TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
Bộ Môn Luật Kinh doanh - Thương Mại
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khóa 32 – Niên khóa : 2006 - 2010
Đề tài :
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ THU
NHẬP DOANH NGHIỆP
Giảng Viên Hướng Dẫn :
Sinh Viên Thực Hiện :
Ts. LÊ THỊ NGUYỆT CHÂU
LÊ THANH TRUNG
MSSV: 5062516
Luật TM 2 – K32
Cần Thơ, 04/2010
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Lê Thị Nguyệt Châu –
cán bộ Bộ môn Luật kinh doanh –Thương mại, Khoa Luật – Trường Đại học Cần
Thơ đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua để em có thể
hoàn thành bài Luận văn tốt nghiệp này. Xin chân thành cảm ơn đến tất cả quý
Thầy, Cô khoa Luật – Trường Đại học Cần thơ đã hết lòng dìu dắt, dạy bảo, giúp
cho em những kiến thức cơ bản nhất về Luật học cũng như những đóng góp quý
báu để giúp em hoàn thành tốt bài Luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu đề tài khoa học này
nhưng do nhiều điều kiện khách quan nên chắc chắn đề tài này không tránh khỏi
những thiếu sót. Do vậy, rất mong được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của quý
nghiệp (TNDN).
Khi đánh giá tính cạnh tranh của một môi trường đầu tư, không thể không
kể đến mức độ ưu đãi đầu tư thông qua các ưu đãi đầu tư. Trong đó, ưu đãi Thuế
TNDN là một trong số những ưu đãi được dùng như là thước đo tính hấp dẫn của
môi trường đầu tư. Quy định về ưu đãi Thuế TNDN là một bộ phận không thể
tách rời của Luật Thuế TNDN. Việc xây dựng và phát triển chế định ưu đãi Thuế
TNDN nhằm mục đích tạo ra một môi trường kinh doanh thông thoáng cho các
doanh nghiệp. Chính vì vậy việc nghiên cứu và tìm hiểu về “Chính Sách Ưu Đãi
Thuế TNDN” trong giai đoạn hiện nay trở nên hết sức cần thiết. Qua đó sẽ giúp
chúng ta hiểu rõ hơn về hệ thống ưu đãi hiện tại và đưa ra những thay đổi để
hướng tới một hệ thống hiệu quả và phù hợp hơn với tính hình hội nhập kinh tế
thế giới của Việt Nam.
GVHD : Ts. Lê Thị Nguyệt Châu
1
SVTH : Lê Thanh Trung
Luận văn tốt nghiệp
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ TNDN 2008
2 – Mục tiêu – Phạm vi nghiên cứu
Trên cở sở phân tích thực trạng hệ thống chính sách ưu đãi Thuế TNDN
của Việt Nam làm nổi bật những điểm mới của chính sách ưu đãi Thuế TNDN
(2008). Qua đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách ưu đãi
Thuế TNDN hiện hành.
Bài viết đi vào nghiên cứu hệ thống chính sách ưu đãi Thuế thu nhập
Luận văn tốt nghiệp
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ TNDN 2008
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ THUẾ - THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP
Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của nó
không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện
kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Sự ra đời và tồn tại của thuế
gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của
Nhà nước và pháp luật.
1.1 – Sự ra đời và tồn tại của Thuế
1.1.1 – Sự ra đời của Thuế
Sự xuất hiện của Nhà nước đòi hỏi phải có của cải vật chất cần thiết chi
cho hoạt động của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhà nước tồn tại, duy trì
quyền lực và thực hiên chức năng quản lý xã hội của mình. Một quốc gia muốn
tồn tại một cách ổn định, trật tự và phát triển tốt thì phải nhờ đến sự điều hành
đúng hướng, đồng bộ, tập trung. Không ai khác thực hiện vai trò này, đó chính là
Bộ máy Nhà nước.
Bộ máy quản lý này không tự tạo ra nguồn vật chất để tự nuôi sống mình
mà chúng sống dựa vào sự đóng góp của toàn thể dân cư trong xã hội. Trong điều
kiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tư hữu cùng với phạm vi hoạt động của Nhà
nước ngày càng mở rộng thì chế độ đóng góp theo phương thức tự nguyện của
dân cư trong chế độ cộng sản nguyên thủy không còn phù hợp nữa. Để có được
lượng của cải vật chất cần thiết, Nhà nước đã sử dụng quyền lực chính trị sẵn có
của mình để ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải
đóng góp cho Nhà nước một phần của cải mà họ làm ra và hình thành quỹ tiền tệ
phân phối hiện vật (phi tài chính), dần dần thuế được chuyển sang hình thức tiền
tệ (tài chính). Đồng thời với việc ấn định nghĩa vụ thu nộp của cải vật chất đối
với dân cư bằng pháp luật, Nhà nước đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ đó
bằng bộ máy cưỡng chế của Nhà nước.
1.1.2 – Sự tồn tại của Thuế qua các thời kì
Thuế có một lịch sử rất dài2, Thuronyi cho rằng trong lịch sử, có những
khoản thu như thuế nhưng không phải lúc nào nó cũng được gọi tên là thuế,
nhưng việc sử dụng những tên gọi khác không có ý nghĩa là có sự khác biệt về
mặt pháp lý3. Theo Burg, thuế là một phần của lịch sử nhân loại ở cả phương
Đông và phương Tây từ ít nhất 2500 năm và cũng có thể là 4500 năm4. Burg
cũng tìm ra rằng hình thức sớm nhất của Thuế được gọi là Corvée, một hình thức
lao động bắt buộc (và từ “lao động” trong tiếng Ai Cập cổ cũng đồng nghĩa với
“Thuế”).
1.1.2.1 – Từ chế độ Chiếm hữu nô lệ đến đầu chế độ Tư bản chủ nghĩa
Trong giai đoạn đầu (từ chế độ Chiếm hữu nô lệ đến đầu chế độ Tư bản
chủ nghĩa), Nhà nước đã sử dụng thuế như là công cụ tạo nguồn thu để phục vụ
chủ yếu cho mục đích phi kinh tế như : chi tiêu cho cuộc sống xa hoa của hoàng
tộc, nuôi sống bộ máy quản lý, quân đội, rèn đúc vũ khí. Các sắc thuế trong giai
đoạn này thường đơn giản, chủ yếu đánh vào ruộng đất, con người5… Ở phương
Tây, hình thức thuế xuất hiện đầu tiên là ở Ai Cập cổ đại dưới dạng thuế ruộng
đất. Theo đó, chính quyền lấy sông Nile làm cơ sở để đánh thuế. Những mảnh
đất gần lưu vực sông sẽ phải đóng thuế cao hơn những mảnh đất nằm sâu bên
2
Ts. Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật Tài Chính 2 (Thuế), Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ,
2009, tr7
3
Victor Thuronyi, Comparative Tax Law, Kluwer Law International, 2003, tr53 - được trích dẫn bởi Ts.
Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật Tài Chính 2 (Thuế), Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ, 2009
4
sắc thuế cổ điển như trước thì không đủ để chi tiêu và lại kém nhân đạo. Vì vậy
trong giai đoạn này, Nhà nước đã mở rộng nguồn thu bằng cách đặt thêm nhiều
sắc thuế nhắm vào các hoạt động kinh tế xã hội khác nhau với một hệ thống thuế
suất đa dạng và linh hoạt làm cho thuế trở nên tế nhị và tinh xảo hơn, vừa đảm
bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước vừa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh
tế10. Trong các cuộc bầu cử ở những nước Tư bản, dự thảo về chính sách thuế
của các ứng cử viên luôn luôn được cử tri quan tâm và để được lòng dân, nhiều
ứng cử viên đã giới thiệu các chính sách cắt giảm thuế hoặc tăng chi cho các
khoản phúc lợi xã hội11.
1.1.2.3 – Thời kì Xã hội chủ nghĩa
Cùng với sự phát triển của nhân loại, những loại thuế và hình thức thuế
phức tạp hơn được hình thành. Những chính sách thuế tận thu, hà khắc dần dần
được thay thế. Nhà nước chú tâm nhiều hơn đến việc “hoàn trả” các khoản thuế
6
Ts. Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật Tài Chính 2 (Thuế), Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ,
2009, tr8
7
/>8
Trường Đại học Luật hà Nội, Giáo trình Luật Thuế Việt nam, NXB Tư Pháp, 2007, tr8
9
Han Liang Huang, The Land Tax in China, Columbia University, New York 1918 - được trích dẫn bởi
Ts. Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật Tài Chính 2 (Thuế), Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ,
2009
10
Ts. Trương Đông Lộc, Bài Giảng Thuế, Khoa KT – QTKD, Trường Đại học Cần Thơ, 1-2009, tr1
11
Ts. Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật Tài Chính 2 (Thuế), Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ,
2009, tr8
nguyên tắc, các chính sách thuế của Chính phủ đều do Quốc hội với tư cách là
đại diện nhân dân biểu quyết thông qua. Ngày nay, những đổi mới trong cách tiếp
cận dưới tác động của các học thuyết thuế hiện đại đã làm cho chính sách thuế
hiện hành có nhiều điểm tiến bộ, phù hợp hơn với xu hướng phát triển chung của
các chính sách thuế đương đại.
Tóm lại : Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu để
thuế tồn tại và phát triển. Như vậy, thuế là một phạm trù có tính lịch sử và là một
tất yếu khác quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà
nước. Thuế bảo đảm cơ sở vật chất cho sự hoạt động và phát triển của Nhà nước
và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực nhà nước.
1.2 – Khái niệm Thuế - Thuế Thu nhập doanh nghiệp
1.2.1 – Khái niệm Thuế
Do thuế có lịch sử ra đời và tồn tại từ rất lâu đời cùng với Nhà nước cho
đến ngày hôm nay, nên có rất nhiều cách quan niệm khác nhau về thuế. Tùy
12
Ts. Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật Tài Chính 2 (Thuế), Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ,
2009, tr8
13
Ts. Trương Đông Lộc, Bài Giảng Thuế, Khoa KT – QTKD, Trường Đại học Cần Thơ, 1-2009, tr1
GVHD : Ts. Lê Thị Nguyệt Châu
6
SVTH : Lê Thanh Trung
Luận văn tốt nghiệp
cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp
phần thu nhập còn lại.
14
Mác – Ănghen tuyển tập, NXB Sự thật, Hà Nội, 1961, tập2
Ănghen, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước, NXB Sự thật, Hà Nội, 1962
16
Lê-Nin toàn tập, tập 15
17
Gaston Jeze, “Finances Publiques”, 1934
15
GVHD : Ts. Lê Thị Nguyệt Châu
7
SVTH : Lê Thanh Trung
Luận văn tốt nghiệp
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ TNDN 2008
- Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau: Thuế là biện
pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một
phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng
kinh tế - xã hội của Nhà nước18.
- Trên góc độ Luật học, “Thuế là một hình thức động viên bắt buộc của
20
Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của người chịu thuế (người nộp thuế và người
chịu thuế là một) và người nộp thuế không thể chuyển giao gánh nặng chịu thuế sang cho người khác
được. Đặc điểm của thuế trực thu là tính chất luỹ tiến do việc đánh thuế có tính đến khả năng của người
nộp, tuy nhiên Thuế TNDN thường không sử dụng thuế suất luỹ tiến mà sử dụng thuế suất đồng nhất (flat
tax rate). Mức thuế suất khác nhau có thể được áp dụng đối với các nhóm đối tượng hoặc một số loại thu
nhập khác nhau vì mục tiêu chính sách.
GVHD : Ts. Lê Thị Nguyệt Châu
8
SVTH : Lê Thanh Trung
Luận văn tốt nghiệp
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ TNDN 2008
pháp nhân. Tuy nhiên, trên phương diện luật pháp, loại Thuế TNDN cũng có thể
được sử dụng để mở rộng diện điều chỉnh đối với thu nhập của những cá nhân
hoặc nhóm cá nhân kinh doanh, hợp tác xã, các hình thức hợp danh, liên kết... tuỳ
thuộc vào yêu cầu quản lý của Nhà nước. Là một loại thuế trực thu, Thuế TNDN
trực tiếp điều chỉnh vào thu nhập của doanh nghiệp, giải quyết mối quan hệ về lợi
ích giữa Nhà nước và các doanh nghiệp nên có thể nói Thuế TNDN tác động trực
tiếp đến môi trường kinh doanh, ảnh hưởng đáng kể đến cạnh tranh quốc tế trong
thu hút nguồn vốn đầu tư. Nhằm tạo ra sự hấp dẫn của môi trường kinh doanh,
các nước thường sử dụng các quy định cụ thể trong chính sách Thuế TNDN để
tạo lợi thế so sánh trong thu hút đầu tư nước ngoài.
GVHD : Ts. Lê Thị Nguyệt Châu
9
SVTH : Lê Thanh Trung
Luận văn tốt nghiệp
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ TNDN 2008
Ngày 17/6/2003, Quốc hội ban hành Luật Thuế TNDN số 09/2003/QH11
có hiệu lực thi hành từ năm 2004, áp dụng thống nhất giữa doanh nghiệp trong
nước và doanh nghiệp FDI với mức thuế suất phổ thông là 28%. Cùng với việc
bãi bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, các ưu đãi thuế được bảo lưu theo
nguyên tắc chọn mức ưu đãi nhất đang được quy định tại Luật khuyến khích đầu
tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài để quy định trong Luật này.
Ngày 3/6/2008, Quốc hội ban hành Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12
thay thế Luật Thuế TNDN số 09/2003/QH11. Luật Thuế TNDN mới số
14/2008/QH12 có hiệu lực thi hành kể từ năm 2009 trở đi.
1.3 - Đặc điểm của Thuế - Thuế Thu nhập doanh nghiệp
Từ những khái niệm về thuế (nói chung) và Thuế Thu nhập doanh nghiệp
(nói riêng) ở trên, có thể thấy thuế cũng như Thuế TNDN có những đặc điểm
sau:
+ Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc;
+ Thuế tạo nguồn thu dùng để chi tiêu công cộng;
+ Thuế không mang tính hoàn trả và không có đối giá trực tiếp.
1.3.1 – Thuế mang tính bắt buộc
Tính bắt buộc của thuế có nguồn gốc từ việc Nhà nước sử dụng công cụ
Việt Nam 1992 quy định “ Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích
theo quy định của Pháp luật”. Và K4 – Điều 84 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung
năm 2001) qui định “Chỉ có Quốc Hội mới có quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ
các loại thuế”. Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất
bắt buộc, được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước (qua hệ
thống pháp luật thuế). Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc
mong muốn tự mình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có
quyền chấp thuận. Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của
pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế. Đây là điểm khác biệt giữa
thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện.
1.3.2 – Thuế tạo nguồn thu dùng để chi tiêu công cộng
Nhà nước sử dụng Ngân sách dùng cho quản lý hành chính nhà nước,
phần còn lại chi ngược lại cho người dân thông qua các hình thức khác nhau như:
chi cho giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa – xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng....
Trong các nguồn thu cho Ngân sách23 thì thuế (nói chung) và Thuế TNDN (nói
riêng) là nguồn thu chủ yếu, ổn định, lớn nhất. Vì so với các nguồn thu khác ta
thấy :
+ Số thu từ phí và lệ phí là rất thấp. Nguồn thu từ phí và lệ phí không phải
dùng đáp ứng nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà nước, mà trước hết dùng để bù
đắp các chi phí hoạt động của các cơ quan cung cấp cho xã hội một số dịch vụ
công cộng như: dịch vụ công chứng, dịch vụ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền
sử dụng tài sản, dịch vụ hải quan...;
+ Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân là rất ít và không
thường xuyên, phụ thuộc vào khả năng và sự tự nguyện của chủ thể đóng góp. Vì
dựa trên sự tự nguyện nên Nhà nước không thể làm gì hơn nếu không có ai tham
gia đóng góp;
+ Viện trợ từ nước ngoài : không nhiều & không thường xuyên, phụ thuộc
vào khả năng kinh tế của quốc gia viện trợ và mối quan hệ giữa hai quốc gia;
nộp thuế (tuy nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế
thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không hoàn trả trực
tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước
không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế. Sau khi thu
thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế.
Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế
với lý do họ sử dụng ít các dịch vụ công cộng; họ cũng không có quyền đòi hỏi
được hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế họ phải trả vì lý do này
hay lý do khác; và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh
toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này. Tuy nhiên, cá nhân và tổ chức có
quyền nêu ý kiến của mình nếu như những gì mà họ nhận được từ sự đầu tư của
Nhà nước là quá thấp trong khi số thuế họ phải nộp là quá cao hoặc họ cũng có
thể kiểm tra việc chi tiêu của Ngân sách Nhà nước thông qua đại biểu của họ ở
các cơ quan đại diện (như Quốc hội, Hội đồng nhân dân) và thông qua các báo
cáo thường niên của các cơ quan này24.
24
Ts. Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật Tài Chính2(Thuế), Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ,
2009, tr9
GVHD : Ts. Lê Thị Nguyệt Châu
12
SVTH : Lê Thanh Trung
Luận văn tốt nghiệp
trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước
Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn, gắn liền
với tổng số chi tiêu của của Nhà nước vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ
yếu cho các khoản chi ngân sách. Nhưng các khoản thu này cũng không phải là
nguồn bù đắp duy nhất mà bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách còn được bù đắp
bằng nguồn vay hoặc phát hành tiền tệ. Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ
giữa thâm hụt ngân sách trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nước cho
GVHD : Ts. Lê Thị Nguyệt Châu
13
SVTH : Lê Thanh Trung
Luận văn tốt nghiệp
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ TNDN 2008
thấy mức độ huy động của Nhà nước để bù đắp cho các khoản chi này (tất nhiên
kể cả khoản lãi phải trả khi hoàn trả nợ). Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn
định các loại thuế áp dụng đối với các pháp nhân và thể nhân trong xã hội. Việc
các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật
thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn
thu Ngân sách Nhà nước.
Cũng như pháp luật nói chung, Pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất của sự điều chỉnh quan hệ
pháp luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ Ngân sách Nhà nước. Hầu hết ở các
quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy định để thu ngân sách Nhà
nước.
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ TNDN 2008
cho NSNN hàng năm. Bảng số liệu dưới đây cho thấy, tỷ trọng một số khoản thu
lớn trong NSNN từ năm 1999 tới 2007 như sau25 :
Tỷ trọng một số khoản Thuế có số thu lớn so tổng thu NSNS
Đơn vị tính : %
Thuế
GTGT
Thuế
TTĐB
Thuế XNK
Thuế
TNDN
1999
21.81
7.82
17.34
18.51
2000
21.66
8.62
12.66
23.25
2004
20.52
7.88
10.23
23.01
2005
21.06
8.37
9.17
24.21
2006
trong phân phối
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng
thống nhất chung cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân
25
Nguyễn Ngọc Tuyến, Sử dụng mô hình kinh tế lượng đánh giá sự tác động của các luật Thuế mới tới
NSNN, Tạp chí Thuế Nhà Nước – số 6 (220)- Kỳ 2/2/2009
26
Ts. Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật Tài Chính2(Thuế), Khoa Luật - Trường ĐH Cần Thơ, 2009,
tr10
GVHD : Ts. Lê Thị Nguyệt Châu
15
SVTH : Lê Thanh Trung
Luận văn tốt nghiệp
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ TNDN 2008
cư nhằm đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối
với mọi thể nhân và pháp nhân.
Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên
giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều
kiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng. Một trong
những mặt trái của nền kinh tế thị trường đó là sự phân hóa giàu nghèo ngày
càng lớn giữa các tầng lớp dân cư, giữa các khu vực, thành phần kinh tế. Nhờ
16
SVTH : Lê Thanh Trung
Luận văn tốt nghiệp
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ TNDN 2008
1.4.3 – Vai trò Quản lý và điều tiết nền kinh tế vĩ mô
Ngoài việc tạo nguồn thu cho NSNN, thuế còn có vai trò quan trọng trong
việc điều chỉnh nền kinh tế, phụ thuộc vào thể trạng của nền kinh tế trong từng
thời kỳ. Khi nền kinh tế cực thịnh Nhà nước có thể tăng thuế để tăng nguồn thu
cho NSNN. Việc tăng thuế sẽ không gây ra phản ứng từ người dân, vì giai đoạn
này thu nhập cao và ổn định sẽ không bị ảnh hưởng nhiều khi bị tăng thuế. Ở thời
kì này việc tăng thuế sẽ tạo ra số bội thu cho ngân sách. Nhà nước sử dụng số bội
thu này để lập ra quỹ dự trữ để dự phòng khi nền kinh tế chuyển sang giai đoạn
suy thoái. Việc tăng thuế sẽ có tác dụng kiềm chế sự tăng trưởng của tổng cầu,
làm giảm bớt sự tăng trưởng của nền kinh tế. Ngược lại, khi nền kinh tế bước qua
giai đoạn suy thoái, việc giảm thuế sẽ có tác dụng nâng cao tổng cầu, từ đó mà
xúc tiến việc phục hưng nền kinh tế28. Điều tiết vĩ mô nền kinh tế có nghĩa là,
Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh tế - xã hội bằng các mệnh
lệnh hành chính mà Nhà nước chỉ đưa ra những chuẩn mực mang tính định
hướng lớn trên diện rộng và bằng các công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động
kinh tế - xã hội đi theo nhằm đạt được mục tiêu kinh tế đề ra, tạo hành lang pháp
lý cho các họat động kinh tế - xã hội thực hiện trong khuôn khổ pháp luật29.
Bản chất kinh tế của thuế thể hiện, thuế là một phần thu nhập của xã hội
được tâp trung để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Kinh tế là cơ sở của
thuế, thuế gắn chặt chẽ với sản xuất, kinh doanh để điều tiết nền kinh tế. Ðiều 26
giữa các vùng, miền trong cả nước).
Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh
tế thị trường. Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tác động đến
các quan hệ tiêu dùng của xã hội. Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đối với một số
hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước tăng thuế suất Thuế giá trị gia tăng, Thuế xuất nhập
khẩu ... đối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa đó (nâng
cao mức thuế suất đối với những mặt hàng chưa thật sự cần thiết như xe ô tô,
những loại hàng hóa có hại cho sức khỏe của người dân như rượu bia, thuốc
lá...). Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước quy định số lượng các loại thuế khác nhau
tùy theo từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, từng loại hàng hóa cụ thể thể
hiện mức độ khuyến khích hay không khuyến khích, ưu đãi hay không ưu đãi,
bảo hộ hay không bảo hộ ...30. Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà
nước chủ động can thiệp đến cung - cầu của nền kinh tế. Sự tác động của Nhà
nước để điều chỉnh cung - cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn
đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế. Bằng các quy định của pháp luật thuế, Nhà
nước tác động tích cực đến cung - cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn
từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Ðể thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và
khuyến khích xuất khẩu, pháp luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu có các quy
định khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hàng hóa.
Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng có tính
chất phân biệt đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu.
Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam được hình thành và phát triển
trong thời kỳ “đổi mới” (sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986).
Trước đó nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, thu
ngân sách Nhà nước chủ yếu từ kinh tế quốc doanh (chiếm tới 90% tổng số thu),
Thuế chỉ áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh dưới một số hình
thức: Thuế doanh nghiệp, Thuế hàng hoá, Thuế lợi tức, Thuế nông nghiệp, Thuế
môn bài ... vai trò của thuế trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế được sử
dụng rất hạn chế. Sau thời gian đổi mới, nền kinh tế thị trường đã và đang hình
quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải
thường xuyên rà soát mức độ phù hợp của hệ thống thuế với chiến lược phát triển
kinh tế – xã hội của mình, thực hiện các cải cách thuế kịp thời nếu thấy cần thiết.
Trong những lần cải cách thuế, đặc biệt là Thuế TNDN thì ưu đãi Thuế TNDN là
một phần quan trọng trong quá trình sửa đổi. Do các chính sách khuyến khích, ưu
đãi thuế vì các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hoặc tham gia giải quyết các
vấn đề xã hội thường được lồng ghép, thiết kế trong quy định pháp luật về Thuế
TNDN. Đặc biệt, các ưu đãi Thuế TNDN để thu hút đầu tư vào các vùng khó
khăn, khuyến khích phát triển các lĩnh vực theo định hướng, cạnh tranh thu hút
đầu tư nước ngoài thường được thể hiện trong chính sách Thuế TNDN của nhiều
nước.
1.5 - Khái quát về ưu đãi Thuế Thu nhập doanh nghiệp
Kể từ khi ra đời và trải qua hai lần sửa đổi thay thế của Luật Thuế TNDN
1997, Luật Thuế TNDN 2003 và Luật Thuế TNDN 2008, ưu đãi Thuế TNDN là
yếu tố quan trọng được quy định thành một chương riêng, theo đó, các đối tượng
nộp Thuế TNDN được phép hưởng ưu đãi về thuế vì một số lý do nhằm thực
hiện mục tiêu chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước. Trong các Luật trên thì
các hình thức ưu đãi được quy định bao gồm :
Chương IV – Luật Thuế TNDN 1997 quy định : Các dự án đầu tư lập
doanh nghiệp mới thuộc ngành nghề, lĩnh vực hoặc địa bàn khuyến khích đầu tư
theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước thì được áp dụng các mức thuế suất ưu
GVHD : Ts. Lê Thị Nguyệt Châu
19
SVTH : Lê Thanh Trung
không quá năm năm.
– Miễn thuế, giảm thuế cho các trường hợp khác :
+ Miễn thuế TNDN cho các phần thu nhập của các cơ sở kinh doanh trong
nước từ việc thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học; các hợp đồng dịch vụ kỹ
thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp; từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
của cơ sở kinh doanh dành riêng cho lao động là người tàn tật; từ hoạt động dạy
nghề dành riêng cho người tàn tật, người dân tộc thiểu số, trẻ em có hoàn cảnh
GVHD : Ts. Lê Thị Nguyệt Châu
20
SVTH : Lê Thanh Trung
Luận văn tốt nghiệp
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ TNDN 2008
đặc biệt khó khăn, đối tượng tệ nạn xã hội; Hộ cá thể sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ có thu nhập thấp theo quy định của Chính phủ.
+ Miễn thuế, giảm thuế TNDN cho các nhà đầu tư nước ngoài như sau:
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước theo Luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam được giảm 20% số thuế thu nhập so với các dự án cùng loại,
trừ trường hợp được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập là 10%; được hưởng
mức thuế suất thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài là 5% số thu nhập chuyển ra
nước ngoài; Bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ
thuật dùng để góp vốn pháp định được miễn thuế thu nhập; Miễn thuế hoặc giảm
thuế thu nhập cho thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng giá trị phần vốn của các
nhà đầu tư nước ngoài cho doanh nghiệp Việt Nam theo quy định của Chính phủ.