THỰC TRẠNG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CÁ NHÂN CHO HỌC SINH CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ THỊ HỒNG GẤM, THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM - Pdf 48

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống những năm đầu của thế kỉ XXI, những năm thực hiện chiến
lược vì quyền lợi và tương lai tốt đẹp cho mọi người. Để đạt được mục tiêu đó
không chỉ đòi hỏi sự tham gia của nền giáo dục mà cần có dự chung tay hỗ trợ của
tất cả các thành viên trong cộng đồng.
Trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng đều là tương lai của đất nước.
Điều này đã được khẳng định trong điều 23 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền lợi
của trẻ em: “ Trẻ em khuyết tật có quyền được chăm sóc đặc biệt, được hưởng
quyền giáo dục bình đẳng, được đào tạo để có điều kiện hòa nhập vào xã hội, phát
triển nhân cách về cả mặt thể chất lẫn tinh thần nhằm giúp trẻ tham gia tích cực
vào cộng đồng”.
Giáo dục tiểu học là cấp học cơ bản và là nền tảng của hệ thống giáo dục
quốc dân, góp phần hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và
lâu dài của nhân cách, phát triển toàn diện, hài hòa về đạo đức, trí tuệ, thể chất
thẩm mỹ làm bàn đạp để đưa các em học tiếp lên cao hơn.
Nói đến trẻ em, không phải trẻ nào cũng lành lặn và phát triển tốt, các trẻ
khác nhau đều có những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển của mình,
trong đó có trẻ chậm phát triển trí tuệ. Ngay khi chập chững bước vào lớp Một, trẻ
gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học tập: Nghe, nói, đọc viết …, ngoài
những bất lợi về kiến thức thì các em còn gặp khó khăn trong nhiều vấn đề về kỹ
năng, đặc biệt là kỹ năng tự phục vụ bản thân.


Dạy cho trẻ chậm phát triển trí tuệ ở lớp Một kỹ năng tự phục vụ được xem
làm một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và mang lại khá nhiều lợi ích, giúp cho trẻ
sớm có ý thức, thích nghi với cuộc sống trong gia đình, xã hội, làm chủ được bản
thân, hướng đến một mục đích sống lành mạnh hơn. Chính vì vậy để phát triển
được kỹ năng này, không phải chỉ có giáo viên giảng dạy mà còn đòi hỏi sự phối
hợp từ nhiều phía khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng hướng đến vẫn là giúp cho
trẻ chậm phát triển trí tuệ hòa nhập và sống thật có ích cho xã hội. Như vậy, làm



II/ NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.

Một số khái niệm có liên quan

1.1.1. Kĩ năng tự phục vụ
Kỹ năng tự phục vụ là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân
về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay
công việc phục vụ cho cuộc sống của chính bản thân mình.
Đối với lứa tuổi mẫu giáo, tiểu học thì kỹ năng tự phục vụ được hướng dẫn
thông qua các việc làm như: Sắp xếp giày dép đúng quy định khi vào phòng học,
treo khăn lau mặt đúng nơi quy định, tự xúc ăn,…

1.1.2. Trẻ CPTTT
1.1.2.1. Khái niệm
CPTTT là một khiếm khuyết của sự phát triển não bộ.Trẻ có hoạt động trí tuệ dưới
mức trung bình, hạn chế về kỹ năng thích ứng và khuyết tật xuất hiện trước 18
tuổi.
Phân loại trẻ CPTTT thường dựa vào chỉ số thông minh IQ. Người có chỉ số thông
minh từ 75 – 100 là người phát triển bình thường. Chỉ số thông minh IQ dưới 75 là
người CPTTT, nếu chỉ số IQ 60 – 74 có thể theo học được các lớp hòa nhập trong
trường phổ thông. Chỉ số thông minh IQ 40 – 60 mức độ chậm vừa có thể tham gia
học tại các trường chuyên biệt dành cho trẻ CPTTT. Trẻ có chỉ số thông minh IQ
dưới 40 mức độ CPTTT nặng có thể học các kỹ năng tự phục vụ bản thân.
1.1.2.2. Một số đặc điểm của trẻ CPTTT
* Đặc điểm về tri giác


nhớ không chính xác, thậm chí có thể quên trong thời gian rất ngắn.
- Trẻ ghi nhớ máy móc tốt hơn là ghi nhớ ý nghĩa. Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát con
chim, trẻ chú ý đến một đặc điểm là chim bay được, sau đó trẻ quan sát những con
vật biết bay khác thì trẻ vẫn cho rằng đó là con chim.
- Trẻ chỉ ghi nhớ dấu hiện bên ngoài, ghi nhớ ý nghĩa hay logic đều cực kỳ khó
khăn đối với trẻ.
* Đặc điểm hành vi:
-

Hành vi trẻ chậm phát triển trí tuệ được các nhà khoa học biết đến như là một

thách thức lớn không chỉ cho người giáo viên trực tiếp dạy học cho đối tượng này
trong lớp học mà còn cho cả các nhà khoa học, nhà nghiên cứu. Trong tổng số trẻ
chậm phát triển trí tuệ thì có tới 40% trẻ có những biểu hiện hành vi lệch chuẩn
(hành vi bất thường). Đặc điểm hành vi của trẻ chậm phát triển trí tuệ được thể
hiện trên 3 cấp độ: tự ý thức, tự nhận thức và tự ý thức về mặt xã hội và các kĩ
năng xã hội.
* Đặc điểm ngôn ngữ:
Việc nghiên cứu tình trạng ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ em CPTTT đã được nhiều
nhà khoa học đề cập tới như L.S Vugotsky, A.G Spikin, D.B Elkonin, S.L


Rubinstein…đều đã có một nhận xét chung: trẻ em CPTTT không chỉ kém về mặt
nhận thức mà thường kéo theo sự khiếm khuyết về khả năng ngôn ngữ. Các trẻ
CPTTT do bị tổn thất trung tâm ( TW thần kinh) kéo theo sự ảnh hưởng nghiêm
trọng đến tri giác nghe, hiện tượng co giật hay bị liệt cứng làm tổn thất đến cơ
quan vận động ngôn ngữ sẽ nảy sinh các khuyết tật về ngôn ngữ và giao tiếp (như
nói khó, không nói được, nói ngọng, nói lắp…).
* Về các mối quan hệ xã hội
- Khó thiết lập mối quan hệ với người khác.

bạn bè khi gặp khó khăn,…
* Một số kỹ năng phức tạp hơn như:
- Đi chợ, ví dụ như ra chợ mua rau,...
- Tự đi lại bằng phương tiện giao thông công cộng, như là đi xe buýt sang
làng khác, ...
- Tham gia các hoạt động xã hội, như là sinh nhật, đám cưới, đám ma, ...
- Làm một số việc nhà hữu ích, như là cho gà, cho cá ăn hay phơi quần áo,...
- Xử lý những tình huống khẩn cấp, ví dụ như phải biết làm gì khi ai đó bị
tai nạn, biết lúc nào thì nên gọi 115.
- Các hoạt động đơn giản có liên quan đến công việc/việc làm, như là pha trà
và cà-phê, giúp gia đình mở cửa hàng, hay chuẩn bị bữa ăn, ...

1.3.

Tầm quan trọng của hình thành kĩ năng tự phục vụ cho trẻ CPTTT ở lớp1.


Tự phục vụ bản thân là một trong những kỹ năng quan trọng thúc đẩy trẻ hoàn
thiện mình một cách tốt nhất. Đây còn là cơ hội vàng giúp trẻ nhanh chóng khôn
lớn và trưởng thành trong cuộc sống. Thiếu kỹ năng tự phục vụ sẽ dẫn đến hệ lụy
trẻ lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia vào các hoạt động của tập thể. Vì
thế, muốn trẻ nên người, chúng ta cần rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ngay từ
những bậc học nhỏ nhất.
Kỹ năng tự phục vụ cho trẻ chậm phát triển trí tuệ là một yếu tố quan trọng có thể
giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công. Dạy cho trẻ biết các
kỹ năng tự phục vụ, trẻ ý thức được sự cần thiết của việc tự phục vụ bản thân, biết
tự chăm sóc bản thân, tăng cường tính độc lập, trẻ sống có trách nhiệm hơn đối với
chính mình, dạy trẻ biết quan sát và làm theo hướng dẫn của người lớn trong các
công việc nhỏ hàng ngày… Với những hạn chế do khuyết tật, sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến các hoạt động thể chất và tinh thần. Vì vậy, các em có những nhu cầu cấp

ở lớp 1 trường Tiểu học Lê Độ.
Về thực trạng việc hình thành kỹ năng tự phục vụ bản thân cho trẻ chậm phát triển
trí tuệ thì chưa được nhà trường chú trọng . Đa số học tại trường là học sinh trong
xã, các em được học gần nhà nên việc ở bán trú không được triển khai nên học sinh
bình thường hay chậm phát triển trí tuệ ít được trang bị các kỹ năng tự phục vụ.
Giáo viên dạy hầu hết do không được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực giáo
dục trẻ khuyết tật cho nên về mặt lí luận nhìn chung còn hạn chế. Chưa xác định
được cơ sở cốt lõi để làm điểm tựa chính khi xây dựng chương trình; chưa có cơ
quan có thẩm quyền biên soạn chương trình, quản lí, giám sát việc thực hiện
chương trình nên việc sử dụng chương trình còn tuỳ tiện, thiếu tính thống nhất,


việc học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm với các trường còn hạn chế. Do không được tiếp
cận với chương trình giáo dục, thiếu kiến thức, kĩ năng chăm sóc, giáo dục trẻ
khuyết tật cho nên sự hỗ trợ của phụ huynh trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ rất
hạn chế; giáo viên tiêu tốn rất nhiều thời gian vào biên soạn chương trình nên
không còn nhiều thời gian cho việc thiết kế bài dạy, tìm kiếm và làm đồ dùng dạy
học, hình thành kỉ năng cho các em, vì vậy chất lượng giảng dạy chưa đạt hiệu quả
cao.
2.4.

Gia đình và địa phương.

Xã Bình Tú là một xã thuộc diện khó khăn của huyện Thăng Bình, việc tập huấn
hay tiếp cận được các chương trình giáo dục của địa phương còn rất yếu, chưa có
chính sách, tổ chức hay cá nhân nào có đủ trình độ và khả năng để hướng trẻ đến
một môi trường hòa nhập mới, chính vì vậy việc giải quyết vấn đề này đang đặt ra
một cách bức thiết.
Về phía gia đình: Nhìn chung ở hầu hết các gia đình có trẻ khuyết tật (chậm phát
triển trí tuệ) chưa được tiếp cận với chương trình giáo dục của con em mình. Chính

kĩ năng tự phục vụ cho trẻ giáo viên nên linh hoạt để đạt được kết quả tốt hơn.

3.2.

Một số biện pháp hình thành kĩ năng tự phục vụ cho trẻ CPTTT ở lớp 1.

3.2.1. Biện pháp làm mẫu
Biện pháp làm mẫu được sử dụng khá nhiều trong dạy và hoc ở Tiểu học, nó không
chỉ ứng dụng trong dạy học các môn học mà còn được sử dụng để hướng dẫn hình
thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ chậm phát triển trí tuệ.


Biện pháp làm mẫu trong dạy học được hiểu là giáo viên sẽ là người hướng dẫn
thực hiện bất kỳ nhiệm vụ nào một cách ngắn gọn, cụ thể và dễ thực hiện có sự
quan sát của học sinh, để thông qua đó học sinh có thể bắt chước và làm theo như
giáo viên đã làm.
Để làm cho học sinh chậm phát triển có thể qua sát và thực hiện lại được được thì
giáo viên có thể làm mẫu một cách trực tiếp thông qua ví dụ rõ ràng về một kỹ
năng hoặc một thủ thuật nào đó để học sinh dễ tiếp thu.
Những lưu ý khi sử dụng biện pháp làm mẫu:
Giáo viện cần phải nhận thức được rằng, hành vi của mình làm “hình mẫu” cho các
em, nên phải hành xử một cách lịch sự , đường hoàng, không để những tác động
bên ngoài chi phối hành động mẫu. Đa số trẻ là học sinh Tiểu học (lớp Một), nếu
giáo viên có một cử chỉ, hành động sai, hấp tấp, thô lỗ thì chính những điều đó
hướng học sinh tới một cách làm sai lệch. Và ngược lại nếu trong quá trình làm
mẫu, giáo viên tiến hành một cách gọn gàng, lịch sự,…thì sẽ cho ra bản sao ở học
sinh có những tín hiệu tích cực. Ngoài ra trước khi tiến hành làm mẫu thì giáo viên
cũng phải tìm hiểu khả năng nhu cầu của trẻ từ đó dạy cho trẻ những kĩ năng tự
phục vụ hằng ngày.
Để việc làm mẫu được hiệu quả, cần thưc hiện các bước sau:

này, giáo viên nên giúp đỡ tạo điều kiện để trẻ có ít nhất một người bạn thân nhất
trong lớp, thường tham gia cùng trẻ trong các hoạt động và giúp đỡ trẻ. Bắt đầu từ
các phong trào: “Đôi bạn cùng tiến”, “hoa học tốt”, “hoa điểm 10”, thông qua
những phong trào như vậy, trẻ được bạn bè giúp đỡ về việc học, sắp xếp đồ dùng,


sách vở sau khi đi học về ngoài ra trẻ có cơ hội được bạn bè giúp đỡ và tìm được
một người bạn thân để giúp đỡ trong các hoạt động: cởi áo khoác, cởi mũ khi đến
lớp, thu dọn sách vở, ...
Thông qua đó sẽ tạo cho trẻ mối quan hệ bạn bè ấm áp, những người bạn sẽ
giúp trẻ mau chóng hòa nhập với nề nếp sinh hoạt, cách ứng xử phù hợp trong
trường lớp. Hơn nữa trẻ cảm thấy an tâm, vui vẻ khi có bạn bè sẽ là điều kiện quan
trọng tiếp thu các kĩ năng tự phục vụ cần thiết.
Giáo viên có thể thành lập nhóm bạn sẵn sàng giúp đỡ trẻ chậm phát triển trí
tuệ. Những em này biết quý mến bạn, không ngại khó và có ý thức trách nhiệm khi
được giáo viên phân công. Các em là những người thường xuyên giúp đỡ các em
trong vấn đề: phụ trẻ lấy sách vở, sắp sếp bàn học, đi vệ sinh,giữ gìn trường lớp
sách đẹp, ... Việc thiết lập mối quan hệ với bạn bè giúp trẻ không còn cảm giác tự
ti, tạo động lực để các em tự rèn luyện các kĩ năng cần thiết.
Những lưu ý trong việc sử dụng biện pháp “vòng tay bạn bè”:
Khi lựa chọn thành viên của vòng bạn bè, giáo viên nên chọn những học
sinh mà trẻ chậm phát triển trí tuệ thích. Những học sinh này có thiện cảm với trẻ
chậm phát triển trí tuệ, biết chia sẽ giúp đỡ trẻ.
Khi sắp xếp chỗ ngồi nên cho những cặp học sinh có trẻ chậm phát triển trí
tuệ ngồi bàn gần giáo viên , để giáo viên dễ dàng quan sát và có những hỗ trợ cần
thiết, vì không phải lúc nào học sinh giúp đỡ cũng làm được tất cả mọi việc.
Ví dụ: Sau khi chơi đồ chơi xong, các bạn bên cạnh hướng dẫn và giúp đỡ trẻ thu
dọn đồ chơi.Giáo viên cho trẻ tham gia các hoạt động tập thể như lao động, vệ sinh
trường lớp. Giáo viên viên hay hướng dẫn cán bộ lớp phân công công việc vừa sức
với trẻ và được làm chung với một số bạn thân như: tưới hoa, quét sân hay tham

+ Bước 4: Súc miệng lại bằng nước cho sạch và rửa mặt.

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo dục hòa nhập trẻ Chậm phát triển trí tuệ bậc Tiểu
học, sách dành cho giáo viên Tiểu học, Viện chiến lược và chương trình giáo dục
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật bậc Tiểu học, Dự án
phát triển giáo viên Tiểu học, Hà Nội
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Trung tâm
nghiên cứu chiến lược và chương trình Giáo dục chuyên biệt năm 2016.
4.Đặng Vũ Hoạt (chủ biên) (2004), Giáo trình Giáo dục học Tiểu học, Nhà xuất
bản Đại học sư phạm Hà Nội


5. Nguyễn Quang Uẩn ( chủ biên) (1997), Tâm lý học đại cương, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội 6. Nguyễn Đức Minh ( chủ biên) (2006), Giáo dục trẻ Chậm
phát triển trí tuệ, Viện chiến lược và chương trình giáo dục.
7. Võ Đình Dũng, Bài giảng tâm lý học lứa tuổi, khoa Tâm lý – Giáo dục, trường
Đại học Quảng Nam.
8. Viện khoa học giáo dục (2001), Dạy học hòa nhập và cộng đồng cho học sinh
khuyết tật, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status