Luan van chuyen de thực trạng và giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp đối với kiểm toán viên chuan - Pdf 92

MỤC LỤC
Trang
Mục lục 1
Lời nói đầu 2
Phần I:Yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp đối với kiểm toán viên 4
I. Khái niệm kiểm toán viên 4
II. Yêu cầu đối với kiểm toán viên 6
1. Tính độc lập 7
2. Tính liêm chính và khách quan 12
3. Năng lực chuyên môn và tính thận trọng 13
4. Tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán 14
5. Tư cách nghề nghiệp 16
6. Có thái độ hoài nghi mang tính nghề nghiệp 17
7. Tính bảo mật 17
8. Thù lao phụ thuộc 19
9. Trách nhiệm đối với đồng nghiệp 20
10. các yêu cầu khác 20
Phần II:Thực trạng và giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp đối
với kiểm toán viên
23
I. Thực trạng 23
II. Giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp kiểm toán viên 28
1. Đánh giá đúng cán bộ công chức kiểm toán viên 28
2. Phân loại kiểm toán viên 31
3. Nên thành lập 1 hội đồng kiểm toán tại Việt Nam 32
4. Tổ chức các cuộc kiểm tra quá trình kiểm toán 33
5. Xoay vòng các công ty kiểm toán 34
6. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo kiểm toán viên 34
III. Kết luận 39
Danh mục tài liệu tham khảo 40


nghề nghiệp, sự thận trọng nghề nghiệp đúng mực, tính bảo mật,…
Phần II: Thực trạng và giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp đối
với kiểm toán viên – Phần này trình bày những bất cập về đạo đức nghề
nghiệp đối với kiểm toán viên hiện nay ở nước ta đồng thời đưa ra những giải
pháp nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập kể trên.
Để hoàn thành được đề án này em được sự giúp đỡ rất tận tình của các
bạn trong nhóm và đặc biệt là được sự giúp đỡ chỉ bảo của thầy giáo Trần
Mạnh Dũng. Em xin chân thành cảm ơn!
Trong quá trình thực hiện đề án mặc dù có sự tìm tòi tài liệu cộng với hỏi
thầy, hỏi bạn song vì mới là sinh viên năm thứ 3 trình độ có hạn, lại chưa
được đi thực tế nên đề án này chắc chắn là không thể tránh khỏi những thiếu
sót, hạn chế về cả nội dung và hình thức cho nên em rất mong nhận được ý
kiến đóng góp của thầy giáo cùng toàn thể các bạn để lần sau làm chuyên đề
kiến tập và thực tập được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!!
PHẦN I: YÊU CẦU VỀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP ĐỐI
VỚI KIỂM TOÁN VIÊN
I. Khái niệm kiểm toán viên:
Kiểm toán viên là khái niệm chung chỉ những người làm công tác kiểm
toán cụ thể có trình độ nghiệp vụ tương xứng với công việc đó. Trong ý nghĩa
hẹp, từ kiểm viên thường gắn với chức danh kế toán viên công chứng. Tuy
nhiên trong cả lý luận và thực tế, khái niệm kiểm toán viên cũng bao hàm cả
kiểm toán viên nhà nước và cả kiểm toán viên nội bộ.
 Kiểm toán viên nội bộ: thường là những người làm nghề kiểm toán
không chuyên nghiệp, họ có thể là những kế toán viên giỏi, những nhà quản
lý có kinh nghiệm, những kỹ thuật viên có hiểu biết về những lĩnh vực có liên
quan đến kiểm toán đặc biệt là các loại hình công nghệ, các quy trình kỹ
thuật, các định mức… Tuy nhiên những người này cũng cần có trình độ
nghiệp vụ tương xứng, có thể được đào tạo qua trường (như đào tạo kiểm toán
viên nội bộ của Mỹ chẳng hạn). Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, kiểm toán

động hợp pháp ở Việt Nam và đã được đăng ký danh sách kiểm toán viên tại
Bộ Tài chính.
- Công chức Nhà nước đương chức không được đăng ký hành nghề kiểm
toán trong tổ chức kiểm toán độc lập.
 Công dân nước ngoài muốn hành nghề kiểm toán ở Việt Nam phải có
đủ các điều kiện sau:
- Được phép cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
- Có chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ Tài chính Việt Nam cấp hoặc có
chứng chỉ kiểm toán viên được cấp bởi một tổ chức kiểm toán quốc tế mà Bộ
Tài chính Việt Nam thừa nhận và phải nắm vững luật pháp kinh tế, tài chính,
kế toán và kiểm toán của Việt Nam.
- Được chấp nhận vào làm việc tại một tổ chức kiểm toán được thành lập
hợp pháp tại Việt Nam.
- Đã đăng ký danh sách kiểm toán viên tại Bộ Tài chinh.
Kiểm toán viên độc lập thường có hai chức danh:
 Kiểm toán viên: Thường là đã tốt nghiệp đại học và sau hai năm làm
thư ký ( hoặc trợ lý ) kiểm toán và tốt nghiệp kỳ thi tuyển kiểm toán viên
( quốc gia hoặc quốc tế ) để lấy bằng ( chứng chỉ ) kiểm toán viên (CPA).
Trên thực tế, phải có khả năng độc lập thực hiện công việc kiểm toán cụ thể.
 Kiểm toán viên chính: Là người đã từng qua kiểm toán viên ( thường từ
3- 5 năm ) và qua kỳ thi nâng bậc. Về chuyên môn họ phải có khả năng tổ
chức một nhóm kiểm toán viên tiến hành những công việc kiểm toán có qui
mô lớn.
Những kiểm toán viên độc lập được hành nghề trong một tổ chức ( công
ty ) hoặc với văn phòng tư tùy điều kiện cụ thể do pháp luật qui định.

 Kiểm toán viên nhà nước: Là những công chức ( viên chức nhà nước )
làm nghề kiểm toán. Do đó, họ được tuyển chọn và hoạt động do tổ chức
kiểm toán nhà nước phân công. Đồng thời, họ được xếp vào các ngành bậc
chung của công chức ( theo tiêu chuẩn cụ thể của từng nước trong từng thời

nghiệp để thực hiện công việc của mình một cách có hiệu quả, cụ thể các yêu
cầu của xã hội đối với kiểm toán viên về đạo đức nghề nghiệp đó là:
1.Tính độc lập:
• Độc lập là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên:
Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thực sự không bị chi
phối hoặc tác động bởi bất kỳ lợi Ých vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh
hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình.
Thái độ độc lập phụ thuộc vào hai yếu tố là bản chất thực của kiểm
toán viên và cách nhìn nhận của công chúng đối với kiểm toán viên. Có thể
bản chất kiểm toán viên là không cho phép bất cứ yếu tố nào ảnh hưởng tới
tính độc lập của mình, ngay cả khi kiểm toán có dính líu về mặt kinh tế hoặc
tình cảm với đơn vị được kiểm toán. Tuy nhiên, chỉ bản chất thì vẫn chưa đủ
mà phải bảo đảm cả về mặt hình thức thể hiện. Chẳng hạn, một khi kiểm toán
viên có dính líu về mặt kinh tế hoặc quan hệ thân nhân thì dù có thực bản chất
của kiểm toán là độc lập, công chúng vẫn cho rằng không bảo đảm tính độc
lập.
Các nguyên tắc đạo đức và các văn bản hướng dẫn liên quan bị chi
phối bởi tính độc lập. Đó là điều tất nhiên. không có tính độc lập thì chức
năng kiểm toán không có giá trị trong xã hội.
Tính độc lập trong kiểm toán có nghĩa là việc có một quan điểm vô tư
khi thực hiện các cuộc khảo sát kiểm toán, đánh giá các kết quả và công bố
báo cáo kiểm toán. Nếu kiểm toán viên là một luật sư của khách hàng, một
chủ ngân hàng cá biệt, hoặc bất kỳ ai khác, thì anh ta sẽ không thể được xem
là độc lập. Tính độc lập nhất định phải được xem như một trong những phẩm
chất chủ yếu nhất của kiểm toán viên. Lý do mà rất nhiều người sử dụng
thuộc nhiều thành phần khác nhau sãn sàng dùa vào các báo cáo của kiểm
toán viên về tính trung thực của báo cáo đó chính là sự tin tưởng của họ vào
quan điểm vô tư đó.
Điều cơ bản không chỉ là kiểm toán viên phải giữ thái độ độc lập khi
thực thi trách nhiêm của mình mà còn cả những người sử dụng các báo cáo tài

phần phức tạp hơn nhiều so với việc chỉ xem lướt qua nó. Để giúp hiểu rõ hơn
và để thấy được tính phức tạp của nguyên tắc này cần xem xét nó một cách
chi tiết. Có ba nét đặc biệt quan trọng liên quan tới tính độc lập về quyền sở
hữu cổ phần:
+ Mét kiểm toán viên của một công ty kiểm toán quốc gia có thể sở hữu
cổ phần trong một công ty khách hàng và không vi phạm nguyên tắc này nếu
anh ta không hề dính líu với hợp đồng, nhưng ngay khi anh ta trở thành một
thành viên của hợp đồng thì anh ta phải nhượng lại cổ phần ngay hoặc công ty
kiểm toán phải đình chỉ cuộc kiểm toán bởi vì lúc này nó đã vi phạm đến tính
độc lập của kiểm toán viên. Có một số công ty kiểm toán không cho phép đội
ngò nhân viên của mình có bất kỳ sự sở hữu cổ phần ở công ty khách hàng mà
không cần biết đơn vị kiểm toán nào phục vụ công ty khách hàng đó. Các
công ty kiểm toán này đã quyết định đạt được các mức yêu cầu cao nhất thay
vì mức tối thiểu như đã nói ở trên.
+ Nếu công ty khách hàng giữ một phần lớn quyền sở hữu trong công ty
A và một người chung vốn của công ty kiểm toán cũng có một lượng đáng kể
tài sản cá nhân đầu tư vào công ty A, thì điều này là sự vi phạm tính độc lập
của kiểm toán viên.
+ Nếu kiểm toán viên có vợ hoặc chồng mà có lợi tức cổ phần trong một
công ty khách hàng thì điều này sẽ vi phạm tính độc lập của kiểm toán viên và
dẫn đến công ty kiểm toán đó sẽ bị cấm trình bày quan điểm về các báo cáo
tài chính của công ty khách hàng này.
- Kiểm toán viên hay công ty kiểm toán mà vay hay cho vay vốn từ công
ty khách hàng hoặc có ký kết hợp đồng gia công, dịch vụ, đại lý tiêu thụ hàng
hoá với công ty khách hàng thì điều này nó cũng vi phạm đến tính độc lập của
kiểm toán viên vì đó là các mối quan hệ tài chính giữa kiểm toán viên với
công ty khách hàng.
•Đối với các công ty khách hàng có người thân:
- Kiểm toán viên không được nhận làm kiểm toán ở những đơn vị mà
bản thân có quan hệ họ hàng thân thuộc ( như bố, mẹ, vợ, chồng, con cái, anh

chung vốn sở hữu cổ phần trong công ty A hoặc các quan hệ về mặt tài chính
tương tự nếu vốn đầu tư ở A của công ty B rất trọng yếu.
•Tranh chấp giữa công ty kiểm toán và công ty khách hàng:
Kiểm toán viên không được kiểm toán ở những công ty khách hàng mà
đang có tranh chấp với công ty kiểm toán.
Khi có một vụ kiện tụng hoặc có khả năng sinh ra một vụ kiện tụng
giữa công ty kiểm toán và khách hàng của họ, thì khả năng mà công ty kiểm
toán mà trực tiếp là kiểm toán viên và công ty khách hàng còn giữ vững tính
khách quan rất đáng nghi vấn. Thí dụ, nếu Ban quản trị kiện một công ty kiểm
toán, khiếu nại một khuyết điểm trong lần kiểm toán trước, kiểm toán viên
của công ty kiểm toán không được xem là độc lập đối với lần kiểm toán trong
năm hiện hành. Tương tự, nếu công ty kiểm toán kiện Ban quản trị vì sự quản
lý lừa đảo hoặc dối trá, thì tính độc lập của kiểm toán viên cũng bị mất.
Vô kiện từ phía khách hàng liên quan với thuế hoặc các dịch vụ không
phải là kiểm toán khác, hoặc vụ kiện cả công ty khách hàng và công ty kiểm
toán từ một thành phần khác, cũng thường không làm hại đến tính độc lập.
Tuy vậy việc xem xét chính, trong tất cả các vụ kiện này là ảnh hưởng khả dĩ
đến khả năng giữ vững tính khách quan và bình luận một cách thoải mái của
Ban quản trị công ty khách hàng và toàn thể nhân viên của công ty kiểm toán.
•Không đồng thời làm kế toán và kiểm toán:
Kiểm toán viên không được vừa làm dịch vụ kế toán ( như trực tiếp ghi
chép, giữ sổ kế toán và lập báo cáo tài chính ) vừa làm dịch vụ kiểm toán cho
cùng một khách hàng.
Nếu một kiểm toán viên ghi sổ các nghiệp vụ kinh tế vào sổ Nhật ký
cho công ty khách hàng, hàng tháng chuyển sổ các số tổng cộng vào sổ cái
tổng hợp, thực hiện các bót toán điều chỉnh rồi sau đó tiến hành cuộc kiểm
toán, có một số nghi vấn được đặt ra là liệu kiểm toán viên có còn độc lập
trong vai trò kiểm toán của anh ta hay không. Chắc chắn là tính độc lập của
kiểm toán viên sẽ không được đảm bảo nữa bởi vì bản thân kiểm toán viên đã
vi phạm nguyên tắc bất kiêm nhiệm trong kế toán đó là vừa ghi chép lại vừa

Kiểm toán viên có thể có tính độc lập thực sự hoặc độc lập bề ngoài
hay không nếu thù lao kiểm toán được thanh toán tùy thuộc vào Ban quản trị
của công ty được kiểm toán? Rõ ràng không có câu trả lời thỏa đáng nào đối
với câu hỏi này, nhưng câu trả lời sẽ phản ánh được cái khó của việc có được
một trạng thái hoàn toàn độc lập của kiểm toán viên. Một cách khác của việc
thuê mướn kiểm toán viên và thanh toán thù lao kiểm toán từ Ban quản trị có
thể là việc sử dụng hoặc kiểm toán viên nhà nước hoặc kiểm toán viên gần
như của nhà nước. Tất cả mọi vấn đề được xem xét là liệu chức năng kiểm
toán có được thực thi tốt hơn và rẻ hơn bởi khu vực công cộng hay không.
Một cách để cải tiến tính độc lập thật sự và tính độc lập bề ngoài trong mối
quan hệ giữa kiểm toán viên với Ban quản trị là việc sử dụng một ủy ban
kiểm toán.
• Trong quá trình kiểm toán, nếu có sự hạn chế về tính độc lập thì kiểm
toán viên phải tìm mọi cách loại bỏ sự hạn chế này. nếu không loại bỏ được
thì kiểm toán viên phải nêu rõ điều này trong báo cáo kiểm toán.
2. Tính liêm chính và khách quan:
Kiểm toán viên phải thẳng thắn, trung thực và có chính kiến rõ ràng.
Đồng thời kiểm toán viên phải công bằng, tôn trọng sự thật và không được
thành kiến, thiên vị.
Tính liêm chính và khách quan trong hoạt động của kiểm toán viên yêu
cầu:
+ Mét kiểm toán viên không được chủ tâm phản ảnh sự việc sai lệch, và
khi hợp đồng thực hiện kiểm toán độc lập, ( kể cả cung cấp dịch vụ khai thuế
và dịch vụ tư vấn cho Ban quản trị ) anh ta không được để sự phán xét của
mình bị lệ thuộc vào người khác. Khi thực hiện dịch vụ thuế, kiểm toán viên
có thể giải quyết điều nghi ngờ theo hướng có lợi cho khách hàng khi có sự
chứng minh hợp lý đối với quan điểm của anh ta.
+ Khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên chỉ tuân thủ pháp luật và các
chuẩn mực, quy trình kiểm toán.
+ Phải thẳng thắn, trung thực và có lương tâm nghề nghiệp, tôn trọng lợi

đủ vấn đề cũng như chưa có bằng chứng xác thực.
+ Khi sử dụng các chuyên gia bên ngoài làm tư vấn hoặc sử dụng các kết
quả của kiểm toán viên tiền nhiệm, kiểm toán viên nội bộ, các kết luận thanh
tra… Kiểm toán viên phải xem xét, kiểm tra, sử dụng có chọn lọc và phải chịu
trách nhiệm về tính xác thực của các số liệu, tài liệu và bằng chứng liên quan
đến kết luận kiểm toán.
+ Có tác phong thận trọng, tỉ mỉ để công việc đạt chất lượng cao. Trước
khi đưa ra ý kiến nhận xét, đánh giá phải kiểm tra, xem xét lại tính trung thực,
hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ làm việc, tính đầy đủ, chính xác, thích hợp của các
bằng chứng và kết quả tính toán.
4. Tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán:
Kiểm toán viên phải tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hoặc
chuẩn mực kiểm toán quốc tế được Việt Nam chấp nhận. Các chuẩn mực
kiểm toán này qui định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức
áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên quan đến kiểm toán báo cáo tài
chính.
• Kiểm toán viên phải tuân thủ 27 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam có số
hiệu và tên gọi như sau:
 Chuẩn mực số 200 : Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán
Báo cáo tài chính.
 Chuẩn mực số 210 : Hợp đồng kiểm toán.
 Chuẩn mực số 220 : Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán.
 Chuẩn mực số 230 : Hồ sơ kiểm toán.
 Chuẩn mực số 240 : Gian lận và sai sót.
 Chuẩn mực số 250 : Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các qui định
trong kiểm toán Báo cáo tài chính.
 Chuẩn mực số 300 : Lập kế hoạch kiểm toán.
 Chuẩn mực số 310 : Hiểu biết về tình hình kinh doanh.
 Chuẩn mực số 320 : Tính trọng yếu trong kiểm toán.
 Chuẩn mực số 400 : Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ.

 Nhóm chuẩn mực thực hành: Nhóm này gồm 3 chuẩn mực yêu cầu
kiểm toán viên phải tuân thủ khi thực hiện công việc kiểm toán thực tế.
Những chuẩn mực này đề cập tới việc:
 Lập kế hoạch và giám sát công việc kiểm toán.
 Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ.
 Thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán có hiệu lực.
 Các chuẩn mực báo cáo: Bốn chuẩn mực báo cáo cung cấp cho kiểm
toán viên những chỉ dẫn để lập báo cáo kiểm toán. Những chuẩn mực này
nhấn mạnh về việc báo cáo kiểm toán phải đưa ra được những vấn đề có liên
quan tới:
 Tuân thủ các nguyên tắc kế toán được thừa nhận rộng rãi.
 Tính nhất quán.
 Sự trình bày khai báo.
 Việc đưa ra ý kiến trên báo cáo kiểm toán.
5. Tư cách nghề nghiệp:
Kiểm toán viên phải trau dồi và bảo vệ uy tín nghề nghiệp, không được
gây ra những hành vi làm giảm uy tín nghề nghiệp.
Để bảo vệ uy tín nghề nghiệp của mình thì kiểm toán viên cần phải:
+ Kiểm toán viên phải được đào tạo một cách đầy đủ và hợp lý về lĩnh
vực kiểm toán; phải am hiểu sâu sắc về kế toán và kiểm toán. Việc đào tạo về
nghiệp vụ và thành thạo về chuyên môn không chỉ qua đào tạo chính qui ở
các viện, trường, mà còn qua cả kinh nghiệm thực tế của kiểm toán viên. Họ
phải nắm bắt được những phát triển mới trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán và
kinh doanh, đồng thời phải cập nhật những thay đổi về chế độ, chính sách,
chuẩn mực về kế toán và kiểm toán.
+ Kiểm toán viên phải hết sức tận tâm vơi công việc của mình. Chỗ nào
không biết thì hỏi không được dấu dốt, không được kiêu ngạo khoe khoang
phải khiêm tốn thật thà nhằm nâng cao uy tín nghề nghiệp của mình.
+ Không được lấy chức danh của mình là kiểm toán viên để dọa nạt răn
đe, hạch sách đối tượng kiểm toán hoặc là làm những việc không tốt ảnh

• Làm giảm bớt nghĩa vụ của một kiểm toán viên.
• Ảnh hưởng dưới mọi hình thức tới sự tuân thủ của kiểm toán viên đối
với giấy gọi hầu toà có căn cứ hoặc sự triệu mời theo lệnh của Tòa án.
• Cấm đoán sự kiểm tra lại công việc theo các thông lệ nghiệp vụ của
kiểm toán viên như một phần của cuộc kiểm tra lại chất lượng một cách tự
nguyện theo uỷ quyền của công ty kiểm toán.
• Ngăn ngõa kiểm toán viên đáp ứng bất kỳ sự chất vấn nào do bộ phận
xét xử của công ty kiểm toán hay do cơ quan kỷ luật hoặc điều tra của cơ
quan kiểm toán Nhà nước hoặc theo luật pháp của nhà nước.
 Nhu cầu đối với tính bảo mật:
Trong tiến trình kiểm tra, các kiểm toán viên thu được một số lượng
đáng kể thông tin bảo mật, gồm cả lương của các viên chức, quá trình định giá
sản phẩm, các kế hoạch quảng cáo, và số liệu chi phí sản phẩm. Nếu kiểm
toán viên tiết lé những thông tin này cho những người ở bên ngoài hoặc cho
các nhân viên của công ty khách hàng là những người bị ngăn chặn không cho
tiếp cận với các thông tin đó, mối quan hệ giữa họ với Ban quan trị sẽ bị căng
thẳng nghiêm trọng và trong trường hợp cực đoan sẽ là nguyên nhân làm hại
đến công ty khách hàng. Hơn nữa được tiếp cận với các bản tư liệu sẽ cho các
nhân viên của công ty khách hàng một cơ hội để làm thay đổi thông tin trên
các tư liệu đó. Vì những lý do này, luôn luôn phải cẩn trọng để bảo toàn các
bản tư liệu.
Thường thì, tư liệu của kiểm toán viên có thể cung cấp cho người khác
chỉ khi được phép của công ty khách hàng. Đây là điều kiện cho dù một kiểm
toán viên bán kết quả làm việc của mình cho công ty kiểm toán khác hoặc
muốn cho phép người kiểm toán viên kế tục xem xét các tư liệu lập cho công
ty khách hàng trước đây. Tuy vậy, sẽ không cần có sự cho phép nếu các tư
liệu đó được Toà án triệu đòi hoặc được sử dụng như một bộ phận của
chương trình xem xét chất lượng tự nguyện với các công ty kiểm toán khác.
Nếu tư liệu bị triệu đòi, công ty khách hàng phải được thông báo ngay.
 Mét số trường hợp ngoại lệ đối với tính bảo mật:

những phát hiện hoặc kết quả của các dịch vụ đó. Tuy vậy, thù lao của một
kiểm toán viên có thể thay đổi tùy theo, thí dụ, tính phức tạp của dịch vụ cung
cấp.
Các khoản thù lao không được xem là phụ thuộc nếu chúng được quy
định bởi pháp luật hoặc trong các vấn đề về thuế, nếu được xác định dùa trên
các kết quả của các vụ kiện theo luật hoặc những phát hiện của các cơ quan
Nhà nước.
Để giúp các kiểm toán viên giữ vững tính khách quan khi điều hành
các cuộc kiểm toán hoặc khi cung cấp các dịch vụ về thuế hoặc tư vấn quản
lý, việc tính thù lao dùa trên kết quả của dịch vụ cung cấp bị nghiêm cấm. Thí
dụ, giả sử có một công ty kiểm toán hợp đồng với khách hàng là thù lao được
tính là 5000 USD, nếu là một báo cáo chấp nhận hoàn toàn, nhưng chỉ là 2500
USD, nếu là một báo cáo chấp nhận có loại trừ. Hợp đồng này có thể khiến
người hành sự công bố một báo cáo sai và là sự vi phạm về nguyên tắc thù lao
phụ thuộc.
Thường thì công ty kiểm toán tính thù lao căn cứ trên số giê làm việc.
Các mức giá theo thời gian khác nhau được tính cho các trình độ khác nhau
của nhân viên. Tuy vậy, trong những năm gần đây trên thế giới, các công ty
kiểm toán đã bắt đầu tăng dần các cuộc đấu thầu hợp đồng dùa trên một căn
cứ tính thù lao cố định mà không cần xem xét đến nhu cầu về thời gian phải
bỏ ra.
9. Trách nhiệm đối với đồng nghiệp:
Những người trong cùng một nghề đối xử với nhau sẽ ảnh hưởng đến
thái độ của xã hội đối với nghề nghiệp đó. Sự hỗ trợ lẫn nhau nên bao gồm
việc cung cấp người trợ lý có nghiệp vụ chuyên môn cao trong các vấn đề có
tính nghiệp vụ cho bạn hành nghề và sự hạn chế hợp lý trong việc thay thế các
công ty kiểm toán hiện hữu ở các khách hàng hiện nay của họ.
Để đáp ứng được yêu cầu này thì đối với đồng nghiệp của mình kiểm
toán viên cần phải:
+ Hợp tác, hòa đồng với đồng nghiệp của mình. Luôn giữ mối quan hệ

các cá nhân trước đây được thuê mướn trong thực tiễn công tác kiểm toán độc
lập hoặc các khoản thanh toán cho người thừa kế của họ hoặc bất động sản
của họ.
Lý do của việc không cho phép thanh toán tiền hoa hồng để có khách
hàng là để ngăn ngõa sự quá khích trong lĩnh vực này thông qua việc trả “thù
lao cho người tìm kiếm” đối với đội ngò nhân viên, ngân hàng, và những
người khác để có thể giúp công ty mở rộng hoạt động của mình.
Yêu cầu này cũng nhằm ngăn ngõa kiểm toán viên tính thêm ngoài
dịch vụ đã thực hiện. Thí dụ, một quy định đạo đức của AICPA nghiêm cấm
công ty kiểm toán tăng thù lao kiểm toán đối với một khách hàng bán lẻ vì
công ty đã thu xếp để các khách hàng khác mua sản phẩm của khách hàng bản
lẻ này.
• Các công việc không phù hợp:
Kiểm toán viên làm việc trong công ty kiểm toán công cộng không
được đồng thời làm việc trong bất kỳ doanh nghiệp nào hoặc làm công việc
nào mà có thể sinh ra mâu thuẫn về quyền lợi khi cung cấp dịch vụ chuyên
nghiệp.
Các khái niệm nhấn mạnh là trong các trường hợp cá biệt phải xác định
liệu tình huống đó có vi phạm nguyên tắc này hay không. Thí dụ, thường sẽ
có mâu thuẫn quyền lợi nếu một kiểm toán viên vừa hành động như một kiểm
toán viên vừa như một cố vấn pháp luật cho cùng một khách hàng. Cố vấn
pháp luật có trách nhiệm bảo vệ các quyền lợi hợp pháp cho khách hàng,
trong khi kiểm toán viên phải vô tư. Điều thông thường là các công ty kiểm
toán thuê các luật sư mà cũng đồng thời là kiểm toán viên, nhất là trong các
bộ phận thuế. Nghề luật sư là thích hợp trong phần lớn các tình huống về
thuế, tuy nhiên cả lúc đó người này thường thực thi vai trò của một kế toán
viên, hơn là một cố vấn pháp luật.
• Hình thức hành ngề và tên gọi:
Kiểm toán viên có thể hành nghề kiểm toán độc lập với tư cách là một
chủ sở hữu hoặc một nhân viên, chỉ dưới hình thức sở hữu cá nhân, công ty

triển. Càng đi sâu vào cơ chế thị trường hội nhập khu vực và thế giới, trong
thời đại bùng nổ thông tin thì việc rèn luyện, phát triển đức – tài của đội ngò
cán bộ kiểm toán viên đặt ra rất quan trọng và cấp bách.
Trải qua gần 10 năm xây dựng và trưởng thành, đội ngò cán bộ kiểm
toán viên nước đã không ngừng lớn mạnh về số lượng, đã chứng tỏ sự vững
vàng về bản lĩnh chính trị, thường xuyên tu dưỡng đạo đức, lối sống, có
phong cách dân chủ tập thể, có ý thức tổ chức kỷ luật, nói đi đôi với làm, đã
có nhiều đóng góp vào sự nghiệp chung được đồng nghiệp tín nghiệm, được
các đối tượng kiểm toán tin cậy, yêu mến. Hầu hết cán bộ kiểm toán viên tuổi
đời còn trẻ, có trình độ học vấn, nhưng để hoàn thành tốt công việc kiểm toán,
nhiều người thiếu sự chuẩn bị kỹ, chưa được rèn luyện, thử thách của thực
tiễn, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, lãnh đạo các đơn vị lại thiếu kiểm tra nhắc nhở
thường xuyên sinh ra kiêu ngạo lợi dụng chức vụ, quyền hạn coi thường kỷ
cương kỷ luật. Không thể có đạo đức nghề nghiệp nếu không gắn bó tha thiết
với nghề nghiệp, không thấy rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình. Nhưng đạo
đức nghề nghiệp là gì? không phải là khái niệm chung chung mà phải được
biểu hiện cụ thể trong quá trình hoạt động kiểm toán, đeo mang suốt đời của
người kiểm toán viên. Đạo đức nghề nghiệp còn phải được rèn luyện trong
việc học tập nâng cao tay nghề, tham gia nghiên cứu khoa học và giải quyết
các mối quan hệ trong đời sống xã hội, giữa cái chung và cái riêng, giữa cá
nhân và tập thể. Muốn có chất lượng và hiệu quả một cuộc kiểm toán phải dùa
trên cơ sở vững chắc của đạo đức nghề nghiệp. Nhiều trường hợp những lỗi vi
phạm dù nhỏ hay lớn, nhưng để có bằng chứng kiểm toán thì phải kiểm chứng
xác thực và có sức thuyết phục cao, khi cần thiết người kiểm toán viên có tâm
đức không bao giê giấu dốt, có thể mở sách giáo khoa trước đồng nghiệp của
mình cùng nghiên cứu, cùng tranh luận hoặc khi cần báo cáo lên trưởng đoàn
hoặc người cao hơn, mục đích cũng là để làm sáng tỏ vấn đề đưa ra được
đánh giá, kết luận đảm bảo tính khách quan, chính xác, trung thực… và cũng
là để học hỏi thêm các đồng nghiệp. Tham gia nghiên cứu khoa học với tinh
thần tìm tòi, sáng tạo, phát hiện những điều mới mẻ là những biện pháp không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status