TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 33 (2007-2011)
HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH, NIÊM YẾT CỔ PHIẾU
CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HOÁ
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Ts. LÊ THỊ NGUYỆT CHÂU
NGUYỄN MINH VŨ
MSSV: 5075082
Lớp: Luật Thương Mại 1- K33
Cần Thơ, 5/2011
LỜI MỞ ĐẦU .......................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH, NIÊM
YẾT CỔ PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA .......3
1.1
Khái niệm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước. ................................................ 3
1.1.1
Khái niệm hoạt động phát hành chứng khoán ..................................17
1.3.2
Vai trò của hoạt động phát hành cổ phiếu ........................................ 18
1.3.3
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ............................................... 19
1.4
Khái niệm, vai trò của hoạt động niêm yết chứng khoán ............................... 23
1.4.1
Khái niệm hoạt động niêm yết chứng khoán ....................................23
1.4.2
Vai trò của hoạt động niêm yết chứng khoán ...................................23
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH,
NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN
HÓA ..................................................................................................................... 24
2.1
Quy định về hoạt động phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước ....24
2.2.1.3 Điều kiện niêm yết đối với doanh nghiệp nhà nắm cổ phần chi
phối .................................................................................................69
2.2.2
Thủ tục niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước .................... 69
2.2.2.1 Thủ tục niêm yết theo quy định chung............................................ 69
2.2.2.2 Thủ tục niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
cổ phần hóa. .................................................................................... 72
2.2.2.3 Niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi
phối. ................................................................................................ 73
2.3 Xử lý vi phạm trong hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh
nghiệp nhà nước.....................................................................................................73
2.3.1
Xử lý quy phạm trong hoạt đông phát hành cổ phiếu của doanh
nghiệp nhà nước. ............................................................................. 73
2.3.2
Xử lý vi phạm trong hoạt động niêm yết cổ phiếu của doanh
nghiệp nhà nước. ............................................................................. 81
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
PHÁP HÀNH NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC HIỆN NAY .............................................................................................. 83
3.1
Thực trạng hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp
nhà nước ở Việt Nam. ........................................................................................... 83
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Đề tài: Hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước
LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đã được hình thành từ lâu và có vị trí
quan trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và
xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế thì vị trí chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước
trong nền kinh tế ngày càng mờ nhạt và tỏ ra không còn phù hợp với nền kinh tế thị
trường. Chính vì điều này Đảng và nhà nước ta đã đề ra chủ trường cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước từ những năm 90 nhằm đổi mới doanh nghiệp nhà nước để
thích nghi với tình hình mới. Cổ phần hóa đã làm thay đổi đáng kể doanh nghiệp
nhà nước và trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà
nước ta. Đặc biệt là từ khi thị trường chứng khoán ra đời thì cổ phần hóa càng được
đẩy mạnh. Trong đó phát hành cổ phiếu lần đầu để chuyển thành công ty cổ phần là
khâu quan trọng của quá trình cổ phần hóa, sau đó doanh nghiệp sẽ tiến hành niêm
yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán khi đủ điều kiện và thực hiện các đợt phát
hành thêm cổ phiếu đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Sự kết hợp giữa hai
hoạt động này tạo nên bước tiến đáng kể đối với sự phát triển của khu vực kinh tế
nhà nước. Nhận thấy đây là một vấn đề quan trọng đối với sự phát triển doanh
nghiệp nhà nước nói riêng và nền kinh tế nói chung người viết đã chọn đề tài hoạt
động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa cho
luận văn tốt nghiệp.
Đã có một số luận văn nghiên cứu riêng về cổ phần hóa cũng như về thị
trường chứng khoán. Vì vậy người viết chủ yếu nghiên cứu về hoạt đông phát hành
và hoạt động niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước và các văn bản pháp
luật điều chỉnh về vấn đề nay. Qua đó người viết đã nhận thấy một số tồn tại và đề
2
Đề tài: Hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH, NIÊM YẾT CỔ
PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA
1.1 Khái niệm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước.
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước.
Loại hình doanh nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp xuất hiện ở tất
cả các quốc gia trên thế giới. Điều này cũng dễ hiểu vì đối với quốc gia sẽ có những
ngành mà nhà nước không muốn tư nhân tham gia do có thể ảnh hưởng đến quốc
kế dân sinh của họ. Đó có thể là những ngành về an ninh quốc phòng hay khai thác
các khoáng sản đặc biệt là các khoáng sản đặc thù của quốc gia hay khoáng sản quý
hiếm… Hay cũng có thể là nhà nước phải thành lập những doanh nghiệp ở những
lĩnh vực mà tư nhân không đủ khả năng tham gia hoặc không muốn tham gia. Đó
có thể là các ngành, lĩnh vực cần nhiều vốn mà tư nhân không đảm bảo đủ điều
kiện hoặc những ngành hoạt động trong lĩnh vực công ích mà tư nhân không muốn
tham gia do lợi nhuận không hấp dẫn. Bằng cách tham gia vào nền kinh tế với vai
trò là một chủ thể kinh doanh, doanh nghiệp nhà nước có thể thực hiện đồng thời
hai chức năng kinh tế và xã hội cũng như là góp phần quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Ngoài ra doanh nghiệp nhà nước còn góp phần tạo việc làm, tạo ra thu nhập cho
người lao động, làm giảm đói nghèo, tăng nguồn thu cho ngân sách. Tuy lí do để
doanh nghiệp nhà nước tồn tại ở các quốc gia có thể không giống nhau nhưng có
thể khẳng định rằng doanh nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp không thể
thiếu ở các quốc gia.
Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam ra đời cũng khá lâu, bắt đầu từ những xí
nghiệp nhà nước được thành lập sau Cách mạng tháng Tám bằng con đường quốc
theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì
mục tiêu lợi nhuận.”
Với các quy định trong Luật doanh nghiệp nhà nước và các Nghị định hướng
dẫn đi kèm ta có thể thấy nhà nước đã có sự phân biệt giữa hai loại hình doanh
nghiệp nhà nước đó là doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh và doanh
nghiệp nhà nước hoạt động công ích. Từ đó, Nhà nước có cơ chế quản lý và chính
sách phù hợp với từng loại doanh nghiệp. Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh
doanh được mở rộng quyền và trách nhiệm để thực hiện hoạt động trên cùng mặt
bằng pháp lý và bình đẳng với các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác,
từng bước nâng cao tính cạnh tranh của loại doanh nghiệp này. Đây cũng là những
động thái bước đầu rất quan trọng để từng bước xoá bỏ sự bao cấp đối với doanh
nghiệp Nhà nước, tiến dần tới việc đưa loại doanh nghiệp này vào hoạt động cùng
một đạo Luật doanh nghiệp thống nhất của nền kinh tế.
Mô hình hoạt động của doanh nghiệp nhà nước được tổ chức theo điều 2 Luật
doanh nghiệp nhà nước 1995 bao gồm doanh nghiệp nhà nước tổ chức dưới hình
thức doanh nghiệp độc lập, tổng công ty, doanh nghiệp thành viên của tổng công ty
và quản lý phần vốn của Nhà nước đầu tư ở các doanh nghiệp”. Như vậy, doanh
4
Đề tài: Hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước
nghiệp Nhà nước chia thành doanh nghiệp độc lập và các Tổng công ty (90 và 91)1
.Với mô hình Tổng công ty, Luật doanh nghiệp Nhà nước 1995 đã bước đầu đưa ra
chủ trương xây dựng các doanh nghiệp quy mô lớn dưới hình thức các tập đoàn
kinh tế mạnh. Với việc quy định điều kiện để thành lập, tổ chức lại, giải thể doanh
nghiệp Nhà nước, xác định lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực hạn chế thành lập mới doanh
nghiệp Nhà nước, Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995 cũng đã thể chế hoá định
hướng đổi mới và sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước. Đồng thời sự xuất hiện
tướng Chính phủ về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh.
5
Đề tài: Hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước
lập mới doanh nghiệp hoạt động công ích diễn ra một cách tuỳ tiện nhằm được
hưởng những ưu đãi của Nhà nước đối với loại doanh nghiệp này. Tính đến tháng
11 năm 2002 cả nước có 732 doanh nghiệp công ích, chiếm 12,77% tổng số doanh
nghiệp Nhà nước.
Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995 mới chỉ quy định một số nội dung mang
tính nguyên tắc về Tổng công ty. Chưa có quy định cụ thể về việc thành lập, tổ
chức lại và giải thể Tổng công ty và các đơn vị thành viên. Vì thế Tổng công ty
Nhà nước hiện tại thực chất là sự gán ghép theo quyết định hành chính các doanh
nghiệp Nhà nước có quan hệ ngang với mục đích giảm bớt đầu mối quản lý. Thẩm
quyền và quan hệ làm việc của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, Ban
kiểm soát trong các mô hình quản lý không rõ ràng, kém hiệu quả. Chưa có quy
định cụ thể, có hiệu lực về cơ chế trách nhiệm của bộ máy điều hành quản lý doanh
nghiệp Nhà nước và của đại diện chủ sở hữu. Đây cũng là cơ sở của việc quản lý
kém hiệu quả về kinh tế của các doanh nghiệp Nhà nước và cũng là nguyên nhân
của tệ nạn tham ô, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức liên
quan đến tài sản Nhà nước. Quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước
chưa bình đẳng đối với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.2
1.1.1.2 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp nhà nước
2003
Từ những tồn tại của Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 đã dẫn đến sự ra đời
của Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11
năm 2003. Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 đã đánh dấu một bước phát triển mới
của loại hình doanh nghiệp nhà nước. Góp phần nâng cao vai trò của doanh nghiệp
Công ty Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ
được tổ chức dưới hai hình thức công ty Nhà nước độc lập và Tổng công ty Nhà
nước. Trong đó, “tổng công ty Nhà nước là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự
đầu tư, góp vốn với các doanh nghiệp khác hoặc được hình thành trên cơ sở tổ chức
và liên kết các đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế,
công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động trong một hoặc
một số chuyên ngành kinh tế- kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh
doanh và thực hiện lợi ích của các đơn vị thành viên và toàn Tổng công ty” (Điều
46 Luật doanh nghiệp Nhà nước 26/11/2003). Có 3 loại hình Tổng công ty Nhà
nước là:
+ Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập.
+ Tổng công ty do các công ty tự đầu tư và thành lập.
+ Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước.
Hai loại Tổng công ty đầu là cơ sở của các Tập đoàn kinh tế mạnh mà Nhà nước ta
hướng tới xây dựng.
Thứ hai, bỏ loại doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích, chuyển từ quản
lý doanh nghiệp Nhà nước độc quyền hoạt động công ích sang quản lý hoạt động
công ích trên cơ sở mở rộng cơ chế đấu thầu hoạt động công ích. Xác định rõ mục
tiêu hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp Nhà nước là hoạt động kinh doanh.
Thứ ba, việc thành lập công ty Nhà nước, quyết định thành lập mới công ty
Nhà nước đồng thời là quyết định dự án đầu tư thành lập công ty Nhà nước. Công
ty Nhà nước mới được thành lập là chủ đầu tư đối với dự án này. Những quy định
mới trong thủ tục thành lập có mục đích khắc phục những bất cập của Luật doanh
nghiệp Nhà nước cũ dẫn đến sự lãng phí, thất thoát và vô trách nhiệm trong quản lý
tài sản và vốn của Nhà nước như trên đã đề cập.
Thứ tư, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước nói chung và
do Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ quản lý ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện
7
Bởi một khi áp Luật chung cho cả doanh nghiệp trong và ngoài nước, mọi thành
phần kinh tế đều bình đẳng, tính cạnh tranh sẽ rất quyết liệt. Do đó, muốn tồn tại thì
3
Doanh nghiệp nhà nước và đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
[Truy cập ngày 16/02/2011]
4
Nguyễn Quang A: Vì sao doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả?
[ Truy cập ngày
16/02/2011]
8
Đề tài: Hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước
không còn đường nào khác, các doanh nghiệp phải tự đổi mới để từ đó nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh.5
Theo điều 2 Luật doanh nghiệp 2005 quy định đối tượng áp dụng của Luật
gồm:
(i) Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
(ii) Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt
động của các doanh nghiệp.
Như vậy, không còn sự phân biệt thành phần kinh tế tư nhân và nhà nước nữa,
không còn Luật doanh nghiệp nhà nước nữa mà chỉ có một Luật doanh nghiệp 2005
thống nhất cho tất cả các doanh nghiệp. Điều này cũng được quy định rõ tại điều
169 Luật doanh nghiệp 2005 quy định về việc thành lập doanh nghiệp nhà nước
“Doanh nghiệp do Nhà nước thành lập kể từ ngày Luật này có hiệu lực phải được
đăng ký, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật này và pháp luật có
iv) Sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ đủ số lượng, đúng chất lượng và
thời hạn đã cam kết theo giá hoặc phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy
định.
v) Bảo đảm các điều kiện công bằng và thuận lợi như nhau cho mọi đối tượng
khách hàng.
vi) Chịu trách nhiệm trước pháp luật và khách hàng về số lượng, chất lượng,
điều kiện cung ứng và giá, phí sản phẩm, dịch vụ cung ứng.
vii) Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, theo Luật doanh nghiệp 2005 thì không có doanh nghiệp công ích
mà chỉ có doanh nghiệp có sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích.
Điều này cũng có nghĩa là mọi loại hình doanh nghiệp điều có thể tham gia sản
xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích với các quyền và nghĩa vụ theo quy
định của Luật doanh nghiệp 2005.
Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp phục vụ quốc phòng, an ninh cũng chịu sự
điều chỉnh của Luật này và các quy đinh riêng của chính phủ.
Đồng thời, để phù hợp với các loại hình doanh nghiệp được quy định trong
Luật doanh nghiệp 2005, tại điều 166 Luật này có quy định về việc chuyển đổi
công ty nhà nước :
“ Thực hiện theo lộ trình chuyển đổi hằng năm, nhưng chậm nhất trong thời
hạn bốn năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực, các công ty nhà nước thành lập theo
quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty
trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật này. Chính phủ
quy định và hướng dẫn trình tự, thủ tục chuyển đổi.
Trong thời hạn chuyển đổi, những quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm
2003 được tiếp tục áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước nếu Luật này không có
quy định.”
Riêng đối với các doanh nghiệp nhà nước không cần nắm 100% vốn thì việc
chuyển công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ là bước đệm để
chuyển các công ty nhà nước thành công ty cổ phần. Mô hình công ty cổ phần là
mô hình doanh nghiệp mà Đảng và Chính phủ đang hướng tới cho các doanh
vốn.
(2) Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước;
cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu vốn nhà nước; cách thức và tiêu chí đánh giá
hiệu quả và thực trạng bảo toàn, phát triển vốn nhà nước; cơ chế phối hợp, kiểm tra
và đánh giá đối với cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước; các chủ trương, biện
pháp sắp xếp, cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
có vốn nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật.
(3) Định kỳ hằng năm, Chính phủ trình Quốc hội báo cáo tổng hợp về thực trạng
kinh doanh vốn sở hữu nhà nước, thực trạng bảo toàn và phát triển giá trị vốn đầu
tư và tài sản sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp.
Như vậy nhà nước sẽ có vị thế ngang bằng các chủ sở hữu khác và chỉ được
can thiệp vào doanh nghiệp trong phạm vi số vốn và theo đúng các quy định của
Luật và điều lệ công ty. Hay nói cách khác nhà nước sở hữu phần vốn góp vào
doanh nghiệp chứ không phải sở hữu doanh nghiệp. Bản thân doanh nghiệp sẽ hoạt
động theo quy định của pháp luật và quy Luật thị trường. Sự can thiệp của nhà
nước vào doanh nghiệp chỉ có thể được thực hiện thông qua người đại diện phần
vốn nhà nước trong các doanh nghiệp. Sẽ không có quyết định hành chính nào của
11
Đề tài: Hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước
người hay đơn vị đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp được ban hành nhằm điều
chỉnh hoạt động của doanh nghiệp.
Tóm lại, doanh nghiệp nhà nước đã có sự thay đổi về mô hình, cách thức quản
lý, sự can thiệp của nhà nước… qua các thời kỳ qua các thời kỳ theo hướng ngày
càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa mà
Đảng và nhà nước đã đề ra. Với Luật doanh nghiệp 2005, cách hiểu về doanh
nghiệp nhà nước ở Việt Nam đã có nhiều nét tương đồng với thế giới, qua đó góp
phần thu hẹp sự khác biệt về loại hình doanh nghiệp nhà nước ở nước ta so với thế
Đề tài: Hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước
bị ảnh hưởng khi nước ngoài cắt giảm nguồn xuất khẩu từ đó có thể dẫn đến những
bất ổn về chính trị hoặc điều đó có thể đặt ta vào vị thế yếu hơn trước đối tác.
Ngoài ra, doanh nghiệp nhà nước còn đảm nhận một nhiệm vụ chính trị quan trong
là xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cho an ninh quốc phòng. Đây là những doanh
nghiệp hết sức quan trọng đối với quốc gia. Chúng đảm bảo cho chúng ta có một
nền quốc phòng vững chắc. Với vai trò đó không thể giao cho các thành phần kinh
tế khác sở hữu loại doanh nghiệp này. Mà chỉ có nhà nước với các quyền năng và
chức trách của mình mới có thể sở hữu các doanh nghiệp đó.
1.1.2.2 Về mặt xã hội.
Về mặt xã hội, doanh nghiệp nhà nước góp phần tạo việc làm, tạo thu nhập
cho người lao động. Với một số lượng lớn doanh nghiệp nhà nước thì số việc làm
tạo ra là một đóng góp lớn cho nhu cầu việc làm của xã hội. Và tại các doanh
nghiệp nhà nước các chế độ về quyền lợi của người lao động được đảm bảo tốt đặc
biệt là có sự hoạt động mạnh của tổ chức công đoàn. Ngoài ra, bằng cách thành lập
mới các doanh nghiệp nhà nước ở những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó
khăn, nhà nước đã vực dậy tiềm năng kinh tế của vùng đó và qua đó cũng góp phần
cải thiện đời sống kinh tế xã hội của vùng chẳng hạn như nhiều lao động sẽ có việc
làm (bao gồm cả lao động trực tiếp và lao động gián tiếp), hệ thống cơ sở hạ tầng sẽ
phát triển theo sự phát triển của các dự án, công trình. Và đặc biệt một trong những
chức năng xã hội của doanh nghiệp nhà nước là chức năng xây dựng cơ sở hạ tầng,
các công trình phúc lợi xã hội, các công trình đòi hỏi vốn lớn nhưng thu hồi vốn
chậm mà các thành phần kinh tế khác không muốn tham gia. Đó có thể là đường sá,
cầu cống, bệnh viện, trường học…Doanh nghiệp nhà nước còn đi đầu trong áp
dụng khoa học công nghệ từ đó thúc đẩy việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản
xuất trong các ngành, lĩnh vực liên quan.
1.1.2.3 Về mặt kinh tế.
Về kinh tế, doanh nghiệp nhà nước đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách đồng
giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập trung tại một địa điểm;
các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình
thành nên giá giao dịch. TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the
counter). Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các
công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng
điện tử. Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận.
Với Việt Nam, sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11-7-1998 Chính
phủ đã ký ban hành Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK chính
thức khai sinh cho Thị trường chứng khoán Việt Nam.
Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội. Việc chuẩn bị cho TTCKVN thực ra đã
do Uỷ Ban Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/1996/NĐ-CP ngày
28-11-1996.
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) được
thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đi
vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000. Qua 7 năm
với sự tăng trưởng của thị trường và hội nhập với TTCK thế giới, Trung tâm giao
dịch chứng khoán Tp.HCM đã chính thức được Chính phủ ký Quyết định
số:599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 chuyển đổi thành Sở giao dịch Chứng khoán
Tp.HCM. Ngày 08/08/2007, SGDCK TP.HCM đã chính thức được khai trương.
14
Đề tài: Hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước
Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thức ra đời
vào ngày 8/3/2005. Khác với TTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giao dịch
chứng khoán của các công ty lớn), TTGDCK Hà Nội sẽ là “sân chơi” cho các DN
nhỏ và vừa (với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ đồng). Sau 4 năm hoạt động Trung tâm
Giao dịch Chứng khoán Hà Nội được chuyển đổi, tổ chức lại theo Quyết định số
thua lỗ đồng nghĩa với việc nhà nước mất tiền. Trong hoàn cảnh đó thị trường
15
Đề tài: Hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước
chứng khoán là một giải pháp tốt cho vấn đề. Khi tham gia vào thị trường chứng
khoán doanh nghiệp nhà nước có thể huy động vốn từ các thành phần kinh tế khác
và từ nhân dân. Đây sẽ là một nguồn vốn khổng lồ mà thị trường chứng khoán
mang lại cho doanh nghiệp qua đó làm giảm gánh nặng về vốn cho nhà nước. Hơn
nữa khi có được nguồn vốn hùng hậu doanh nghiệp sẽ có điều kiện thực hiện các
dự án, phát triển khoa học công nghệ, tăng cường đội ngũ cán bộ, nhân viên có
trình độ cao từ đó kinh doanh có hiệu quả hơn. Thêm nữa khi doanh nghiệp làm ăn
không hiệu quả xảy ra thua lỗ thì nhà nước cũng được chia sẽ phần thua lỗ đó. Còn
nếu doanh nghiệp làm ăn hiệu quả thì nhà nước ngoài có thêm nguồn thu từ doanh
nghiệp, nhà nước còn có thêm nguồn thu từ các loại thuế.
Thứ hai, ngoài vấn đề về vốn, sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước vào thị
trường chứng khoán còn giúp cải thiện chất lượng quản lý doanh nghiệp, đưa doanh
nghiệp hoạt động đúng với quy Luật thị trường. Tại sao như vậy? Vì khi doanh
nghiệp gia nhập thị trường chứng khoán có nghĩa là doanh nghiệp phải thực hiện
công bố thông tin theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Khi đã công bố
thông tin tức là doanh nghiệp đã chịu sự kiểm tra, giám sát của cổ đông, của nhà
đầu tư có quan tâm. Điều này buộc doanh nghiệp phải cẩn trọng trong kinh doanh
để không làm ảnh hưởng đến uy tín và lòng tin của nhà đầu tư đối với doanh
nghiệp. Và cũng vì chịu sự giám sát của nhà đầu tư nên mọi quyết định của người
quản lý doanh nghiệp đều phải minh bạch, phải xuất phát từ lợi ích của doanh
nghiệp điều này sẽ hạn chế tình trạng “công tư bất phân” hoặc các hành vi trục lợi,
tham ô của những người quản lý doanh nghiệp nhà nước. Đây vốn là một vấn đề
nhức nhối mà nhà nước đang cố tìm cách giải quyết. Đồng thời doanh nghiệp có thể
thu hút những cổ đông có trình độ quản lý cao vào bộ máy quản lý doanh nghiệp
d) Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định.
Trong phạm vi luận văn người viết chỉ nghiên cứu hoạt động phát hành đối
với cổ phiếu . Cổ phiếu là loại chứng khoán chủ yếu trên thị trường chứng khoán.
Theo quy định tại khoản 2 điều 6 Luật chứng khoán thì “Cổ phiếu là loại chứng
khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn
cổ phần của tổ chức phát hành.” Cổ phiếu sẽ mang lại cho người nắm giữ nó những
quyền nhất định như là quyền biểu quyết đối với các vấn đề quan trọng của công ty,
quyền hưởng cổ tức và các quyền khác tùy theo loại cổ phần mà họ nắm giữ.
Vậy làm sao để nhà đầu tư có thể nắm giữ cổ phiếu của một công ty? Điều đầu
tiên là công ty phải phát hành cổ phiếu. Hoạt động phát hành cổ phiếu thực chất là
hoạt động chào bán cổ phiếu của công ty cổ phần đến nhà đầu tư. Tuy nhiên,
không phải mọi đối tượng đều được phát hành cổ phiếu mà chỉ những chủ thể phát
hành mới có được quyền này. Theo quy định tại khoản 12 điều 6 Luật chứng khoán
sửa đổi, bổ sung năm 2010 thì hoạt động phát hành hay chào bán chứng khoán
được chia làm hai phương thức là chào bán chứng khoán ra công chúng và chào
bán chứng khoán riêng lẻ.
Đối với tổ chức phát hành, sự phân biệt này xuất phát từ điều kiện, nhu cầu,
mục đích khác nhau. Chẳng hạn, công ty lựa chọn phương thức phát hành riêng lẻ
bởi lẽ do một số nguyên nhân sau:
- Công ty không đủ tiêu chuẩn để phát hành ra công chúng.
- Số lượng vốn cần huy động thấp. Do đó nếu phát hành với hình thức ra công
chúng thì chi phí huy động trên mỗi đồng vốn trở nên quá cao.
17
Đề tài: Hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước
- Công ty phát hành cổ phiếu nhằm duy trì các mối quan hệ kinh doanh. Ví dụ
như: phát hành cổ phiếu cho nhà cung cấp hay tiêu thụ sản phẩm.
chào bán riêng lẻ.
1.3.2 Vai trò của hoạt động phát hành chứng khoán.
Đối với doanh nghiệp, phát hành chứng khoán là một kênh huy động vốn hiệu
quả. Đặc biệt là loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu. Vì khi đó doanh nghiệp sẽ
18
Đề tài: Hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước
huy động được một lượng vốn phục vụ cho các mục đích kinh doanh nhưng không
phải lo trả lãi định kỳ như các khoản vay tại các tổ chức tín dụng. Nếu kinh doanh
thua lỗ doanh nghiệp cũng không cần phải trả lại vốn. Ngoài ra, khi phát hành cổ
phiếu đặc biệt là phát hành ra công chúng thì danh tiếng của doanh nghiệp sẽ được
các nhà đầu tư biết đến và quan tâm. Điều này góp phần nâng cao uy tín của doanh
nghiệp. Hơn nữa khi phát hành chứng khoán doanh nghiệp phải công bố thông tin
theo quy định của pháp luật nên sẽ tạo áp Luật để doanh nghiệp nghiêm túc, minh
bạch hơn trong kinh doanh nhằm lấy được lòng tin qua đó nhận được quan tâm của
nhà đầu tư và như vậy mới đạt mục tiêu thu hút vốn của doanh nghiệp.
Đối với nhà nước, việc phát hành chứng khoán nói chung và cổ phiếu nói
riêng của doanh nghiệp sẽ giúp nhà nước dễ quản lý nền kinh tế hơn. Vì khi phát
hành buộc các doanh nghiệp phải công bố thông tin qua đó nhà nước có thể giám
sát việc kinh doanh của các doanh nghiệp có đúng pháp luật, chính sách. Hơn nữa
dựa vào biến động của thị trường chứng khoán nhà nước sẽ nắm đươc xu hướng thị
trường và tiến hành điều tiết nền kinh tế.
Đối với thị trường chứng khoán và nhà đầu tư, việc tham gia phát hành chứng
khoán của doanh nghiệp sẽ mang lại nguồn hàng hóa cho thị trường chứng khoán
qua đó tăng sự lựa chon cho nhà đầu tư. Thị trường càng nhiều hàng hóa càng sôi
động thì sẽ càng hấp dẫn nhiều nhà đầu tư. Và khi đó nó sẽ là một kênh huy động
vốn quan trọng biến đồng tiền nhàn rỗi trong xã hội thành những nguồn vốn phát
triển kinh tế, phát triển đất nước.
cải cách theo đề nghị của những tổ chức và nhà tài trợ - những cải cách mà vào thời
điểm đầu thập niên 1990 Việt Nam còn chưa nhận thức đầy đủ sự cần thiết và do đó
rất miễn cưỡng thực hiện. Trong số những cải cách miễn cưỡng này có tư nhân hóa
các doanh nghiệp nhà nước. Để tránh gây ra mâu thuẫn sâu sắc với bộ phận cán bộ
và nhân dân lo ngại về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, Chính phủ đã
quyết định sẽ không bán đứt các doanh nghiệp của mình cho các cá nhân, thay vì
đó tiến hành chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp cổ phần. Tài
sản của doanh nghiệp được chia thành các cổ phần bán cho cán bộ công nhân trong
doanh nghiệp và phần còn lại do nhà nước sở hữu. Tùy từng doanh nghiệp, phần cổ
phần do nhà nước sở hữu có thể nhiều hay ít, từ 0% tới 100%. Đó là tiền đề của quá
trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hóa doanh nghiệp là chuyển doanh nghiệp từ loại hình doanh
nghiệp khác không phải là công ty cổ phần sang công ty cổ phần. Chẳng hạn, như
công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển sang công ty cổ phần sau khi được sự nhất trí
của các thành viên và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
Bản chất của cổ phần hóa là chuyển đổi cơ cấu sở hữu, quan hệ giữa các chủ sở hữu
doanh nghiệp. Thể hiện về mặt pháp lý của cổ phần hóa là sự chuyển đổi hình thức
pháp lý của doanh nghiệp và các quy định điều chỉnh của pháp luật.
Như vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp
thuộc sở hữu nhà nước (đơn sở hữu) thành công ty cổ phần (đa sở hữu). Sự chuyển
đổi này được thể hiện ở hai mặt căn bản sau:
Thứ nhất, chuyển hóa quyền sở hữu từ đơn sở hữu sang đa sở hữu. Điều này
kéo theo sự thay đổi quyền quản lý, quyền sử dụng và tạo nên sự gắn kết chặt chẽ
giữa ba quyền liên quan đến tài sản của doanh nghiệp.
20
Đề tài: Hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước
Luật thị trường. Từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát huy tiềm năng, thế mạnh
của mình đồng thời tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế
6
PGS.TS. Lê Văn Tâm: Cổ phần hóa và quản lý doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa; tr9,10. Nxb
Chính trị quốc gia, 2004
7
PGS.Ts. Tô Huy Rứa: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước- dưới góc nhìn kinh tế- xã hội bền vững
TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 1 (122) NĂM 2007
21