoàng Giang - Ảnh hưởng của điều kiện hình thức hợp đồng đến hiệu lực hợp đồng – Tạp chí Nhà
nước và pháp luật số 3/2007, trang 11.

================================================================
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
trang 14
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


Đối với các giao dịch thương mại, khuynh hướng của các nước thuộc hệ thống
luật châu Âu là hướng tới sự không bắt buộc về hình thức. Khuynh hướng này đã được
22

Th.s Dương Anh Sơn, Th.s Lê Minh Hùng – Hình thức văn bản, văn bản có chứng thực là điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng – Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 18(179) tháng 9/2010, trang 38-39.
23
Th.s Phạm Hoàng Giang - Ảnh hưởng của điều kiện hình thức hợp đồng đến hiệu lực hợp đồng – Tạp chí Nhà
nước và pháp luật số 3/2007, trang 13.

================================================================
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
trang 15
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

thể hiện rất rõ trong nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, theo đó không có sự bắt
buộc về hình thức của hợp đồng. Ngược lại, ở Mỹ, Bộ luật thương mại đòi hỏi hợp
đồng mua bán hàng hoá phải thể hiện bằng văn bản nếu giá cả vượt quá một con số xác
định và hướng tới mục đích tất cả các giao dịch đều phải được thể hiện bằng văn bản.
Với pháp luật Hoa Kỳ, Điều 2-201 UCC quy định, hợp đồng mua bán có giá trị từ
5.000 USD phải được ký kết bằng văn bản, nếu không tuân thủ hình thức văn bản thì
hợp đồng vẫn có thể có giá trị pháp lý nhưng các bên khó có thể có giá trị pháp lý
nhưng các bên khó có thể bảo vệ được quyền lợi của mình tại tòa, bởi lẻ không có
chứng cứ. Từ năm 1982, trong pháp luật Hoa Kỳ hình thành nguyên tắc: hợp đồng về
chuyển quyền sở hữu đối với đất đai vi phạm về hình thức có thể không bị coi vô hiệu,
nếu nguyên đơn có đầy đủ cơ sở tin rằng hợp đồng đã được ký kết và làm phát sinh
hiệu lực, và trong trường hợp này, để đảm bảo sự công bằng, việc yêu cầu thực hiện

trang 16
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

nước đó. Các công ty là khi ký kết Hợp đồng kinh doanh quốc tế, công ty nên thoả
thuận với đối tác để luật điều chỉnh Hợp đồng là luật của nước mình. Có như thế, khi
có tranh chấp xảy ra, công ty sẽ đỡ mất thời gian tìm hiểu pháp luật nước ngoài và có
thêm lợi thế để giải quyết các vướng mắc phát sinh.
1.2 Khái quát chung về chế tài phạt vi phạm
1.2.1 Khái niệm chế tài phạt vi phạm
1.2.1.1 Khái niệm chế tài
Chế tài là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động
mà nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với chủ thể nào không thực hiện đúng mệnh lệnh
của nhà nước đã nêu ở phần quy định của quy định pháp luật.29
Các biện pháp mà nhà nước tác động tới chủ thể vi phạm pháp luật rất đa dạng.
Căn cứ vào tính chất của những biện pháp đó và cơ quan có thẩm quyền áp dụng
những biện pháp đó và cơ quan có thẩm quyền áp dụng chúng để có thể chia chế tài
quy phạm pháp luật thành các loại sau:30
- Chế tài hình sự (hình phạt) theo luật Hình sự Việt Nam gồm có: cảnh cáo, phạt
tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. Ngoài ra còn có các
hình phạt phụ như cấm đoán việc đảm nhiệm những chức vụ làm những nghề hoặc
công việc nhất định. Cấm cư trú quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài
sản...
- Chế tài hành chính gồm các biện pháp: cảnh cáo, phạt tiền. Ngoài ra còn có các
biện pháp bổ sung tước đoạt quyền sử dụng giấy phép kinh doanh, tịch thu tang vật,
phương tiện vi phạm.
- Chế tài kỷ luật gồm các biện pháp: trách nhiệm vật chất, bồi thường thiệt hại...
- Chế tài dân sự: yêu cầu bồi thường thiệt hại, phạm vi phạm,...


Từ hai khái niệm trên, khi phân tích vào câu chữ, tôi thấy rằng đề cập đến phạt
vi phạm từ khi đó là “sự thỏa thuận” giữa hai bên, và điều khoản này nhằm đưa ra phần
nghĩa vụ mà bên còn lại phải thực hiện nếu bị vi phạm. Trong khi đó, theo Luật
Thương mại thì phạt vi phạm được đề cập đến khi “bên bị vi phạm yêu cầu bên vị
phạm trả một khoản tiền do vi phạm hợp đồng”. Như vậy, khi so sánh hai khái niệm
trên, một câu hỏi được đặt ra là: khi hai bên tham gia ký kết hợp đồng, có thỏa thuận về
điều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng, vậy giai đoạn thỏa thuận mức phạt vi phạm
này gọi là gì? Vì như theo câu chữ của Luật Thương mại 2005 thì khi bên vi phạm có
yêu cầu thì đó mới gọi là “phạt vi phạm”, vậy giai đoạn này có phải đó gọi là “thỏa
thuận phạt vi phạm”
Dù có điểm không đồng nhất của khái niệm phạt vi phạm trong 2 nguồn luật.
Nhưng nhìn chung lại, chúng ta có hiểu chế tài phạt vi phạm theo nghĩ sau: Chế tài
phạt vi phạm là một loại chế tài gây bất lợi cho người có hành vi vi phạm, được thỏa
thuận cụ thể giữa các bên về một mức phạt nhất định khi có hành vi vi phạm mà ở đó
các bên dù có lỗi hay không có lỗi vẫn phải chịu hậu quả bất lợi này.33
1.2.2 Đối tượng áp dụng của chế tài phạt vi phạm.

31

Điều 300 Luật Thương Mại 2005.
Khoản 1 Điều 422 Bộ Luật Dân sự 2005.
33
Lê Trung Thảo, Tài liệu nghiên cứu pháp luật về thương mại, NBX Thời Đại, năm 2009, trang 278-302.
32

================================================================
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
trang 18
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu

(thuộc Bộ luật Thương mại Thụy Điển) cũng áp dụng với mọi chủ thể tiến hành hoạt
động mua bán hàng hóa (tài sản) nhằm mục đích sinh lời (Điều 5). Có thể nói Luật

34

Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp bao gồm doanh nghiệp được thành lập hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp, Luật Đầu tư; Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã; tổ chức tín dụng
được thành lập theo Luật các Tổ chức tín dụng; tổ chức bảo hiểm được thành lập theo Luật Kinh doanh bảo hiểm
và các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật
35
Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005.

================================================================
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
trang 19
SV thực hiện: Nguyễn Đức Triệu


CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

thương mại 2005 điều chỉnh cả các chủ thể khác (không phải là thương nhân) – “tổ
chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến thương mại”, thực chất là sự công nhận
khái niệm “thương nhân thực tế” như pháp luật thương mại một số quốc gia trên thế
giới. Việc quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể có thể tham gia hoạt
động thương mại và là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm đảm bảo tính bao quát trong
việc điều chỉnh các chủ thể tham gia vào hoạt động, đặc biệt là trong việc áp dụng pháp
luật, giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể có hoạt động liên quan đến
thương mại có thỏa thuận cụ thể với nhau về chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng
thương mại.
Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 cùng được ban hành và có hiệu lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status