BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
PHẠM VĂN HIỀN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐÁNH GIÁ GIÁO DỤC
CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử giáo dục
Mã số: 914 01 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội, 2018
CÔNG TRÌNH ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS, TS Nguyễn Thị Hạnh
2. TS Tạ Thị Ngọc Thanh
Phản biện : PGS.TS Thái Văn Thành
Trường Đại học Vinh
Phản biện : PGS.TS Nguyễn Vũ Bích HIền
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phản biện : PGS.TS Nguyễn Thị Tuyết Nga
Viện Khoa học giáo dục Việt Nam
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp : Viện
họp tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 101 Trần Hưng Đạo, Hà Nội
Vào hồi ..... giờ ........ ngày ......... tháng ....... năm 2018
sinh tiểu học theo hướng phát triển năng lực thông qua môn Toán và
Tiếng Việt”, Tạp chí khoa học Học viện quản lý giáo dục, số 10, No.11.
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Yêu cầu của xã hội
Phát triển nguồn nhân lực theo định hướng năng lực đang là mối quan tâm lớn
của Đảng, Nhà nước và đặt trọng trách đối với GD&ĐT. Trong hệ thống GD&ĐT,
đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng của hệ thống và trước hết là GVTH
- giáo viên của cấp học nền tảng. Nhìn tổng quát có thể thấy chức năng của GVTH
rộng hơn, trong đó năng lực ĐGGD của GV là một trong những năng lực nghề
nghiệp, năng lực này phải có những thay đổi theo các hướng, như: mục tiêu đánh giá
khác hơn so với trước, trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn nội dung đánh giá,
chuyển mạnh từ chỗ đánh giá kiến thức sang đánh giá năng lực của HS; sử dụng
nhiều phương pháp, hình thức, công cụ đánh giá khác nhau; coi trọng hơn việc đánh
giá phân hóa; thay đổi tính chất trong quan hệ thầy - trò; yêu cầu hợp tác rộng rãi và
chặt chẽ hơn với các giáo viên cùng trường; thắt chặt hơn mối quan hệ với cha mẹ HS
và cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng học tập của HS... Do vậy, phải đổi mới
cách đào tạo năng lực ĐGGD cho SVTH (GVTH trong tương lai) và điều chỉnh, phát
triển năng lực này theo các yêu cầu trên. Về mặt giáo dục, yêu cầu này cũng hoàn
toàn phù hợp đối với GVTH trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
1.2. Yêu cầu phát triển năng lực đánh giá giáo dục cho sinh viên tiểu học
Xu hướng đào tạo giáo viên hiện nay là chuyển từ đào tạo nghề (qualification)
sang đào tạo năng lực hành nghề (competency), tức là đào tạo ra những người lao
động vừa có kiến thức, kỹ năng, năng lực nghề nghiệp để hành nghề và có khả năng
tự thay đổi và thích nghi với sự phát triển của khoa học công nghệ và nghề nghiệp
mới. Như vậy, năng lực của người giáo viên nói chung, trong đó có năng lực ĐGGD
cần phải được cập nhật với sự đổi mới giáo dục.
- Đề tài khảo sát thực trạng ở các trường: ĐH Thủ Đô, ĐH Hồng Đức (Thanh
Hóa), ĐH Hoa Lư (Ninh Bình), ĐH Vinh (Nghệ An), ĐHSP Thái Nguyên (thuộc ĐH
Thái Nguyên) và ĐH Đồng Nai từ tháng 9/2015 đến tháng 3/2016.
- Tổ chức thực nghiệm tại Trường ĐH Hồng Đức và ĐH Hoa Lư vào học kỳ 1
năm học 2015-2016 và học kỳ 1 năm học 2016-2017.
7. PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phƣơng pháp luận: Tiếp cận hệ thống, tiếp cận lịch sử - logic, tiếp cận
thực tiễn và tiếp cận hoạt động.
7.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
7.2.2. Phương pháp điều tra phỏng vấn bằng anket (hoặc phiếu hỏi)
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
7.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7.2.6. Phương pháp xử lý số liệu
8. LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
8.1. Năng lực ĐGGD cần hình thành cho SVĐH ngành GDTH là năng lực
chuyên biệt, phải được hình thành và phát triển ở các trường sư phạm có đào tạo
GVTH. Năng lực này được cấu thành bởi 6 thành tố: lập kế hoạch đánh giá; lựa chọn
và phát triển công cụ đánh giá; thực hiện đánh giá và xử lý, phân tích kết quả đánh
giá; sử dụng kết quả đánh giá; thông báo, phản hồi kết quả đánh giá và nghiên cứu về
khoa học ĐGGD ở tiểu học.
8.2. Ở các trường sư phạm có đào tạo GVTH hiện nay, việc tổ chức dạy học
nhằm hình thành và phát triển năng lực ĐGGD cho SVĐH ngành GDTH chưa được
quan tâm đúng mức cả về lý luận và thực tiễn.
8.3. Việc nghiên cứu, áp dụng các biện pháp nhằm phát triển năng lực ĐGGD
cho SV được đề xuất trong luận án sẽ góp phần đổi mới nội dung và phương pháp
dạy học để phát triển năng lực này cho SVTH đạt chuẩn về năng lực, đáp ứng nhu
cầu giáo dục ở trường tiểu học.
9. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐÁNH GIÁ
GIÁO DỤC CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC
1.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Những nghiên cứu về đánh giá kết quả giáo dục học sinh phổ thông
a. Trên thế giới: Trước những năm 1950, các công trình nghiên cứu về vấn đề
ĐG KQGD của HS được xem như là những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả của
quá trình DH, điển hình như: J.A.Comenxki (1592-1670), I.B.Bazelov (1724-1790)...
Những năm 1950-1970, nhiệm vụ của GD là nâng cao chất lượng dạy học trên
cơ sở phát huy tính tích cực độc lập của HS, việc nghiên cứu chủ yếu nhằm hoàn
thiện quá trình dạy học, tập trung vào 2 vấn đề: Một là: Nghiên cứu và làm sáng tỏ
chức năng của kiểm tra, đánh giá với vai trò là chức năng GD. Hai là: Các hình thức
ĐG KQGD phải thích hợp với từng HS và từng môn học.
Những năm 1970 trở lại đây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu giải quyết
từng vấn đề cụ thể trong quá trình kiểm tra, đánh giá KQGD của HS. Đặc biệt, một
trào lưu GD trong giai đoạn này với chủ trương xác định kết quả GD bằng cách mô tả
cụ thể và có thể đo lường được những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà HS cần phải
đạt được sau khi kết thúc khóa học, điển hình như: Hart (1994), Dierick và Dochy
(2001), Earl Lorna (2003), Reynolds, Livingston & Willson (2006), Susan M.
Brookhart, Anthony J. Nitko (2007)...
b. Tại Việt Nam: Kế thừa những thành tựu của các nước có nền GD tiên tiến,
các nghiên cứu tập trung chủ yếu nhằm xây dựng và hoàn thiện quá trình ĐG KQGD
của HS, nhiều tác giả đã khẳng định, vấn đề kiểm tra, đánh giá KQGD của HS như là
một phạm trù của lý luận dạy học, là khâu không thể thiếu của quá trình dạy học. Vì
5
vậy, phải được chú trọng và thực hiện một cách khoa học, có thể kể đến một số nhà
nghiên cứu tiêu biểu cho xu hướng này, như: Đặng Vũ Hoạt (1981) Hà Thị Đức
(1986) Trần Thị Tuyết Oanh,...
1.1.2. Những nghiên cứu về đánh giá kết quả giáo dục học sinh tiểu học
- Chưa xây dựng công cụ để đánh giá mức độ hình thành và phát triển năng lực
ĐGGD cho SVĐH ngành GDTH.
- Chưa đề xuất được các biện pháp phát triển NL ĐGGD cho SV ngành GDTH.
Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề trên với đối tượng SVĐH ngành GDTH
hiện nay là cấp bách và cần thiết.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1. Đánh giá giáo dục
- Đánh giá: Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, phân tích, xử lý thông tin
để tìm ra các chỉ số về lượng, giá trị hoặc sự quan trọng của nó trong so sánh với mục
đích, mục tiêu đã đặt ra từ trước, từ đó đưa ra ý kiến, phán xét, khuyến nghị nhằm
giúp cải thiện, nâng cao chất lượng công việc.
- Đánh giá giáo dục: là quá trình thu thập, phân tích và lí giải kịp thời, có hệ
thống các thông tin về thực trạng, khả năng hay nguyên nhân về chất lượng và hiệu
quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục đã được đặt ra, làm cơ sở cho các nhà
quản lý, giáo viên, học sinh, các bên có liên quan đưa ra những điều chỉnh, bổ sung,
hoàn thiện những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo để cải thiện,
nâng cao chất lượng giáo dục.
1.2.3. Năng lực đánh giá giáo dục
- Năng lực: là tổng hòa các yếu tố nhận thức (kiến thức, kỹ năng) và các yếu tố
phi nhận thức (thái độ, xúc cảm, động cơ...) của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của
một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả.
7
- Năng lực đánh giá giáo dục: Năng lực ĐGGD của GV được hiểu là tổng hoà
các yếu tố nhận thức (kiến thức, kỹ năng) về ĐGGD, các yếu tố phi nhận thức (thái độ,
niềm tin, xúc cảm...) trong đánh giá giúp giáo viên có thể đánh giá được đầy đủ, khách
quan năng lực học tập của học sinh.
1.2.4. Phát triển năng lực đánh giá giáo dục
- Phát triển: Phát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động biểu hiện
KQGD của HS mà SV có được nhờ trãi qua quá trình dạy học)
Giai đoạn 3: Vận dụng (năng lực ĐGGD được hình thành cho SV nhờ sự hợp
nhất những kiến thức, kỹ năng, thái độ, động cơ... đã học được và những tố chất nhân
cách khác, gắn với những nhiệm vụ cần thực hiện trong quá trình dạy học).
8
Giai đoạn 4: Thực hiện (kết quả của việc thể hiện năng lực ĐGGD vào giải
quyết các nhiệm vụ thực tế).
1.3.3. Cấu trúc của năng lực đánh giá giáo dục cho sinh viên
Nếu xét về mặt khái niệm, năng lực là tổng hòa các yếu tố nhận thức (kiến
thức, kỹ năng) và các yếu tố phi nhận thức (thái độ, niềm tin, xúc cảm, động cơ). Khi
đã nói tổng hòa, có nghĩa là không tách ra từng phần được.
Để hình thành và phát triển năng lực trong dạy học, năng lực được phân chia
thành các thành tố. Mỗi thành tố chính là một kỹ năng thực hiện; mỗi kỹ năng được
thể hiện bởi các hành vi, mỗi hành vi có thể được thể hiện ở nhiều mức hành động
khác nhau. Chính ở cấu trúc như vậy, người ta mới có thể rèn luyện, đo lường và
đánh giá năng lực được.
Như vậy, năng lực ĐGGD cho SV được xem xét ở 3 thành phần chính sau:
- Các hợp phần của năng lực (components of competency): là lĩnh vực chuyên
môn (domain) về ĐGGD - thể hiện khả năng tiềm ẩn của SV. Mỗi hợp phần là mô tả
khái quát của một hay nhiều hoạt động và điều kiện hoạt động trong đánh giá;
- Các thành tố của năng lực (Element of competency): là các kỹ năng ĐGGD
cơ bản, kết hợp với nhau tạo nên mỗi hợp phần, thường được bắt đầu với động từ mô
tả rõ ràng giá trị của hoạt động đánh giá;
- Tiêu chí thực hiện (performance criteria): chỉ rõ yêu cầu cần thực hiện của
mỗi thành tố, gọi là chỉ số hành vi (behavioral indicator) và mức độ thành thạo ở mỗi
yêu cầu đó, gọi là tiêu chí chất lượng (quality criteria).
1.3.4. Chuẩn năng lực đánh giá giáo dục cho sinh viên trƣớc khi tốt nghiệp
và đƣờng phát triển năng lực
thông tin ĐG thu
đƣợc
D. Sử dụng kết quả
đánh giá
E. Thông báo, phản
hồi KQĐG cho HS,
gia đình HS và các
đối tƣợng liên quan
G. Nghiên cứu về
khoa học ĐGGD
Mô tả
Khả năng sử dụng (áp dụng) các công cụ đánh đúng cách,
thu nhập các thông tin đánh giá qua các công cụ, xử lý
thông tin thu được (định tính và định lượng) và giải thích
được các kết quả đánh giá.
Sử dụng kết quả đánh giá để đưa ra các quyết định về HS,
lập kế hoạch dạy học, phát triển chương trình, phát triển
nhà trường.
Kỹ năng thông báo bằng văn bản hoặc trao đổi về kết quả
đánh giá cho HS, phụ huynh, các nhà giáo dục và các đối
tượng liên quan khác.
Đây là kỹ năng đòi hỏi người giáo viên phải thường xuyên
đọc hiểu các công trình về đánh giá kết quả giáo dục.
1.3.4.2. Đường phát triển năng lực đánh giá giáo dục
Đường phát triển năng lực ĐGGD gồm 5 mức độ:
Bảng 1.2: Các mức độ phát triển năng lực đánh giá giáo dục
Mức độ
Mô tả chi tiết
10
năng lực ĐGGD là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình đào tạo năng lực này cho
SVTH và việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang
điều khiển “đầu ra”, tức là năng lực ĐGGD cho SV.
1.4.3. Nội dung dạy học phát triển năng lực đánh giá giáo dục cho sinh
viên đại học ngành giáo dục tiểu học
Mục tiêu dạy học là nhằm phát triển ở SV năng lực chuyên biệt là năng lực
ĐGGD và các năng lực chung, như: năng lực tư duy, năng lực tự học, năng lực giải
quyết vấn đề... Như vậy, chuẩn năng lực ĐGGD cho SV chính là nội dung đầu vào
cần phải dạy trong học phần này, gồm các yếu tố về kiến thức, kỹ năng, thái độ, động
cơ, sự sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đánh giá và các nhiệm vụ thực tiễn đòi hỏi người
học phải giải quyết ở nhà trường tiểu học.
1.4.4. Hoạt động giảng dạy của giảng viên
Giảng viên tham gia thiết kế chuẩn năng lực ĐGGD cho SV, xây dựng đề
cương chi tiết học phần, xây dựng kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện dạy học; thực
hiện kế hoạch dạy học và đánh giá, hướng dẫn SV tự đánh giá.
1.4.5. Hoạt động học tập của sinh viên
Chuẩn bị hoạt động học tập; thực hiện hoạt động học tập ở lớp và thực hành ở
trường tiểu học; tham gia vào quá trình đánh giá kết quả học tập của mình theo chuẩn
năng lực ĐGGD và thực hiện hoạt động tự học theo chuẩn năng lực ĐGGD cho SV.
1.4.6. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển năng lực đánh giá giáo dục
cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học
Các yếu tố khách quan: Ảnh hưởng của giảng viên; nội dung, chương trình,
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, giáo dục ở các trường sư phạm; Học phần
“Đánh giá trong giáo dục tiểu học”; việc tham gia vào các hoạt động ở trường tiểu
học và sự hợp tác của bạn bè
Các yếu tố chủ quan: Về phía GV và về phía SV.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Xuất phát từ việc đổi mới đánh giá KQGD của HSPT nói chung, HSTH nói
riêng, vấn đề năng lực của giáo viên trong đánh giá KQGD của HS đã được nhiều tác
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐÁNH GIÁ GIÁO DỤC
CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC
2.1. KHÁI QUÁT VỀ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
2.1.1. Mục đích khảo sát
Tìm hiểu nhận thức của các bên liên quan (giảng viên, sinh viên, giáo viên tiểu
học) về năng lực ĐGGD cần phát triển cho SV và quá trình tổ chức dạy học ở trường
sư phạm (mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá) đã giúp
hình thành và phát triển những thành tố nào, còn bỏ sót những thành tố nào của năng
lực này. Lấy đó làm cơ sở thực tiễn để đề xuất các biện pháp phát triển năng lực
ĐGGD cho SV.
2.1.2. Nội dung khảo sát
- Nhận thức của giảng viên, sinh viên, giáo viên tiểu học về năng lực ĐGGD
cần phát triển cho SV;
- Thực trạng tổ chức dạy học ở trường sư phạm và các yếu tố ảnh hưởng đến
dạy học nhằm hình thành và phát triển năng lực ĐGGD cho SVĐH ngành GDTH;
- Thực trạng năng lực ĐGGD của SVĐH ngành GDTH trước khi tốt nghiệp.
2.1.3. Đối tƣợng và thời gian khảo sát
2.1.3.1. Đối tượng khảo sát: gồm ba nhóm
- Điều tra 71 giảng viên và 350 SV ngành giáo dục tiểu học của 6 trường ĐH
đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam, gồm: Trường ĐH Hồng Đức, Thanh Hóa;
12
Trường ĐH Vinh; Trường ĐH Hoa Lư, Ninh Bình; Trường ĐH Đồng Nai; Trường
ĐHSP - ĐH Thái nguyên và Trường ĐH Thủ đô.
- Điều tra 107 giáo viên đang dạy học tại 5 trường tiểu học trên địa bàn Thanh
Hóa và thành phố Hà Nội.
2.1.3.2. Thời gian: Tháng 9/2015 đến tháng 3/2016
2.1.4. Công cụ khảo sát: Phiếu trưng cầu ý kiến, phỏng vấn và quan sát sư phạm
độc lập, sáng tạo (100%). Bên cạnh đó, các mục tiêu khác cũng được giảng viên chú ý,
như: rèn luyện những kỹ năng tương ứng với nội dung bài học (87.32%), hình thành ở
SV tình cảm nghề nghiệp (83.09%). Riêng mục tiêu hình thành ở SV thái độ, động cơ,
sự sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ thì ít được giảng viên lựa chọn (32.39%), mà trong dạy
học nhằm hình thành và phát triển năng lực rất cần mục tiêu này.
13
Về đánh giá mức độ quan trọng các thành tố của năng lực ĐGGD cho SV, kết
quả khảo sát cho thấy giảng viên, sinh viên, giáo viên tiểu học đánh giá rất rất cao kỹ
năng lựa chọn và phát triển công cụ đánh giá (94,13%), điều này chứng tỏ quy trình
đánh giá KQGD của HSTH còn có nhiều hạn chế và sự cần thiết trong việc xây dựng,
điều chỉnh và công bố chuẩn năng lực ĐGGD cho SV ngành GDTH.
2.2.3. Thực trạng nội dung dạy học nhằm hình thành và phát triển năng
lực đánh giá giáo dục cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học
Thăm dò ý kiến của 71 giảng viên và 350 SV, kết quả khảo nghiệm như sau:
Về sự cần thiết: Có 87% các chỉ số hành vi năng lực ĐGGD cho SV đã xác lập
được đánh giá là cần thiết và rất cần thiết, 13% được đánh giá là tương đối cần thiết
và không có tiêu chí nào được đánh giá là không cần thiết hoặc ít cần thiết. Một số
chỉ số hành vi được đánh giá rất cao từ 4.2 đến 4.6 thể hiện mức độ cần thiết và rất
cần thiết trong quá trình dạy học; các chỉ số còn lại được đánh giá ở mức từ 3.7 đến
4.1, đây là những chỉ số ít được quan tâm trong quá trình dạy học và trong hoạt động
thực tiễn nghề nghiệp, mặc dù các chỉ số này rất cần thiết trong dạy học nhằm hình
thành và phát triển năng lực ĐGGD cho SV.
Về tính phù hợp: Các ý kiến đánh giá ở mức độ thấp hơn so với sự cần thiết.
Có 36,4% chỉ số hành vi được đánh giá ở mức phù hợp và rất phù hợp, 63,6% chỉ số
còn lại được đánh giá là tương đối phù hợp và không có chỉ số nào được đánh giá là
không phù hợp hoặc ít phù hợp. Sở dĩ có sự khác biệt về kết quả đánh giá giữa sự cần
thiết và tính phù hợp về các chỉ số của năng lực ĐGGD cho SV là do những người
được hỏi cho rằng một số chỉ số là rất cần thiết, tuy nhiên khi áp dụng vào quá trình
được sử dụng thường xuyên, như: dự án: 24.06%, hợp đồng: 1.67%, trãi nghiệm:
2.09%, ... điều này đã có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo GVTH, hạn chế
việc hình thành và phát triển năng lực ở SV trong đó có năng lực đánh giá.
2.2.6. Thực trạng năng lực đánh giá giáo dục của sinh viên tốt nghiệp
Kết quả khảo sát cho thấy: đánh giá chủ quan của đội ngũ giảng viên về năng
lực ĐGGD của SV tốt nghiệp là: tiêu chí về kiến thức được đánh giá rất cao (điểm
trung bình: 4,3), tiêu chí về thái độ được đánh giá ở mức cao (điểm trung bình: 3,89),
tiêu chí về kỹ năng và tiêu chí năng lực được đánh giá ở mức trung bình (điểm trung
bình: 3,28 và 2,96).
Mặt khác, ý kiến của 107 GVTH cho thấy, GVTH đánh giá năng lực ĐGGD
đối với SV mới tốt nghiệp thấp hơn so với đánh giá của giảng viên các trường sư
phạm. Chỉ có 3 tiêu chí có điểm đánh giá ở mức cao (3,55-3,57-4,09), tiêu chí về
năng lực được đánh giá ở mức trung bình (2,82).
2.2.7. Nhận định về thực trạng phát triển năng lực đánh giá giáo dục cho
sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học
Từ kết quả khảo sát thực trạng, chúng tôi thấy xuất hiện một số vấn đề sau:
Một là: Phát triển năng lực ĐGGD cho SV là rất cần thiết, tuy nhiên các SV
sau khi tốt nghiệp thì năng lực này còn rất hạn chế.
Hai là: Dạy học giúp SV có kiển thức, kỹ năng, năng lực ĐGGD, nhưng việc
áp dụng những điều đã học ở trường sư phạm vào thực tiễn đánh giá KQGD của HS ở
trường tiểu học như thế nào là vấn đề quan trọng hơn. Qua kết quả điều tra cho thấy,
SV hiện nay ít được áp dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn ở trường tiểu
học. Đây có thể là khoảng cách nhất định giữa trường đào tạo với nơi sử dụng sản
phẩm đào tạo của trường (các trường tiểu học).
Ba là: Việc đánh giá SV ở các trường sư phạm còn mang nặng về đánh giá
kiến thức, kỹ năng; đánh giá năng lực ít được quan tâm; hay nói đúng hơn việc đánh
giá SV hiện nay của các trường sư phạm chưa hướng theo chuẩn năng lực, cũng như
yêu cầu về đánh giá HS ở các trường tiểu học.
3.2. CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐÁNH GIÁ GIÁO DỤC
CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC
3.2.1. Biện pháp 1: Điều chỉnh, hoàn thiện chuẩn năng lực đánh giá giáo
dục cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học trƣớc khi tốt nghiệp
3.2.1.1. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp
Chuẩn năng lực ĐGGD cho SV được điều chỉnh, hoàn thiện dựa trên cơ sở kết
hợp mô hình nhân cách với mô hình hoạt động nghề nghiệp tương lai của. Việc thiết
kế chuẩn năng lực ĐGGD cho SVĐH ngành GDTH trước khi tốt nghiệp sẽ giúp SV
biết rõ mình phải học gì và làm được những gì để đáp ứng nhiệm vụ đánh giá KQGD
của HS ở trường tiểu học. Từ đó, SV biết xây dựng được kế hoạch học tập và rèn
luyện cho bản thân khi học tập ở trường sư phạm.
16
3.2.1.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
a. Các hướng tiếp cận để điều chỉnh, hoàn thiện chuẩn NL ĐGGD cho SV
Tiếp cận hệ thống; tiếp cận phân tích quy trình thực hiện ĐGGD và chức năng
của GVTH trong đánh giá; tiếp cận mô hình hoạt động của giáo viên tiểu học và tiếp
cận quy trình thiết kế chuẩn năng lực
b. Chuẩn năng lực ĐGGD cho SVĐH ngành GDTH
- Xác định các thành tố của năng lực ĐGGD cho SVĐH ngành GDTH
Trên cơ sở chuẩn năng lực ĐGGD cho SV (mục 1.3.4.1), năng lực ĐGGD dự
kiến phát triển ở SVTH sẽ gồm sáu thành tố là: (A) lập kế hoạch đánh giá; (B) lựa chọn
và phát triển công cụ đánh giá; (C) thực hiện đánh giá và xử lý, phân tích thông tin
đánh giá thu được; (D) sử dụng kết quả đánh giá; (E) thông báo, phản hồi kết quả đánh
giá cho HS, gia đình HS, các đối tượng khác và (G) nghiên cứu về khoa học ĐGGD.
- Xác định các chỉ số hành vi năng lực ĐGGD cho SV
Hình 3.1 Cấu trúc năng lực ĐGGD cho sinh viên (6 thành tố và 16 chỉ số hành vi)
- Xây dựng tiêu chí chất lượng
17
Mẫu thử nghiệm là 30 SV K14 ĐHGD Tiểu học, Trường ĐH Hồng Đức (năm
thứ 4). Dữ liệu sau khi thu thập, được mã hóa/ chấm điểm, được nhập (số hóa) và làm
sạch trước khi phân tích. Sau đó phân tích và xử lý thông qua phần mềm
CONQUEST.
- Bảng điểm của SV
- Phân tích kết quả thử nghiệm
+ Độ tin cậy của đề (Coefficient Alpha) = 0.86, đề có độ tin cậy cao
+ Biểu đồ đặc trưng của đề
Hình 3.2 Biểu đồ đặc trƣng của đề
Như vậy, Theo biểu đồ đặc trưng của đề cho thấy đề hơi khó so với NL của SV.
Xác định điểm cắt: Chúng tôi xác định 3 điểm cắt với các mức điểm logit
tương ứng là: -1,4 (câu 2 gốc); 0,2 (câu 17 gốc); 1,3 (câu 16 gốc). Các điểm cắt này
sẽ chia đường phát triển năng lực thành 4 mức. Tuy nhiên, trong thực tế thử nghiệm
đề, ở mức 4 chỉ có 1 câu hỏi (câu 7) nên chúng tôi ghép vào mức 3.
- Điều chỉnh và quyết định chuẩn năng lực ĐGGD cho SV: Bằng kỹ thuật
“Skill audit” để điều chỉnh chuẩn năng lực ĐGGD cho SV đã phác thảo, chúng tôi
quyết định chuẩn năng lực ĐGGD cho SVĐH ngành GDTH như sau:
Bảng 3.8: Chuẩn năng lực ĐGGD cho SVĐH ngành GDTH
Mức độ
Mô tả
SV đã gắn kết các kiễn thức, kỹ năng, năng lực ĐGGD với những tình
huống, bối cảnh đánh giá thông thường trên lớp học. Trong các trường hợp
điển hình, SV bước đầu lập được kế hoạch và thực hiện kế hoạch đánh giá
Mức 3 KQGD của HSTH cho lớp, biết sử dụng kết quả đánh giá vào việc thông
báo cho các bên liên quan làm cơ sở đề xuất giải pháp cho chính giáo viên,
HS, các bên liên quan khác điều chỉnh từng yếu tố của quá trình dạy học
tiết học phần, Hiệu trưởng phê duyệt và công khai cho SV vào đầu khóa học và trước
khi tổ chức giảng dạy học phần. Đề cương chi tiết học phần được biên soạn phải đảm
bảo 8 nội dung sau: (1) Những thông tin chung; (2) Mục tiêu học phần: gồm: bao
gồm các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, năng lực chung, năng lực chuyên biệt; (3)
Mô tả tóm tắt nội dung học phần; (4) Cấu trúc học phần, gồm 2 phần lý thuyết và
thực hành; (5) Hình thức tổ chức dạy học; (6) Nhiệm vụ của SV; (7) Cách đánh giá
SV và (8) Những tài liệu học tập.
b. Xây dựng nội dung dạy học
Nội dung dạy học học phần “Đánh giá trong giáo dục tiểu học” nhằm phát
triển năng lực ĐGGD cho SV được xây dựng, điều chỉnh dưới dạng modul, bao gồm
5 tiểu modul, mỗi tiểu modul có các chủ đề để đảm bảo phát triển 6 thành tố của năng
lực ĐGGD cho SV, gồm:
Tiểu modul 1: Một số khái niệm cơ bản, chức năng, nguyên tắc đánh giá trong
giáo dục tiểu học
Tiểu modul 2: Hình thức kiểm tra và đánh giá trong giáo dục tiểu học
Tiểu modul 3: Nội dung đánh giá trong giáo dục tiểu học
Tiểu modul 4: Kỹ thuật đánh giá trong giáo dục tiểu học
Tiểu modul 5: Sử dụng và thông báo kết quả đánh giá
3.2.3. Biện pháp 3: Thiết kế các nhiệm vụ học tập nhƣ là một phƣơng
pháp dạy học để phát triển năng lực đánh giá giáo dục cho sinh viên
3.2.3.1. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp
Thiết kế các nhiệm vụ học tập như là một phương pháp dạy học theo mức độ
tăng dần độ khó. Đây chính là xây dựng các nội dung hoạt động cho SV trong quá
trình học tập bằng cách tăng dần độ khó nhằm củng cố kiến thức, hình thành kỹ năng
và năng lực ĐGGD cho SV.
3.2.3.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
Chúng tôi đề xuất thiết kế các nhiệm vụ học tập nhằm phát triển năng lực
ĐGGD cho SV dựa vào hoạt động tương tác giữa SV với SV theo 4 mức độ tăng dần
độ khó, như sau:
theo các thông tin phản hồi, tự học và tự ĐG, góp phần nâng cao động lực học khi SV
nhìn thấy sự tiến bộ của bản thân về kiến thức, kỹ năng và năng lực ĐGGD.
* Nội dung và cách thức thực hiện
Việc sử dụng phương pháp đánh giá theo cách tiếp cận tham chiếu cá nhân SV
thường chú trọng đến các giá trị, nguyện vọng, mong đợi của chính SV trong quá
trình học. Giải thích kết quả đánh giá theo tham chiếu cá nhân có nghĩa là sẽ giải
thích thành tích hiện tại so với thành tích trước đó của chính SV, hoặc so với công
việc tốt nhất, hoặc phần tốt nhất trong các công việc trước đây. Chu trình đánh giá
tham chiếu cá nhân (hình 3.5)
Phản hồi 1
Phản hồi 2
Đánh giá 1
Đánh giá 2
Đánh giá 3
So sánh 2 với 1
So sánh 3 với 2
Hình 3.5: Chu trình đánh giá tham chiếu cá nhân
20
Hình 3.5 thể hiện cách tham chiếu cá nhân trong một chu trình đánh giá gồm 3
giai đoạn: sử dụng những phản hồi KQĐG 1 để chuyển sang ĐG 2, so sánh KQĐG 2
với 1 để nhận định về sự tiến bộ của bản thân SV; sử dụng những phản hồi KQĐG 2
để chuyển sang ĐG 3, so sánh KQĐG 3 với 2 để đưa ra những nhận định về sự tiến
bộ của bản thân SV. Kết quả đánh giá SV được thể hiện, như: Số điểm cần đạt (chẳng
hạn: 5 điểm); tỷ lệ % SV đạt từ điểm trung bình trở lên; có/ không thành tố/ kỹ năng
về năng lực ĐGGD cho SV.
và phát triển năng lực ĐGGD cho SV đạt hiệu quả thì cần phối kết hợp cả bốn biện
pháp một cách khoa học, linh hoạt và hệ thống.
3.2.5.2. Điều kiện thực hiện bốn biện pháp đề xuất trong luận án
a) Đối với cấp quản lý và giảng viên
b) Đối với SV
21
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn ở chương 1, 2, luận án đã đề xuất hai nguyên tắc
và bốn biện pháp phát triển năng lực ĐGGD cho SVĐH ngành GDTH.
Các biện pháp xây dựng tuân thủ hai nguyên tắc: Nguyên tắc đảm bảo tính
khoa học và nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả, khả thi.
Trên cơ sở hai nguyên tắc đã xây dựng, chúng tôi đề xuất bốn biện pháp phát
triển năng lực ĐGGD cho SVĐH ngành GDTH, gồm: Biện pháp 1: Điều chỉnh, hoàn
thiện chuẩn năng lực đánh giá giáo dục cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học
trước khi tốt nghiệp; Biện pháp 2: Xác định nội dung dạy học học phần “Đánh giá
trong giáo dục tiểu học” nhằm phát triển năng lực ĐGGD cho SV; biện pháp 3:
Thiết kế các nhiệm vụ học tập cho SV như là một phương pháp dạy học để phát triển
năng lực ĐGGD và biện pháp 4: đánh giá kết quả học tập đối với SV theo khung
đánh giá năng lực.
Trong bốn biện pháp đã xây dựng thì biện pháp 1 là quan trọng, chi phối các
biện pháp 2, 3, 4. Mỗi biện pháp đều đề ra mục tiêu, nội dung và cách thực hiện. Các
biện pháp có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất nhằm phát triển năng lực ĐGGD cho
SVĐH ngành GDTH.
Chƣơng 4.
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
4.1. KHÁI QUÁT VỀ THỰC NGHIỆM
4.1.1. Mục đích thực nghiệm
Thực nghiệm nhằm mục đích kiểm chứng tính khoa học của giả thuyết và tính
Tỷ lệ (%)
TT
Nội dung
N
Mức 1
Mức 2
Mức 3
1 Trước TN đợt 1
71.11
28.89
0
45
2 Sau TN đợt 1
8,89
68,89
22,22
45
3 Trước TN đợt 2
76,07
23,93
0
117
4 Sau TN đợt 2
18,80
44,44
44,44
117
Từ kết quả bảng 4.13 và các biện pháp điều tra hỗ trợ khác trong quá trình tổ chức
dạy học, như: phiếu trưng cầu ý kiến giảng viên và CBQL, SV và các cơ sở sử dụng SV
tốt nghiệp ngành GDTH. Chúng tôi rút ra một số nhận xét về kết quả thực nghiệm, cụ