LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại PHÁP LUẬT về THANH TRA CHUYÊN NGÀNH tài NGUYÊN môi TRƯỜNG và THỰC TIỄN áp DỤNG tại TỈNH ĐỒNG NAI - Pdf 48

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH
TÀI NGUYÊN MÔI TRƢỜNG VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TẠI TỈNH ĐỒNG NAI

GVHD: Ths.Kim Oanh Na

SVTH: Phạm Thị Thu Vân
Lớp: Luật Thƣơng mại 1 K34
MSSV: 5086014

Cần Thơ, tháng 5/2012


Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
*********
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............

…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............
…………………………………………………………………………...............

SVTH: Phạm Thị Thu Vân

ii


Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn

MỤC LỤC



Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn

2.1.1 Thẩm quyền của Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường……………..34
2.1.2 Thẩm quyền của Chánh Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường……...37
2.1.3 Thẩm quyền của thanh tra Tổng cục, thanh tra Cục…………………….39
2.1.4 Thẩm quyền của Chánh Thanh tra Tổng cục, Chánh Thanh tra Cục……42
2.1.5 Thẩm quyền của Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường……………...43
2.1.6 Thẩm quyền của Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường……...44
2.1.7 Thẩm quyền của thanh tra viên…………………………………………45
2.2 Thực tiễn tổ chức và hoạt động của lực lượng thanh tra môi trường tại tỉnh
Đồng Nai………………………………………………………………………46
2.3 Khó khăn trong việc thực hiện công tác…………………………………..56
2.4 Kiến nghị, đề xuất…………………………………………………………56
KẾT LUẬN……………………………………………………………………63

SVTH: Phạm Thị Thu Vân

iv


Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

chuyên ngành Tài nguyên môi trƣờng và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Đồng
Nai”.
SVTH: Phạm Thị Thu Vân

1


Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn

2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu pháp luật về thanh tra môi trường,tổ chức bộ máy và hoạt động
của lực lượng Thanh tra môi trường trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
đấu tranh phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường.
Qua đó trau dồi thêm kiến thức về bảo vệ môi trường cho bản thân. Cũng trên cơ
sở tìm hiểu những quy định đó, rút ra những thuận lợi và khó khăn và nguyên
nhân của những khó khăn đó để dự báo và vạch ra hướng đi cụ thể thông qua đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng Thanh tra
môi trường.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ cho phép, bài luận văn này người viết tập trung nghiên
cứu các quy định của pháp luật về thẩm quyền của lực lượng thanh tra môi
trường dựa trên cơ sở Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định cụ thể tại Điều 125
và Điều 126, Nghị định 35/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/4/2009 về tổ
chức và hoạt động của Thanh tra tài nguyên và môi trường và Nghị định số
117/2009 về xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, và những tồn tại của
việc áp dụng những quy định đó vào thực tiễn công tác của lực lượng thanh tra
môi trường.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu

đất, nước, không khí,… Môi trường có thể dùng để đề cập tới tất cả những sự
sống và không sống mà nó bao quanh và ảnh hưởng tới sinh vật sống. Nói đến
môi trường, điều quan trọng cần ghi nhớ là không thể ngăn cách hay tách rời các
thành phần môi trường. Đó là các yếu tố tạo thành môi trường như không khí,
nước, âm thanh, ánh sáng, đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật và các hệ sinh
thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên
nhiên, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác…Như vậy, môi trường có thể
xem như tổng các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự phát triển hay tồn tại
của sinh vật và con người.
Theo định nghĩa của UNESCO năm 1967 thì “môi trường sống của con
người là phần không gian mà con người tác động, sử dụng và bị nó làm ảnh
hưởng, là tập hợp các yếu tố vật chất (tự nhiên và nhân tạo) và xã hội xung quanh
con người”. Theo định nghĩa này, nói đến môi trường cần phải làm rõ đó là “môi
trường sống của con người”, để tránh nhầm lẫn với “môi trường sống của sinh
vật”. Theo đó, môi trường gồm 2 nhóm yếu tố:
Nhóm vật chất: bao gồm các yếu tố tự nhiên như đất, nước, không khí, vật
lý, sinh học và các yếu tố nhân tạo như đô thị, máy móc…
Nhóm phi vật chất: bao gồm các yếu tố xã hội và nhân văn như quy chế
luật pháp, chương trình, dự án…có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát
triển của mỗi cá nhân và cộng đồng.
Môi trường có 4 loại chính tác động qua lại lẫn nhau(1):
SVTH: Phạm Thị Thu Vân

3


Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn


(1). Sách Khoa học môi trường, Nxb. Giáo dục, 2007, trang 18
(2). Sách Khoa học môi trường, Nxb. Giáo dục, 2007, trang 23

SVTH: Phạm Thị Thu Vân

4


Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn

bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển
của con người và thiên nhiên”.
Tuy nhiên, Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa gọn lại:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con
người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người
và sinh vật”.
Như vậy, ta có thể hiểu rằng môi trường sống của con người theo Luật bảo
vệ môi trường 2005 bao gồm:
Thứ nhất, môi trường tự nhiên gồm các yếu tố thiên nhiên như vật lý, hóa
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng ít nhiều chịu ảnh hưởng
bởi con người (sông, núi, biển, không khí, đất, nước,…).
Thứ hai, môi trường nhân tạo bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo
nên nhằm tác động tới môi trường làm thành những tiện nghi, phục vụ nhu cầu
của con người: nhà ở, xí nghiệp, công sở, các khu đô thị, công viên nhân tạo,
công trình nghệ thuật, văn hóa.
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người, sinh
vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, của dân tộc và của nhân
loại. Điều 29 Hiến pháp 1992 đã quy định: “Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang,

đòi hỏi của con người. Do xã hội ngày càng phát triển, không gian sống này càng
bị thu hẹp nên đòi hỏi không gian sống ngày càng phải có chất lượng cao hơn.
Khi đó: môi trường đất, nước, không khí đều đảm bảo tiêu chuẩn cho phép của
môi trường, không chứa chất độc hại gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
Thứ hai, môi trường cung cấp tài liệu cho sự phát triển xã hội (bao gồm cả
các tài nguyên, không gian môi trường và năng lượng).
Con người khai thác trong thiên nhiên những nguồn tài nguyên như: đất,
nước, không khí, gỗ, than đá và các nguồn năng lượng khác để tạo ra của cải vật
chất nhằm phục vụ nhu cầu hằng ngày của mình. Thiên nhiên là nguồn cung cấp
mọi tài nguyên cần thiết để đáp ứng nhu cầu đang tăng cả về số lượng, chất lượng
và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của con người.
Thứ ba, môi trường chấp nhận và tự làm sạch rác thải.
Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong
cuộc sống và hoạt động sản xuất. Trong sản xuất và tiêu dùng, con người luôn
đưa chất thải vào môi trường. Khi dân số còn thưa thớt, chất thải phân hủy tự
nhiên làm cho các chất thải một thời gian biến đổi lại trở lại trạng thái nguyên
liệu của tự nhiên, không những tránh ô nhiễm mà còn tái tạo nguồn nguyên liệu
tự nhiên. Khi dân số thế giới gia tăng quá nhanh, cộng với quá trình công nghiệp
hóa và quá trình đô thị hóa làm gia tăng lượng chất thải, gây ô nhiễm môi trường
mỗi ngày một nặng do chất thải không kịp phân hủy hoặc xử lý không xuể, quá
trình làm sạch rác thải diễn ra chậm hơn.
Thứ tư, môi trường lưu trữ và cung cấp thông tin (các quy luật khoa học,
các thông tin về khảo cổ), cung cấp các tiện nghi môi trường.
Môi trường sống của con người chính là nơi lưu lại lịch sử địa chất và lịch
sử tiến hóa của vật chất, sinh vật và lịch sử phát triển của loài người, cung cấp dự
SVTH: Phạm Thị Thu Vân

6



Đây cũng được xem là biện pháp quan trọng vì thông qua đó sẽ hình thành
và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân. Ý thức của cộng
đồng về bảo vệ môi trường sẽ được nâng cao thông qua các hoạt động tuyên
truyền và giáo dục. Càng mở rộng các hoạt động giáo dục cộng đồng về tác hại
(3). Giáo trình Luật môi trường, Đại học Luật Hà Nội, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội – 2007, trang 22

SVTH: Phạm Thị Thu Vân

7


Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn

của sự ô nhiễm, suy thoái môi trường thì càng nâng cao được hiệu quả của công
tác bảo vệ môi trường.
Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta cũng đặc biệt chú ý đến việc
giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường(4).
Các biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ pháp luật có thể thực hiện dưới mọi
hình thức, cấp độ và phạm vi khác nhau. Điển hình là các hình thức như đưa giáo
dục ý thức bảo vệ môi trường vào chương trình học tập; sử dụng rộng rãi các
phương tiện truyền thông; tổ chức các diễn đàn và các cuộc điều tra xã hội…
Biện pháp kinh tế
Biện pháp kinh tế đang là một trong những biện pháp tác động có hiệu quả
nhất hiện nay vì nó tác động vào chính lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân để
các chủ thể này vì lợi ích của mình mà phải thay đổi hành vi xử sự đối với môi
trường. Biện pháp này tác động vào lợi ích kinh tế ở hai phương diện: trừng phạt
về kinh tế đối với hành vi tác động có hại cho môi trường trên cơ sở nguyên tắc
người gây ô nhiễm phải trả tiền, khuyến khích về lợi ích kinh tế cho những hành

phát triển nâng cao mức sống trong khi vẫn đảm bảo các yêu cầu về môi
trường thông qua việc áp dụng công nghệ sạch, sử dụng năng lượng tái sinh, vật
liệu mới…
Việc bảo vệ môi trường, quy luật hoạt động của môi trường nói chung và
các yếu tố cấu thành nó nói riêng không thể thực hiện được một cách đầy đủ nếu
thiếu các biện pháp khoa học công nghệ.
Ví dụ như việc xử lý chất thải, nếu các cộng đồng chỉ xử lý chất thải bằng
các phương pháp thủ công như đốt rác, chôn rác thì việc tránh ô nhiễm này sẽ dẫn
đến sự ô nhiễm khác.
Biện pháp pháp lý
Với các đặc trưng như mang tính quy phạm phổ biến và được bảo đảm
thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế và các hoạt động khác của Nhà nước. Khi
nói đến bảo vệ môi trường, chúng ta không thể không nhắc đến các biện pháp
pháp lý. Pháp luật đã và đang khẳng định vai trò không thể thiếu trong hoạt động
bảo vệ môi trường hiện nay. Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều
chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi
trường. Có thể nói đây chính là biện pháp đảm bảo thực hiện các biện pháp bảo
vệ môi trường nói trên. Các cam kết về mặt chính trị, chính sách môi trường của
đảng cầm quyền…chỉ có thể đi vào thực tiễn khi chúng được thể chế hóa bằng
pháp luật. Thông qua pháp luật, nhà nước xác định rõ nguyên tắc, mục đích và
nội dung quản lí môi trường, hướng hành vi xử sự của con người trong việc giữ
gìn và làm trong sạch môi trường sống, làm cân bằng hiện trạng môi trường.
1.1.3 Tình hình môi trƣờng và sự cần thiết của việc bảo vệ môi trƣờng
1.1.3.1 Tình hình môi trƣờng
Thực trạng môi trường toàn cầu đang là mối quan tâm, lo lắng của cộng
đồng quốc tế. Vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường đang là mối lo, mối hiểm
họa và là nhân tố kìm hãm sự phát triển bền vững của toàn nhân loại. Một trong
những thách thức mang tính toàn cầu hiện nay là phải giải quyết tình trạng môi
trường bị suy thoái và biến đổi bất lợi cho đời sống sản xuất của con người.
SVTH: Phạm Thị Thu Vân

lên 269 cơn(7). Năm 2010, trận lụt dữ dội chưa từng có ở Pakistan đã làm chết
hơn 1.600 người, đợt nắng nóng khủng khiếp nhất từ 1.000 năm qua ở Nga, lở
đất kinh hoàng ở Trung Quốc đã làm hơn 1.117 người bị chết và hơn 627 người
bị mất tích, Trung Âu chìm trong biển nước… Một loạt thiên tai khủng khiếp xảy
ra trong mùa hè 2010 được coi là những cảnh báo nhãn tiền về tác hại của biến
đổi khí hậu. Năm 2011, cơn lũ ở Thái Lan được xem là cơn lũ tồi tệ nhất trong
nửa thế kỷ qua tại đất nước này làm ít nhất 562 người thiệt mạng và phá hủy
hàng triệu nhà cửa, khu sản xuất.

(6). Giáo trình Hóa học môi trường, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2006, trang 47
(7).Website: />
SVTH: Phạm Thị Thu Vân

10


Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn

Tình trạng môi trường ở Việt Nam cũng có những nét chung của môi
trường thế giới và cũng có những nét riêng do hoàn cảnh lịch sử và sự phát triển
của đất nước qua các giai đoạn khác nhau. Có nhiều mặt, có nhiều yếu tố, thực
trạng môi trường của Việt Nam còn xấu hơn ở nhiều nước trên thế giới.
Việc môi trường bị hủy hoại diễn ra do nhiều yếu tố khác nhau. Mỗi yếu
tố của môi trường chịu sự tác động của một hoặc một vài nhân tố khác nhau đồng
thời cũng chịu tác động trực tiếp lẫn nhau. Trong số các nhân tố ảnh hưởng đến
môi trường sống của con người cần phải kể đến việc gây ô nhiễm, việc đô thị
hóa, phát triển công nghiệp, phá rừng, khai thác tài nguyên bừa bãi.
Môi trường Việt Nam hiện nay được xem như là “con thuyền có mức tải

nguồn nước mặt trong vùng dân cư.
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước
bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính
500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. Ở thành phố Thái
Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang
thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực
thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản
xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ
cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ
thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương).
Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn
các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác
SVTH: Phạm Thị Thu Vân

13


Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn

thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan
trọng gây ra ô nhiễm nước.
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như
Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng
không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá
tiêu chuẩn cho phép, các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; oxy hoà tan
(DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần tiêu chuẩn cho phép.

Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn

- Ý thức bảo vệ môi trường của phần lớn các tầng lớp người dân còn thấp.
Những khó khăn trước mắt về kinh tế làm cho người dân không thấy được tác hại
của việc hủy hoại môi trường.
1.1.3.2 Sự cần thiết của việc bảo vệ môi trƣờng
Môi trường đang bị hủy hoại từng ngày, cùng với những hậu quả nghiêm
trọng xảy ra trong những năm gần đây ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có
Việt Nam đang là tiếng chuông báo động lớn về tình hình ô nhiễm môi trường
trầm trọng trên toàn thế giới, buộc các quốc gia chú ý hơn tới những biện pháp
hữu hiệu nhằm bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng trong
chiến lược phát triển của các quốc gia và được thực hiện dưới nhiều cấp độ khác
nhau như cấp độ cá nhân, cộng đồng, địa phương, vùng, quốc gia, quốc tế. Nhiều
trung tâm nghiên cứu môi trường được thành lập để nghiên cứu các tác động của
môi trường và các biện pháp đối phó nhằm giảm thiểu các hậu quả tiêu cực do ô
nhiễm môi trường có thể mang lại.
Môi trường rất cần thiết cho cuộc sống của con người, cung cấp cho con
người những điều kiện để sống (như ăn, ở, mặc, hít thở…). Nếu không có những
điều kiện đó con người không thể sống, tồn tại và phát triển được. Con người
sống được cần phải ăn, ở, mặc, hít thở không khí trong lành… Những điều kiện
thiết yếu đó của cuộc sống là do môi trường cung cấp. Vì vậy, môi trường rất cần
thiết cho cuộc sống của con người. Thế nhưng, môi trường bị ô nhiễm chủ yếu do
con người gây ra. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 nước ta phải đối phó với
những vấn đề hết sức khó khăn do yếu tố môi trường mang lại chưa được giải
quyết trong khi dự báo mức độ ô nhiễm tiếp tục gia tăng, đây cũng là vấn đề đối
với môi trường nước ta hiện nay.
Hiện nay, do dân số ngày càng tăng; do sự phát triển công nghiệp tạo ra
nhiều khí thải, nước thải; do sự tàn phá rừng,… khiến cho môi trường đang bị ô

2004, Luật bảo vệ môi trường 2005, Bộ luật dân sự 2005, Bộ luật hình sự 1999
(sửa đổi, bổ sung 2009), Luật khoáng sản 2010…
Văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên của Việt Nam liên quan đến lĩnh vực
môi trường là Sắc lệnh 142/SL ngày 21/12/1949 quy định về kiểm soát lập biên
bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng. Tiếp đó chúng ta có Pháp lệnh về
bảo vệ rừng ban hành ngày 11/9/1972.
Kể từ khi Luật bảo vệ môi trường 1993 ra đời, đến nay Việt Nam đã có
Luật bảo vệ môi trường 2005 (thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 1993) là văn
bản làm hành lang pháp lý cho mọi hoạt động về bảo vệ môi trường trong quá
trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước ta. Với 136 Điều, Luật bảo vệ môi
trường 2005 đã điều chỉnh hầu hết các mối liên hệ, liên quan trong hoạt động của
con người đến các thành phần môi trường.
Ngoài luật bảo vệ môi trường còn có nhiều luật khác điều chỉnh các thành
phần môi trường như Luật đất đai 2003, Luật khoáng sản 2010, Luật bảo vệ và
phát triển rừng 1998, Bộ luật hình sự 1999,… Giữa các Luật và Nghị định về bảo
vệ môi trường hiện nay đã có sự trùng lặp, chồng chéo và mâu thuẫn trong việc
áp dụng luật và các văn bản dưới luật; đặc biệt là sự trùng lắp về các quy định
trong Luật bảo vệ môi trường với các luật về tài nguyên. Điều đó cho thấy rất cần
có sự thống nhất giữa các bộ luật có liên quan đến bảo vệ môi trường và tài
nguyên.
SVTH: Phạm Thị Thu Vân

16


Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn

Bên cạnh đó, Nhà nước ta còn ban hành một số văn bản dưới luật liên

SVTH: Phạm Thị Thu Vân

17


Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai
nnnnnnnnnn

Thông tư số 48/2011/TT-BTNMT ngày 28/12/2011của Bộ Tài nguyên và
Môi trường sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT
của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu
kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp.
Nhìn chung, những quy định của pháp luật Việt Nam trong công tác bảo
vệ môi trường được Nhà nước ta ban hành khá hoàn chỉnh. Thông qua pháp luật,
giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho người dân, qua đó họ tự ý thức được và
cải thiện môi trường ngày tốt hơn. Tuy nhiên, để tránh sự chồng chéo giữa Luật
bảo vệ môi trường và các luật về tài nguyên, Nhà nước ta nên xây dựng Luật bảo
vệ môi trường với tư cách là luật chung, điều chỉnh những vấn đề mang tính
nguyên tắc như :bảo tồn, khai thác và sử dụng các thành phần môi trường và tài
nguyên; nguyên tắc kiểm soát ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường… Các vấn đề
cụ thể trong việc sử dụng, khai thác, quản lý, bảo vệ các thành phần môi trường
sẽ do các luật về tài nguyên điều chỉnh (luật khoáng sản 2010, luật bảo vệ và phát
triển rừng 1998, luật đất đai 2003…).
1.2 Những vấn đề cơ bản về Thanh tra chuyên ngành Tài nguyên và Môi
trƣờng
1.2.1 Quá trình thành lập lực lƣợng Thanh tra môi trƣờng
Năm 1992, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường được thành lập. Cục
Môi trường là cơ quan đầu tiên chuyên trách về môi trường có chức năng giúp Bộ
trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thống nhất quản lý các hoạt động

thanh tra chuyên ngành.
Luật Bảo vệ môi trường 2005 thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 1993
là một bước tiến quan trọng trong quá trình lập pháp, với nhiều quy định mới
được sửa đổi, bổ sung đã tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ và góp phần quan
trọng vào việc bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian qua.
Song song với quá trình hình thành và phát triển của pháp luật bảo vệ môi
trường, ngày 30 tháng 9 năm 2008, sự ra đời của Tổng cục Môi trường theo
Quyết định số 132/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là một bước quan
trọng trong tiến trình hệ thống lại các cơ quan quản lý môi truờng của nhà nước,
đồng thời đánh dấu sự trưởng thành và phát triển của ngành môi trường ở nước
ta. Với những giai đoạn đánh dấu như vậy, lực lượng thanh tra chuyên ngành tài
nguyên và môi trường từng bước phát triển về tổ chức, chuyên môn nghiệp vụ
được nâng cao, đảm bảo thực hiện tốt vai trò và nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra của
mình.
1.2.2 Vị trí và chức năng của Thanh tra môi trƣờng
Thanh tra bảo vệ môi trường là thanh tra chuyên ngành bảo vệ môi trường.
Thanh tra bảo vệ môi trường có đồng phục và phù hiệu riêng, có thiết bị và
phương tiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ.(11)
Thanh tra Tài nguyên và Môi trường là cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh
vực, được tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 35/2009; thực hiện
chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành về đất đai, tài nguyên
(11). Khoản 1 Điều 125 Luật Bảo vệ môi trường 2005

SVTH: Phạm Thị Thu Vân

19


Đề tài: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Đồng Nai

trực tiếp của Thủ trưởng cùng cấp và thanh tra nội dung, trình tự, thủ tục tiến
hành thanh tra hành chính.
(12). Giáo trình Luật môi trường, Đại học Luật Hà Nội, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, trang 77

SVTH: Phạm Thị Thu Vân

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status