1 of 128.
Nghiên cứu điều chế, khảo sát cấu trúc hoạt
tính quang xúc tác của bột titan đioxit kích
thước nano được biến tính crom
Trần Thị Bích Ngọc
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên; Khoa Hóa học
Chuyên ngành: Hóa vô cơ; Mã số: 60 44 25
Người hướng dẫn: PGS. TS. Ngô Sỹ Lương
Năm bảo vệ: 2011
Abstract. Giới thiệu chung về vật liệu TiO2, vật liệu TiO2 biến tính và các phương
pháp hóa lý nghiên cứu cấu trúc và đặc tính bột TiO2 biến tính. Trình bày các phương
pháp thực nghiệm: nghiên cứu điều chế, khảo sát cấu trúc, hoạt tính quang xúc tác của
bột titan điôxit kích thước nano được biến tính crom; khảo sát, nghiên cứu các điều kiện
ảnh hưởng đến quá trình điều chế bột Cr-TiO2 bằng phương pháp sol-gel như: ảnh
hưởng của thời gian làm già gel, ảnh hưởng của tỷ lệ mol Cr/TiO2, ảnh hưởng của nhiệt
độ nung…; nghiên cứu các điều kiện ảnh hưởng đến quá trình điều chế bột Cr-TiO2
bằng phương pháp thủy phân như: ảnh hưởng của nồng độ axit, ảnh hưởng của tỷ lệ mol
Cr/TiO2, ảnh hưởng của thời gian nung và nhiệt độ nung, ảnh hưởng lượng ure…; sử
dụng một số phương pháp hóa lý hiện đại để nghiên cứu cấu trúc, đặc tính của sản phẩm
như: phương pháp phân tích nhiệt, phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD), phương pháp
hấp thụ quang UV-VIS, phương pháp tán xạ diện tử EXD, phương pháp hiển vi điện tử
truyền qua (TEM). Đưa ra kết quả và thảo luận: điều chế Cr-TiO2 bằng phương pháp
sol-gel; điều chế Cr-TiO2 bằng phương pháp thủy phân.
Keywords. Hóa vô cơ; Hóa học; Titan đioxit; Nano
Content.
TiO2 đã được nghiên cứu rất nhiều như là một chất xúc tác quang hoá bán dẫn kể
từ khi Fujishima và Honda phát hiện khả năng phân tách nước bằng xúc tác quang hoá
trên các điện cực TiO2 mà không dùng dòng điện vào năm 1972 [21]. Sự kiện này đã
đánh dấu sự bắt đầu của kỷ nguyên mới trong xúc tác quang hóa dị thể.
biến tính bằng crom cho kết quả cho thấy năng lượng vùng cấm giảm, hoạt tính quang
xúc tác tăng lên đáng kể, tuy nhiên những kết quả thu được vẫn còn nhiều điểm khác
nhau giữa các nghiên cứu và quy trình điều chế chưa được công bố một cách cụ thể
Vì vậy, trong luận văn này chúng tôi đề xuất đề tài “Nghiên cứu điều chế, khảo
sát cấu trúc, hoạt tính quang xúc tác của bột titan điôxit kích thước nano được biến
tính crom”
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 2
3 of 128.
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu chung về vật liệu TiO2
1.1.1. Đặc điểm cấu trúc và tính chất vật lý của TiO2 [15,20,39]
Titan đioxit hay còn gọi là titan (IV) oxit hoặc titania, là oxit có nguồn gốc tự
nhiên của titan. Khi được sử dụng như là một loại chất màu sử dụng trong các ngành
công nghiệp sản xuất sơn, mỹ phẩm, thực phẩm..., nó có tên thương phẩm là chất màu
Màu Trắng - 6 (White – 6) hoặc CI 77.891. Nhưng ngày nay titania được biết đến
nhiều nhất trong vai trò chất có khả năng xúc tác quang hóa.
Titan đioxit tinh thể lại có 3 dạng thù hình khác nhau: anatase, rutile và
brookite, ngoài ra còn 2 dạng chỉ tồn tại dưới điều kiện áp suất cao đó là đơn tà
baddeleyite và dạng trực thoi, thường chỉ được tìm thấy gần các miệng núi lửa. Trong
đó, rutile là dạng thù hình phổ biến nhất và bền vững nhất, cả anatase và brookite đều
chuyển sang rutile khi được gia nhiệt.
(anatase)
(rutile)
một lượng tử ánh sáng có bước sóng 413nm. Năng lượng vùng cấm của TiO2 đều phù
hợp để hấp phụ ánh sáng tử ngoại.
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 4
5 of 128.
1.2. Vật liệu TiO2 biến tính [39]
1.2.1 Mục đích của sự biến tính vật liệu TiO2
Những ứng dụng quan trọng của vật liệu TiO2 kích thước nano chính là nhờ khả
năng quang xúc tác dưới ánh sáng tử ngoại. Tuy nhiên, hiệu suất của quá trình quang
xúc tác này đôi khi bị ngăn cản bởi độ rộng vùng cấm của titania. Vùng cấm của TiO2
nằm giữa vùng UV (3.05 eV đối với pha rutile và 3.25 eV đối với pha anatase), mà
vùng UV chỉ chiếm một phần nhỏ của năng lượng mặt trời (
khả kiến là cần thiết, vì có nhiều ứng dụng trong thực tiễn và lợi ích về mặt kinh tế là
rất lớn. Trong khóa luận này tôi khảo sát quá trình quang xúc tác trong vùng hấp thụ
khả kiến. Đặc tính bán dẫn của Cr/TiO2 được thể hiện trong các chất rắn được chuẩn bị
bởi phương pháp rất khác nhau. Ví dụ, trong Cr/TiO2 crom P-25 đã được tìm thấy như
một hỗn hợp phức tạp của Cr (III), Cr (V) và Cr (VI), trong khi ở các phim titania
chuẩn bị theo phương pháp sol-gel chỉ sự hiện diện của Cr (III) đã được quan sát bởi
XPS quang phổ. Hơn nữa, khi các chất xúc tác đã được chuẩn bị bằng cách pha thủy
nhiệt của TiO2, sự có mặt của Cr (III) và Cr (IV) cũng quan sát thấy. Vai trò của quá
trình oxy hóa crom tích cực hay tiêu cực tác động trên chất bán dẫn titan cho mục đích
xúc tác quang học vẫn còn là một chủ đề gây tranh cãi. Với mục tiêu của sự hiểu biết
vai trò của crôm như một chất biến tính, chúng tôi đã nghiên cứu ảnh hưởng của crom
với quá trình phân hủy quang của Cr-TiO2. Bán kính cation Cr (III) (0.755Å) gần với
Ti (IV) (0.745Å), do vậy, một thay thế có thể có của Ti (IV) trong khuôn khổ có thể đạt
được. Cr-pha tạp chất bán dẫn TiO2 được tổng hợp bằng phương pháp sol-gel sử dụng
tiền chất crom nitrate và tetrabutylorthotitanate, bằng phương pháp thủy phân sử dụng
crom nitrate và TiOSO4.
Như vậy việc đưa ra một quy trình hiệu quả của việc điều chế TiO2 biến tính
kim loại crom là rất quan trọng và cần thiết. Các vật liệu tổng hợp được đánh giá qua
cân bằng hấp thụ nitơ, UV-vis, nhiễu xạ X-quang, tia X-quang điện quang phổ và phân
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 6
7 of 128.
tích nhiệt. Việc đánh giá xúc tác quang học đã được thực hiện với sự phân hủy quang
xanh metylen dưới nguồn ánh sáng UV.
Chƣơng 2: THỰC NGHIỆM
2.1. Mục tiêu và các nội dung nghiên cứu của luận văn
2.3.
Hoá chất và thiết bị
2.3.1. Hóa chất
Các hóa chất sử dụng cho việc tiến hành thực nghiệm bao gồm:
* Ti(OBu)4 99,9% (Merck).
* Urê (CO (NH2)2) (Merck).
* TiOSO4 99,9% (Sygma)
* Etanol tuyệt đối (Merck).
* HNO3 65% (Merck).
* Xanh metylen (Trung Quốc).
* H2SO4 98% (Merck)
* Nước cất hai lần.
* Cr(NO3)3.9H2O (Trung Quốc).
2.3.2. Dụng cụ và thiết bị
* Cốc thủy tinh các loại
* Máy khuấy từ (Trung Quốc)
* Pipet 0,1ml; 0,5ml; 1ml; 5ml, 10ml,.
hết tinh thể, sau đó thêm nước cất đến vạch mức, lắc đều. Dung dịch này được sử dụng
để pha chế các dung dịch khác có nồng độ Cr3+ thấp hơn trong các thí nghiệm yêu cầu
với tỷ lệ Cr/TiO2 khác nhau.
* Pha dung dịch Xanh methylen.
Cân 0,200g xanh methylen cho vào bình định mức 2 lít, thêm nước cất đến vạch
mức ta được 2 lít dung dịch xanh methylen. Lấy 200 ml dung dịch vừa pha cho vào
bình định mức 2 lít, thêm nước cất đến vạch mức, ta được 2lít dung dịch dùng để thực
hiện quá trình phân hủy quang với chất xúc tác là sản phẩm điều chế Cr-TiO2.
Nồng độ xanh methylen của dung dịch dùng cho quá trình phân hủy quang:
C
0,2 0,2
0,01( g / l )
2
2
(2.1)
2.4. Điều chế bột TiO2 biến tính crom bằng phƣơng pháp sol-gel
Bột TiO2 biến tính crom được điều chế bằng phương pháp sol-gel theo quy trình
sau đây:
a) Chuẩn bị dung dịch A:
Đầu tiên 3,1 ml Ti(OBu)4 được hòa tan trong 8,3 ml ethanol, khuấy trộn đều
trong 10 phút trên máy khuấy từ, sau đó cho tiếp từ từ 0.07 ml (65%) HNO3 vào và tiếp
tục khuấy trong 30 phút.
b) Chuẩn bị dung dịch B (chuẩn bị trong khoảng thời gian chuẩn bị dung dịch A):
Hút 4,2 ml C2H5OH cho vào cốc, sau đó cho tiếp 0,4 ml Cr3+ CM vào, ta thu được
dung dịch B (lượng 0,4ml Cr3+ được xem như là lượng nước trong quá trình sol-gel).
Dung dịch B được cho một cách rất chậm vào dung dịch A. Hỗn hợp được thủy
Chƣơng 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Điều chế Cr-TiO2 bằng phƣơng pháp sol-gel
3.1.1. Khảo sát quá trình phân hủy nhiệt của gel khô bằng phƣơng pháp phân tích
nhiệt
Hai pic thu nhiệt ở 57,99oC (mẫu TiO2) và 64,71oC (mẫu Cr-TiO2) được quy gán cho
quá trình mất nước và N2 hấp phụ trên bề mặt TiO2. Các pic tỏa nhiệt ở nhiệt độ
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 10
11 of 128.
khoảng 150oC chính là quá trình đốt cháy dung môi etanol còn lại trong mẫu và nbutanol tạo thành do quá trình thủy phân Ti(OBu)4. Các pic tỏa nhiệt ở các khoảng
nhiệt độ từ 250 - 400oC được quy gán cho quá trình chuyển pha từ vô định hình
(amophous) sang anatase. Nhìn chung cả hai mẫu TiO2 và Cr-TiO2 tương đối ổn định ở
nhiệt độ ≥ 500oC.
3.1.2. Khảo sát ảnh hƣởng của thời gian làm già gel
Để khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian làm già gel, chúng tôi tiến hành quy
trình thực nghiệm như ở mục 2.1, với các điều kiện cố định: tỷ lệ Cr/TiO2 = 0,01%, sấy
ở 90oC, nung ở 500oC trong 4 giờ. Các mẫu được làm già gel với các thời gian khác
nhau từ 1, 2, 3, 4 và 5 ngày được kí hiệu tương ứng là SCr1N, SCr2N, SCr3N, SCr4N
và SCr5N.
Các mẫu Cr-TiO2 sau khi điều chế được tiến hành ghi nhiễu xạ tia X. Giản đồ
XRD và các thông số vật lí của các mẫu theo thời gian làm già gel khác nhau được chỉ
ra ở hình 3.3 và bảng 3.1.
Từ kết quả thu được chúng tôi nhận thấy, khi kéo dài thời gian làm già gel từ 1
tới 2 ngày thì kích thước hạt giảm, khi kéo dài thời gian hơn nữa thì kích thước hạt
tăng. Nguyên nhân có thể là do thời gian làm già gel càng kéo dài thì mức độ kết tụ
giữa các hạt càng lớn nên kích thước hạt tăng.
Vậy nhiệt độ nung thích hợp nhất cho quá trình điều chế bột titan đioxit biến
tính crom là 600oC.
Để đánh giá hình thái và kích thước hạt của mẫu TiO2 không biến tính và mẫu
Cr - TiO2 với tỷ lệ % Cr/TiO2 = 0,01% chúng tôi tiến hành chụp ảnh TEM. Ảnh TEM
của các mẫu TiO2 được chỉ ra ở hình 3.12. và 3.13.
Tóm lại, đã xác định được các điều kiện thích hợp cho quá trình điều chế bột
Cr-TiO2 bằng phương pháp sol-gel như sau: thời gian làm già gel là 2 ngày, sấy gel ở
nhiệt độ 900C trong 24h, tỷ lệ % của Cr/TiO2 = 0,01% (mol/mol), nhiệt độ nung thích
hợp là 6000C trong 4 giờ.
3.2. Điều chế Cr-TiO2 bằng phƣơng pháp thủy phân
3.2.1. Khảo sát quá trình phân hủy nhiệt của mẫu TiO2 và Cr-TiO2
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 12
13 of 128.
Để xác định nhiệt độ nung thích hợp đối bột TiO2 khô thu được trong quá trình
điều chế bột TiO2 biến tính Cr kích thước nano, hai mẫu bột TiO2 khô không biến tính và
Cr-TiO2 chúng tôi tiến hành ghi giản đồ phân tích nhiệt. Hai mẫu bột khô được điều chế
theo quy trình như đã trình bày ở 2.2. Mẫu Cr-TiO2 được điều chế ứng với tỷ lệ %
Cr/TiO2 (mol/mol) là 0,00375%, mẫu TiO2 không biến tính được điều chế tương tự
nhưng thể tích dung dịch Cr3+ được thay bằng nước cất hai lần.
Hai pic thu nhiệt ở 52,360C (mẫu TiO2) và 50,870C (mẫu Cr-TiO2) được cho là
quá trình mất nước và N2 hấp phụ trên bề mặt TiO2. Các pic tỏa nhiệt ở nhiệt độ
237,040C (mẫu TiO2) và 237,400C (mẫu Cr-TiO2) được gán cho quá trình chuyển pha
từ amophous sang anatase. Nhìn chung cả hai mẫu TiO2 và Cr-TiO2 tương đối ổn định
ở nhiệt độ > 450oC nên các mẫu nghiên cứu tiếp theo chúng tôi tiến hành nung ở nhiệt
độ 5000C.
3.2.2. Ảnh hƣởng của lƣợng urê
5000C trong 4h. Các mẫu lần lượt được ký hiệu là: TCr0, TCr1, TCr2, TCr3, TCr4,
TCr5.
Để xác định sự có mặt của Cr có trong mẫu pha tạp chúng tôi tiến hành ghi phổ
EDX của các mẫu TiO2 không biến tính và mẫu TiO2 có biến tính Cr (tỷ lệ Cr/TiO2 =
0,00375% (mol/mol) và nung ở nhiệt độ là 5000C trong 4 giờ.
Để quan sát hình thái các hạt tinh thể TiO2 và xác định kích thước hạt của mẫu
TiO2 và Cr-TiO2 với tỷ lệ số mol Cr/TiO2 = 0,025% chúng tôi tiến hành chụp ảnh
TEM cho các mẫu.
Phương pháp BET thường được dùng để xác định diện tích bề mặt riêng của vật
liệu có diện tích bề mặt riêng lớn. Những vật liệu này thường được tiến hành điều chế
và xử lý nhiệt ở nhiệt độ thấp (thường < 5000C). Tuy nhiên, bột Cr-TiO2 của chúng tôi
được điều chế bằng phương pháp thủy phân có mặt urê và ion SO42- (làm giảm kích
thước hạt và tăng diện tích bề mặt riêng) nên mặc dù sản phẩm được tiến hành nung ở
nhiệt độ 5000C mà vẫn cho diện tích bề mặt riêng tương đối lớn. Đường hấp phụ - giải
hấp đẳng nhiệt nitơ của mẫu TiO2 không biến tính và mẫu TiO2 biến tính Cr ở tỷ lệ %
Cr/TiO2 = 0,00375% được đưa ra ở hình 3.26. và 3.27. ta thấy với mẫu TiO2 không
biến tính có thể tích hấp phụ khoảng 68 đến 72 cm3/g và mẫu Cr-TiO2 có thể tích hấp
phụ khoảng 80 đến 82 cm3/g. Diện tích bề mặt BET của mẫu TiO2 không biến tính là
41m2/g nhỏ hơn diện tích bề mặt BET của mẫu Cr-TiO2 là 54 m2/g. Điều này cho thấy
việc đưa Cr3+ vào mạng lưới TiO2 làm tăng diện tích bề mặt riêng của vật liệu TiO2.
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 14
15 of 128.
Như vậy, qua quá trình khảo sát chúng tôi đã tìm được các điều kiện thích hợp
cho quá trình điều chế bột Cr-TiO2 bằng phương pháp thủy phân như sau: Lượng urê là
10g, thời gian thủy phân là 3h, nung mẫu ở nhiệt độ 5000C trong 4h, tỷ lệ % Cr/TiO2 là
0,00375% (mol/mol).
nhỏ hơn, hoạt tính quang cao hơn thể hiện qua thời gian phân hủy xanh mêtylen là 3h
với hiệu suất phân hủy đạt 93,4% so với thời gian 3h của phương pháp sol-gel là
80,9%.
References :
Tiếng Việt.
1. Vũ Đăng Độ (2003), Các phương pháp vật lý trong hóa học, Đại Học Quốc Gia Hà
Nội.
2. Trần Thị Đức, Lê Thị Hoài Nam, Bùi Tiến Dũng, Phùng Thị Xuân Bình, Nguyễn
Xuân Nguyên, Phạm Châu Thùy (2002), “Chế tạo và nghiên cứu ứng dụng các màng
xúc tác quang hóa TiO2”, Tạp chí Khoa Học, T.40, số 4, Tr. 27-31.
3. Lê Kim Long, Hoàng Nhâm dịch (2001), Tính chất lý, hóa học của chất vô cơ, R.
A. Liđin, V. A. Molosco, L. L. Anđreeva, NXBKH & KT Hà Nội.
4. Ngô Sỹ Lương, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hưng (2009), “ Nghiên cứu quy
trình điều chế titan đioxit kích thước nanomet từ tinh quặng inmenit Hà Tĩnh bằng
phương pháp axit sunfuric. 1. Khảo sát quy trình nghiền và phân hủy tinh quặng
inmenit Hà Tĩnh bằng phương pháp axit sunfuric quy mô phòng thí nghiệm”, Tạp
chí hóa học. T.47 (2A), tr.145-149.
5. Ngô Sỹ Lương, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hưng, Thân Văn Liên, Trần Minh
Ngọc (2009), “Nghiên cứu quy trình điều chế titan đioxit kích thước nanomet từ
tinh quặng inmenit Hà Tĩnh bằng phương pháp axit sunfuric. 3. Khảo sát quá trình
thủy phân đồng thể dung dịch titanyt sunfat có mặt ure để điều chế titan đioxit
kích thước nano met”, Tạp chí hóa học. T.47 (2A), tr.150-154.
7. Ngô Sỹ Lương, Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Văn Tiến, Lê Thị Thanh Liễu (2009), “Ảnh hưởng
của polyetylen glycol đến quá trình điều chế bột TiO2 kích thước nano mét bằng phương pháp
thủy phân titanyl sunfat trong dung dịch nước”, Tạp chí Phân tích Hóa - Lý - Sinh học - Tập 14.
số I, tr. 3-7.
8. Hoàng Nhâm (2005), Hóa vô cơ tập III, NXB GD Hà Nội.
18 of 128.
18. Dapeng Xu, Lajun Feng, Ali Lei (2007), “Preparation of TiO2 nanopowders doped
with Y 3+ by plasma spray and characterizations”, pp. 23-78.
19. Du, Bueno-López A., Verbaas M., Almeida A.R., Makkee M., Moulijn J.A., G.Mul
(2008), “The effect of surface OH-population on the photocatalyticactivity of rare
earth-doped P25-TiO2 in methylene blue degradation”, pp. 23-34.
20. Jimmy C. Yu, Jiaguo Yu, Lizhi Zhang, Wingkei Ho (2002), “Enhancing effects of
water content and ultrasonic irradiation on the photocatalytic activity of nanosized TiO2 powders”, Journal of Photochemistry and Photobiology. A: Chemistry
148, pp. 263-271.
21. Fujishima A, Honda K. (1972), “Electrochemical photolysis of water at a
semiconductor electrode”, pp. 1-5.
22. Junshui Chen, Meichuan Liu, Li Zang (2003), “Application of nano TiO2 towards
polluted water treatment combined with electro-photo chemical method, Water
Resaseach, 37”, pp. 3815 - 3820.
23. Jina Choi, Hyun woong Park, Micheal R. (2010), “Effects of Single Metal-Ion
Doping on the Visible-Light Photoreactivity of TiO2”, pp. 1-8.
24. Fujishima A., Hashimoto K., Watanabe T. (1999), “TiO2 Photocatalysis.
Fundamentals and Applications, 1st Edition, BKC Inc., Tokyo”, pp. 4-7.
25. Gombac V., Rogatis L.D., Gasparotto A., Vicario G., Montini T., Barreca D.,
Balducci G., Fornasiero P., Tondello E. and Graziani M. (2007), “TiO2
nanopowders doped with boron and nitrogen for photocatalytic applications Chem.
Phys. 339”, pp. 111–123.
26. Kaifeng Yu, Jingzhe Zhao, Yupeng Guo, Yanhua Liu, Zichen Wang (2005). “Solgel synthesis and hydrothermal processing of anatase nanocrystals from titanium
n-butoxide”. Materials Letters, pp. 56-79.
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 18
19 of 128.
20 of 128.
36. Vieira Ferreira L.F.,W. Kallel S. Bouattour, Botelho do Rego A.M. (2009),
“Synthesis, XPS and luminescence (investigations) of Li+and/or Y3+doped
nanosized titanium oxide”, Materials Chemistry and Physics, 114, pp. 304 – 308.
37. Wenjie Zhanga, KuanlingWang, Shenglong Zhu, Ying Li, FuhuiWang, Hongbo
He. (2009),
“Yttrium-doped TiO2 films prepared by means of DC reactive
magnetron Sputtering”, Chemical Engineering Journal, 155, pp. 83-87.
38. Wonyong Choi, Andreas Termin, Michael R. Hoffmann. (1994), “The role of metal ion
dopans in Quantum-Size TiO2: correlation between photoreactivity and charge carrier
recombination dynamics”, J. Phys. Chem.., 98 (51), pp.13669-13679.
39. Xiaobo Chen and Samuel Mao S.(2007) “Titanium Dioxide Nanomaterials:
Synthesis, Properties, Modifications, and Applications”, pp. 43-56.
40. Xuejun Quan, Qinghua Zhao , Huaiqin Tan , Xuemei Sang , Fuping Wang , Ya Dai
(2007), “Comparative study of lanthanide oxide doped titanium dioxide
photocatalysts prepared by coprecipitation and sol–gel process”, pp. 13-26.
41. Yu-Ling Wei, Kai-Wen Chen, and H. Paul Wang (2010), “Study of Chromium
Modified TiO2 Nano Catalyst Under Visible Light Irradiation”, American
Scientific Publishers, pp. 1-4.
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 20