VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
CHUYÊN ĐỀ
“Thực trạng và giải pháp hạn chế án trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng có liên quan đến trách nhiệm của Kiểm sát viên”
MỞ ĐẦU
Thực hiện Chỉ thị số: 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng Viện
KSND tối cao về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn
công tố với hoạt động điều tra đáp yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm; Kế
hoạch số 38/KH-VKS ngày 09/01/2017 về Công tác năm 2017 của Viện KSND
tỉnh Bình Định và Kế hoạch số: 153/KH-VKS-P1 ngày 07/02/2017 của Viện
KSND tỉnh Bình Định về thực hiện khâu công tác đột phá “Hạn chế án hình sự trả
hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan đến trách
nhiệm của Kiểm sát viên”; xuất phát từ thực tiễn tình hình công tác thực hành
quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự thuộc
thẩm quyền của Viện kiểm sát 02 cấp của ngành Kiểm sát tỉnh Bình Định (VKS 02
cấp) trong thời gian qua (Từ 01/12/2013 đến 28/02/2017); Phòng 1 Viện KSND
tỉnh Bình Định nghiên cứu xây dựng chuyên đề “Thực trạng và giải pháp hạn chế
án trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan đến
trách nhiệm của Kiểm sát viên” nhằm đánh giá đúng thực chất công tác Thực hành
quyền công tố, KSĐT, KSXX sơ thẩm án hình sự và thực trạng án hình sự trả hồ
sơ yêu cầu điều tra bổ sung của Viện kiểm sát 02 cấp; xác định nguyên nhân, trách
nhiệm và đề ra giải pháp nhằm hạn chế việc án trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các
cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là án trả hồ sơ điều tra bổ sung có liên quan đến
trách nhiệm của Kiểm sát viên, bảo đảm việc đấu tranh xử lý tội phạm chính xác,
kịp thời, đúng pháp luật; tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan người không có tội.
Nội dung Chuyên đề: Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận; bố cục được
chia thành 3 mục lớn, gồm:
- Thực trạng án hình sự trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến
- Tổng số vụ CQĐT kết thúc điều tra đề nghị VKS truy tố: 623 vụ / 1.250 bị can.
- Số vụ VKS trả hồ sơ ĐTBS lần 1: 04 vụ / 13 bị can (chiếm 0,64%).
- Cơ quan điều tra chấp nhận: 06 vụ.
- Lý do trả hồ sơ điều tra bổ sung: Thiếu chứng cứ quan trọng (Khoản 1 Điều
168/BLHS).
- Đơn vị có án trả hồ sơ ĐTBS: Phòng 1, Phòng 3, Phù Mỹ (mỗi nơi 01 vụ);
Quy Nhơn (02 vụ).
- Số vụ trả hồ sơ lần 2: 01 vụ / 02 bị can (Quy Nhơn).
- Thay đổi kết quả điều tra: 04 vụ.
- Trách nhiệm của Kiểm sát viên: 03 vụ (Phòng 1, Quy Nhơn, Phù Mỹ).
- Trách nhiệm của Cơ quan điều tra không điều tra theo yêu cầu của Viện
kiểm sát trong lần trả hồ sơ điều tra bổ sung lần 1: 01 vụ (Quy Nhơn).
1.4. Quý I/2017 (từ 01/12/2016 đến 28/02/2017)
- Tổng số vụ CQĐT kết thúc điều tra đề nghị VKS truy tố: 148 vụ / 357 bị can.
- Số vụ VKS trả hồ sơ ĐTBS: 01 vụ / 02 bị can (Trả lần 2 nên không tính tỷ lệ).
- Cơ quan điều tra chấp nhận: 01 vụ.
- Lý do trả hồ sơ điều tra bổ sung: Thiếu chứng cứ quan trọng (Khoản 1 Điều
168/BLHS).
- Đơn vị có án trả hồ sơ ĐTBS: Tây Sơn.
- Thay đổi kết quả điều tra: 0 vụ.
- Trách nhiệm của Kiểm sát viên: 0 vụ.
2
- Trách nhiệm của CQĐT không điều tra theo yêu cầu của VKS trong lần trả
thứ nhất: 01 vụ.
2. Tòa án trả cho Viện kiểm sát
2.1. Năm 2014
- Tổng số vụ Tòa án thụ lý xét xử: 761 vụ / 1.351 bị cáo.
3
- Số vụ Tòa án trả hồ sơ ĐTBS: 25 vụ / 67 bị cáo.
- Số vụ VKS chấp nhận: 08 vụ / 12 bị cáo (Chiếm 1,2%).
- Số vụ VKS không chấp nhận: 17 vụ / 55 bị cáo (Phòng 1: 04 vụ; Phòng 3:
06 vụ; Tuy Phước: 03 vụ, Phù Mỹ: 02 vụ; Hoài Nhơn: 01; Vân Canh: 01).
- Số vụ VKS trả cho CQĐT điều tra: 08 vụ / 12 bị cáo (CQĐT chấp nhận).
- Lý do trả hồ sơ điều tra bổ sung:
+ Thiếu chứng cứ quan trọng 06 vụ / 09 bị cáo.
+ Bị can phạm tội khác: 02 vụ / 03 bị cáo.
- Các đơn vị có án trả hồ sơ ĐTBS được chấp nhận là: Quy Nhơn (02 vụ / 03
bị cáo); Tuy Phước (02 vụ / 03 bị cáo); Phù Cát (01 vụ / 01 bị cáo); Hoài Nhơn (01
vụ / 02 bị cáo); Tây Sơn (01 vụ / 02 bị cáo), An Lão (01 vụ / 01 bị cáo).
- Thay đổi quyết định truy tố: 07 vụ.
- Trách nhiệm của Kiểm sát viên: 08 vụ.
2.4. Quý I/2017 (Từ 01/12/2016 đến 28/02/2017)
- Tổng số vụ Tòa án thụ lý xét xử: 140 vụ / 308 bị cáo.
- Số vụ Tòa án trả hồ sơ ĐTBS: 03 vụ / 08 bị cáo.
- Số vụ VKS chấp nhận: 03 vụ / 08 bị cáo (Chiếm 2,1%).
- Số vụ VKS không chấp nhận: Không.
- Số vụ VKS trả cho CQĐT điều tra: 03 vụ / 08 bị cáo (CQĐT chấp nhận: 02
vụ / 07 bị cáo; CQĐT không chấp nhận: 01 vụ / 01 bị cáo).
- Lý do trả hồ sơ điều tra bổ sung:
+ Thiếu chứng cứ quan trọng 02 vụ / 02 bị cáo.
+ Đồng phạm khác, vi phạm thủ tục tố tụng: 01 vụ / 06 bị cáo.
- Các đơn vị có án trả hồ sơ ĐTBS được chấp nhận là: Tuy Phước (01 vụ / 06
bị cáo); Phù Mỹ (02 vụ / 02 bị cáo).
- Không thay đổi quyết định truy tố: 01 vụ / 01 bị cáo (Cơ quan điều tra
Tòa án trong những trường hợp Tòa án trả không đúng.
- Số vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung hầu hết là do thiếu chứng cứ quan trọng.
Điều này cho thấy việc đánh giá chứng của CQĐT, VKS mà nói đúng hơn là của
ĐTV, KSV còn nhiều hạn chế.
- Có vụ án, Tòa án trả hồ sơ yêu cầu điều tra với nhiều lý do như: Bỏ lọt tội
phạm, vi phạm nghiêm trong thủ tục tố tụng. Cụ thể là vụ Nguyễn Tây cùng đồng
phạm - Điều 104/BLHS. Điều này chứng tỏ trách nhiệm của Kiểm sát viên chưa
cao. Mặc dù trong suốt quá trình điều tra, bị cáo Tây đã không khai ra đồng phạm
mà cho đến khi xét xử bị cáo mới khai. Và đây được xem là tình tiết mới phát sinh
tại phiên tòa.
- Số vụ Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung không đúng, nên Viện kiểm sát trả
lại hồ sơ cho Tòa án còn xảy ra nhiều, đặc biệt là năm 2016 có đến 17 vụ / 55 bị
cáo (cấp tỉnh 10 vụ / 39 bị cáo). Điều này cho thấy Kiểm sát viên và lãnh đạo Viện
kiểm sát đã nghiên cứu và vận dụng tốt Thông tư liên tịch số: 01; đồng thời kiên
quyết giữ nguyên quan điểm truy tố, trả lại những vụ án Tòa án trả không đúng;
chứng tỏ chúng ta phối hợp nhưng không thỏa hiệp; kiên quyết nhưng không bảo
thủ.
- Có 01 đơn vị không có án trả hồ sơ điều tra bổ sung (VKS Hoài Ân); có 01
đơn vị có 01 vụ Tòa án trả điều tra bổ sung không đúng nên trả lại (VKS Vân
Canh); có đơn vị có án trả hồ sơ điều tra bổ sung ít (Phòng 1).
- Một số đơn vị để xảy ra án trả hồ sơ điều tra bổ sung chiếm tỷ lệ cao: Phòng
3 (năm 2014 là 12%; năm 2015 là 7,4%; năm 2016 là 6,25%); VKS Vĩnh Thạnh
(năm 2014 là 11,1%; năm 2015 là 7,7%); VKS An Lão (năm 2016 là 7,7%); VKS
Phù Mỹ (năm 2015 là 7,1%; Quý I/2017 là 25%); VKS Tuy Phước (Quý I/2017 là
6,66%).
- Có 01 đơn vị năm nào cũng có án trả hồ sơ điều tra bổ sung (VKS Phù Mỹ).
5
của Trần Văn Hùng đã cấu thành tội “Giết người” chứ không phải “Cố ý gây
thương tích”. Tuy nhiên đây là vấn đề không đơn giản và thuộc phạm trù nhận
thức cùng với kinh nghiệm thực tiễn xử lý loại án này.
- Vụ Nguyễn Ngọc Chấn cùng đồng phạm bị khởi tố về tội “Cản trở giao
thông đường bộ” - Tuy Phước: Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện Nguyễn
Ngọc Chấn điều khiển xe ôtô đỗ tại đoạn đường có biển “Cấm dừng, cấm đỗ” thì
bị Nguyễn Văn Tẩu điều khiển xe mô tô ba bánh chở vợ là Nguyễn Thị Lệ tông
vào. Hậu quả là Lệ chết. Như vậy, nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông này là
do Chấn không tuân thủ quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
khi tham gia giao thông; đỗ xe không đúng nơi quy định là vi phạm Điều 18 Luật
Giao thông đường bộ. Do đó, hành vi của Chấn là phạm tội “Vi phạm quy định về
điều khiển giao thông đường bộ” chứ không phải tội “Cản trở giao thông đường
6
bộ”. Về vấn đề này, không chỉ Tuy Phước mà thực tiễn cho thấy nhiều năm, nhiều
đơn vị cũng mắc phải “lỗi” này.
4.3. Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc người phạm tội khác
- Vụ Nguyễn Đức Phương, Lê Anh Tuấn, can tội “Vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ” - Hoài Nhơn: Tài liệu, chứng cứ thể hiện
Nguyễn Văn Cường giao xe môtô cho Tuấn (không có giấy phép lái xe theo quy
định) điều khiển gây tai nạn làm chết 01 người, nên Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ
sung để làm rõ hành vi phạm tội của Cường. Kết quả điều tra bổ sung đã xác định
khi Cường giao xe cho Tuấn thì Cường nghĩ rằng Tuấn đã có Giấy phép lái xe theo
quy định vì Tuấn đã trên 18 tuổi, Tuấn đang là sinh viên,... nên Nguyễn Văn
Cường không phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các
phương tiện giao thông đường bộ” (Vấn đề này đã được hướng dẫn trong Thông
tư liên tịch số: 09 ngày 28/8/2013 của Liên ngành Trung ương hướng dẫn áp dụng
một số quy định tại Chương XIX của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự,
Vụ Đỗ Hoàng Duy, can tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ” - Vĩnh Thạnh.
+ Trong Kết luận định giá không kết luận thiệt hại của tài sản (cầu treo O5)
mà sử dụng cụm từ “Dự toán dự trù phần thiệt hại về sửa chữa cầu treo O5”.
+ Việc định giá thiệt hại của cầu treo O5 không tuân thủ nguyên tắc định giá
quy định của Thông tư số: 55/2006/TT-BTC ngày 22/6/2006 “Hướng dẫn thực
hiện một số điều của Nghị định số: 26/2005/NĐ-CP ngày 02/3/2005 của Chính
phủ về Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự”; do đó kết quả định giá
thiệt hại của cầu treo O5 do bị can Đỗ Hoàng Duy gây ra của Hội đồng định giá tài
sản trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Thạnh cao hơn tổng chi phí thực tế sửa chữa
toàn bộ chiếc cầu này là không hợp lý.
c) Thiếu chứng cứ buộc tội bị can
Vụ Hồ Đức Lâm, Nguyễn Duy Vinh, can tội “Cố ý gây thương tích” – Tây
Sơn: Trong vụ án này, rất nhiều vấn đề chưa được chứng minh, làm rõ để làm căn
cứ buộc tội bị can, như: Không tiến hành đối chất để giải quyết các mâu thuẫn
trong lời khai, không làm rõ cơ chế hình thành các thương tích trên người nạn
nhân, chưa làm rõ ý thưc chủ quan của bị can khi thực hiện hành vi phạm tội,...
d) Giám định lại thương tích
Vụ Trần Văn Tín, can tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao
thông đường bộ” - Tây Sơn:
- Kết quả giám định ban đầu của Trung tâm pháp y tỉnh Bình định đối với bị
hại Nguyễn Hữu Thinh là 71% với các thương tích: Chấn thương sọ não; chấn
thương cột sống cổ và cột sống thắt lưng; gãy phức tạp 1/3 dưới xương đùi phải và
vỡ mâm chày phải, đã phẩu thuật kết hợp xương đùi và mâm chày phải. Hiện tại
tri giác tỉnh táo tiếp xúc tốt, liệt cứng tứ chi, gãy vỡ 1/3 dưới xương chày phải và
mâm chày phải đang bất động bằng khung cố định ngoài.
- Sau khi có kết quả giám định, bệnh tình của ông Thinh ngày càng nặng
thêm (chân tay bị co rút, co giật), nên gia đình đưa vào Bệnh viện Chợ Rẫy, Tp Hồ
II. TRÁCH NHIỆM VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH TRẠNG ÁN
HÌNH SỰ TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG GIỮA CÁC CƠ QUAN TIẾN
HÀNH TỐ TỤNG
1. Trách nhiệm dẫn đến án trả hồ sơ điều tra bổ sung
Chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung ngoài việc được quy định trong Bộ luật tố
tụng hình sự, còn được quy định, hướng dẫn tại một số văn bản hướng dẫn thi
hành, đó là: Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng
Thẩm phán TAND tối cao, Thông tư liên tịch số: 01/2010/TTLT-VKSNDTCBCA-TANDTC ngày 27/8/2010 của Viện KSND tối cao, Bộ Công an, Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ
để điều tra bổ sung. Pháp luật cho phép Cơ quan tiến hành tố tụng trả hồ sơ vụ án
để điều tra bổ sung, nhằm:
- Bảo đảm việc điều tra, truy tố của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải tuân
thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự,
nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, công dân, tổ chức.
- Bảo đảm đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội đối với bị can, bị cáo và giải
quyết vụ án, đó là những vấn đề cần phải chứng minh được quy định tại trong Bộ
luật Tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, việc trả hồ sơ vụ án hình sự để điều tra bổ sung được Viện KSND
tối cao hạn chế trong một tỷ lệ nhất định. Theo đó, đơn vị và Kiểm sát viên để xảy
ra tình trạng này sẽ bị đánh giá về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, thành tích thi
đua,... Có vấn đề này, bởi lẽ:
- Viện KSND là cơ quan duy nhất được nhân danh Nhà nước Thực hành
quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; trong đó có hoạt động kiểm sát điều tra
vụ án hình sự, nhằm đảm bảo việc buộc tội đối với người phạm tội và đảm bảo
hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ vụ án của Cơ quan điều tra phải khách quan,
toàn diện, tuân thủ đúng quy định pháp luật. Do đó, việc trả hồ sơ vụ án để điều tra
9
nghiên cứu, tra cứu các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, các văn bản có liên
quan - kể cả những quy định gần như nằm lòng như: Các quy định về hỏi cung bị
can chưa thành niên, lấy lời khai bị hại, nhân chứng chưa thành niên,... Và đây là
những thiếu sót đáng trách.
1.2. Kiểm sát viên định tội sai do không chịu khó nghiên cứu kỹ tội danh
được quy định trong bộ luật hình sự; không nghiên cứu kỹ các văn bản hướng
dẫn, các Thông báo rút kinh nghiệm,...
Việc định tội sai xảy ra ở không ít Kiểm sát viên là một trong những vấn đề
quan trọng, có ý nghĩa rất lớn trong đấu tranh phòng chống tội phạm và chất lượng
xử lý vụ án hình sự.
- Trong các trường hợp mà Bộ luật hình sự quy định nhiều tội có cấu thành cơ
bản gần giống nhau hoặc những tội phải dựa vào lỗi, động cơ, mục đích, thậm chí
10
là tính chất, mức độ của hành vi khách quan của bị can để định tội, thì việc định
tội danh sai có thể thông cảm được. Điển hình là vụ Trần Văn Hùng, can tội “Cố ý
gây thương tích” ở An Lão.
- Việc định tội danh “Cố ý gây thương tích” hay “Giết người” (thuộc trường
hợp chưa đạt - không có hậu quả chết người) hoặc trong trường hợp Cố ý gây
thương tích (hậu quả chết người) và Giết người là những trường hợp mà việc xác
định “ranh giới” này không hề đơn giản và đang còn nhiều tranh cãi, nhất là về
nhận thức. Vì việc định tội danh này phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau trong
từng vụ án cụ thể.
- Tuy nhiên, đối với những vụ án đã xảy ra trên địa bàn và đã được giải quyết,
được tập huấn, được thông báo rút kinh nghiệm, nhưng Kiểm sát viên vẫn định tội
danh sai, thì trách nhiệm trước hết thuộc về Kiểm sát viên.
Ví dụ như vụ Nguyễn Ngọc Chấn: Hành vi điều khiển xe tham gia giao thông
rồi đậu đỗ xe không đúng quy định của Luật Giao thông đường bộ, gây ra tai nạn
cầu bồi thường, thì tại phiên tòa Kiểm sát viên lập luận và đề nghị tách phần dân
sự để giải quyết riêng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.4. Kiểm sát viên không bám sát hoạt động điều tra vụ án, nên không dự
lường được các tình tiết phát sinh trong vụ án để yêu cầu điều tra sát hợp, khả thi,
chất lượng, dẫn đến việc Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung vì phát sinh tình tiết
mới tại phiên tòa.
Vụ Nguyễn Xuân Dũng, can tội “Trộm cắp tài sản”. Trong hồ sơ vụ án có căn
cứ cho thấy những biểu hiện bị bệnh tâm thần của bị can Dũng đã có từ trước chứ
không phải phát sinh tại phiên tòa. Nhưng Cơ quan điều tra cố tình né tránh việc
giám định tâm thần, còn Kiểm sát viên không tham gia hỏi cung cùng Điều tra
viên nên không phát hiện ra và cũng không nhận thấy được những biểu hiện đó
khi phúc cung bị can hoặc đọc các lời khai của người thân, hàng xóm của bị can.
1.5. Kiểm sát viên không thực hiện việc phúc cung bị can theo đúng Quy định
tại Chỉ thị số: 04/CT-VKSTC ngày 10/7/2015 về tăng cường các biện pháp phòng,
chống oan, sai và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho
người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự
Vụ Nguyễn Tây cùng đồng phạm, can tội “Cố ý gây thương tích”. Tại phiên
tòa bị cáo Nguyễn Tây khai “Bị cáo chờ Viện kiểm sát phúc cung để khai rằng
anh Khánh bị Tùng đánh ngã rồi bị cáo chém nhưng Viện kiểm sát không phúc
cung”. Và bởi vì Kiểm sát viên không phúc cung, nên đã bỏ lọt người phạm tội.
1.6. Kiểm sát viên chưa nghiên cứu kỹ cấu thành cơ bản của Điều luật và các
quy định của pháp luật về xác định thiệt hại tài sản. Các vụ Bùi Văn Dũng, Đỗ
Hoàng Duy, can tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ”. Đối với các vụ án này, nếu là thiệt hại về tài sản thì cần phải định giá
để xác định mức độ thiệt hại làm căn cứ khởi tố vụ án; việc định giá mức độ thiệt
hại của tài sản phải được thực hiện theo quy định của pháp luật để xác định đúng
đắn mức độ bị thiệt hại. Nếu 02 vụ án này, kết quả định giá mức độ thiệt hại tài
sản không đủ định lượng cấu thành tội phạm thì vụ án sẽ bị đình chỉ và hành vi
của bị can không cấu thành tội phạm.
công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử vụ án hình sự, trong đó có việc để xảy
ra án trả hồ sơ điều tra bổ sung.
Một số Kiểm sát viên trẻ chưa chủ động trong việc tự trau dồi, nghiên cứu,
học hỏi để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Một số Kiểm sát viên
lớn tuổi thì thường thực hiện nhiệm vụ theo “lối mòn” kinh nghiệm, trong khi thực
tiễn luôn có nhiều thay đổi.
2.2. Kiểm sát viên thiếu tinh thần trách nhiệm, không thật sự tâm huyết với
Ngành
Các vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung trong chuyên đề này đã thể hiện một số
Kiểm sát viên thiếu tinh thần trách nhiệm. Và suy cho cùng là không yêu ngành,
yêu nghề, không phát hiện ra những thiếu sót, vi phạm rất rõ ràng của Cơ quan
điều tra; không chịu khó nghiên cứu hồ sơ; không trăn trở khi định tội danh,...
2.3. Lãnh đạo đơn vị do bận nhiều công việc, nên trong một số trường hợp
chưa kịp thời kiểm tra công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động điều
tra. Và mối quan hệ phối hợp công tác với các cơ quan tiến hành tố tụng chưa
thật sự chặt chẽ và đồng bộ.
III. GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ÁN HÌNH SỰ TRẢ
HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG GIỮA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ
TỤNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN
Giải pháp để hạn chế việc trả hồ sơ vụ án hình sự yêu cầu điều tra bổ sung
giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có rất nhiều, nhưng những giải pháp cơ bản đã
được nêu cụ thể trong Chuyên đề “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố,
kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự nhằm hạn chế việc trả hồ sơ
điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng” và đã được tổ chức tập huấn
trong ngành KSND tỉnh Bình Định, nên trong Chuyên đề này chúng tôi không
nhắc lại mà chỉ bổ sung thêm một số giải pháp sau.
Trong Chuyền đề này, khi đánh giá thực trạng, trách nhiệm và nguyên nhân
án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, chúng tôi thấy nguyên nhân và trách nhiệm chính
xuất phát từ Kiểm sát viên. Do đó, chúng tôi đưa ra một số giải pháp nhằm trang
công tố, kiểm sát điều tra của Kiểm sát viên
Trong khuôn khổ chuyên đề này, Chúng tôi không nhắc lại các quy trình, quy
định của Ngành, của pháp luật về hoạt động của Kiểm sát viên trong công tác
THQCT, KSĐT vụ án hình sự, vì đây là những quy định bắt buộc Kiểm sát viên
phải tuân thủ khi thực hiện nhiệm vụ, nên đòi hỏi Kiểm sát viên tự nghiên cứu và
ghi nhớ. Qua thực tiễn công tác và đúc rút kinh nghiệm; chúng tôi mong muốn
Kiểm sát viên được trang bị thêm một số kỹ năng và kinh nghiệm khi thực hiện
một số hoạt động THQCT, KSĐT vụ án hình sự như sau:
2.1. Nghiên cứu hồ sơ tin báo tội phạm, hồ sơ vụ án của Kiểm sát viên
- Khi được phân công thụ lý thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và hồ sơ vụ án hình sự; Kiểm sát viên cần nắm
và hệ thống được tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để xác định xem tài liệu, chứng cứ
có đủ chứng minh từng vần đề cụ thể trong từng vụ việc, vụ án hay không; xác
định những vấn đề còn thiếu chứng cứ để chứng minh.
14
- Kiểm sát viên cần kiểm tra thủ tục tố tụng trong hồ sơ, nếu phát hiện có sai
sót, vi phạm hoặc có nghi ngờ sai sót, vi phạm thì cần tra cứu các quy định của
pháp luật để làm căn cứ trao đổi, yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục.
- Trong từng vụ việc, vụ án cụ thể, Kiểm sát viên cần xác định cho được
những vấn đề cần chứng minh, làm rõ. Theo đó, đề ra yêu cầu điều tra đối với
những vấn đề này.
Đòi hỏi của giải pháp này là Kiểm sát viên phải nâng cao tinh thần trách
nhiệm; đầu tư thời gian đọc hồ sơ; tập luyện kỹ năng tổng hợp, hệ thống và kỹ
năng nghiên cứu các văn bản pháp luật.
2.2. Kiểm tra, đánh giá, hệ thống chứng cứ
- Trong thời gian qua, Kiểm sát viên khi kiểm tra, nghiên cứu, đánh giá
chứng cứ thường chú trọng vào các chứng cứ buộc tội. Tức là, chú trọng vào các
15
Điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định “Chứng cứ là những gì có thật,
được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định...”. Như vậy, trong nội
tại Điều luật này chứa đựng nhiều yếu tố để xác định đó có phải là chứng cứ hay
không. Ví dụ, lời khai của bị can là nguồn chứng cứ nhưng nếu việc hỏi cung bị
can không tuân thủ đúng quy định do Bộ luật này quy định thì lời khai này không
được xem là chứng cứ và không có giá trị chứng minh. Do đó, Kiểm sát viên phải
nghiên cứu kỹ, đọc toàn bộ các biên bản ghi lời khai, hỏi cung và các biên bản tổ
tụng khác, nếu phát hiện có sai sót, vi phạm thì kiên quyết yêu cầu Cơ quan điều
tra khắc phục. Trong các trường hợp này, Kiểm sát viên không cần phải e ngại, nể
nang, sợ mất lòng, bởi vì đây là các quy định do pháp luật đặt ra chứ không phải
tự bản thân Kiểm sát viên đặt ra.
2.4. Đề ra yêu cầu điều tra
Muốn đề ra yêu cầu điều tra có chất lượng, thì Kiểm sát viên phải đọc và nắm
vững nội dung, tình tiết của vụ án và các tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ.
Trong Yêu cầu điều tra cần một số nội dung cơ bản như sau:
- Đối với những vấn đề đã được pháp luật quy định Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng phải thực hiện, thì không cần thiết phải đưa vào yêu
cầu điều tra. Ví dụ: Chỉ định người bào chữa, nộp tiền là vật chứng vụ án vào tài
khoản tạm giữ,...
- Yêu cầu điều tra chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội: Động cơ, mục
đích, hành vi khách quan của bị can, hung khí,...
- Yêu cầu điều tra chứng cứ xác định vai trò đồng phạm: Sự bàn bạc, phân
công, ý thức, vai trò của từng người trong vụ án,...
- Yêu cầu điều tra các chứng cứ làm tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
cho bị can,...
- Yêu cầu thu thập chứng cứ để có quan điểm giải quyết đối với các vấn đề có
thể phát sinh, những người có liên quan khác,...
với Điều tra viên như thế nào (khai có đúng sự thật không, tự nguyên khai hay bị
bức cung, mớm cung,...); hỏi bị can, bị hại, nhân chứng,... có khai thêm hay thay
đổi gì về lời khai không, lý do thay đổi. Quá trình hỏi cung, lấy lời khai phải đấu
tranh, lập luận để bác bỏ những lời khai không đúng của bị can, bị hại, nhân
chứng. Hỏi cung bị can, lấy lời khai cần tập trung vào những vấn đề trong hồ sơ
vụ án chưa rõ ràng hoặc để củng cố thêm chứng cứ áp dụng tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ,...
- Giải thích các quy định của pháp luật khi xét thấy cần thiết. Chẳng hạn như
quy định của pháp luật về tình tiết giảm nhẹ đối với việc bị can thành khẩn khai
báo.
- Kiểm sát viên phúc cung bị can, lấy lời khai nhân chứng, bị hại là để đánh
giá lại lời khai của những người nay, đánh giá lại các tình tiết của vụ án một cách
khách quan, toàn diện, nên Kiểm sát viên không cần phải thể hiện thái độ bực tức,
la lối khi bị can, bị hại, nhân chứng,... khai không đúng, không phù hợp lời khai tại
giai đoạn điều tra; không được mớm cung để lời khai của bị can, bị hại, nhân
chứng,... phù hợp với lời khai đối với Điều tra viên,...
2.7. Dự thảo Cáo trạng
Ngoài những giải pháp như viết Cáo trạng theo mẫu; phương pháp viết cáo
trạng; đưa bút lục chứng minh,... đã được nhắc nhiều lần và thể hiện trong rất
nhiều bài viết của Viện KSND tối cao, nên chúng tôi không nhắc lại. Qua thực tiễn
công tác, yêu cầu Kiểm sát viên khi dự thảo Cáo trạng cần phải:
- Phản ảnh đầy đủ diễn biến, sự thật khách quan của vụ án. Riêng các Kết
luận giám định phải trích nguyên văn.
- Khi trình dự thảo Cáo trạng, Kiểm sát viên cần báo cáo đầy đủ các vần đề
vướng mắc, còn nhiều quan điểm, các vấn đề phức tạp và những chứng cứ, tài liệu
thể hiện vấn đề này để lãnh đạo đơn vị cho quan điểm xử lý.
3. Giải pháp về một số kỹ năng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự để bảo vệ Cáo trạng
17
buộc tội đối với bị cáo.
- Tranh luận: Kiểm sát viên phải lắng nghe và tranh luận đối với tất cả các
vấn đề mà người bào chữa, bị cáo, bị hại, người liên quan,... đưa ra. Trong từng
vấn đề tranh luận phải đưa ra chứng cứ và quy định của pháp luật để chứng minh,
bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát. Việc tranh luận phải trọng tâm; gút lại từng
vấn đề đã tranh luận,...
4. Giải pháp về một số kỹ năng xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa
Kiểm sát viên với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Lãnh đạo đơn vị phải chủ động xây dựng mối quan hệ phối hợp với Cơ quan
điều tra và Tòa án trên tinh thần tôn trọng, cầu thị và vì trách nhiệm chung. Theo
đó, Kiểm sát viên phải phối hợp với Điều tra viên, Thẩm phán một cách thực chất;
phối hợp trên cơ sở luật định; tuân thủ đúng các quy định của pháp luật như: Bộ
luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, các Thông tư liên tịch có liên quan. Việc
phối hợp phải trên cơ sở tôn trọng và cầu thị nhưng cũng không nên chứa đựng
yếu tố “Ba bộ đồng tình”.
18
Cơ sở để xây dựng mối quan hệ phối hợp khắng khít, bền vững là phải xuất
phát từ cái tâm trong sáng; không có hành vi tiêu cực, lợi ích cá nhân.
KẾT LUẬN
Trong một vụ án hình sự, từ giai đoạn thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo tội
phạm đến khi vụ án được xét xử xong, Kiểm sát viên là người có thời gian tiếp cận
nhiều nhất, có vai trò và nhiệm vụ chính đảm bảo cho việc giải quyết vụ án khách
quan, toàn diện, đúng pháp luật, nên quá trình tác nghiệp Kiểm sát viên cần thấm
nhuần lời dạy của Người về 5 đức tính của cán bộ Kiểm sát. Tuy nhiên, bên cạnh
đó đòi hỏi Kiểm sát viên phải là người có năng lực thực sự (trình độ, kỹ năng
nghiệp vụ) đáp ứng tốt nhất yêu cầu nhiệm vụ.
Trong nội dung Chuyên đề này, trên cơ sở những dạng vi phạm cơ bản nhất