TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
---------*****---------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TÌM HIỂU VỀ NHỮNG TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC
PHÁT SINH TRONG THỰC TIỄN GIAO KẾT
HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM VÀ
NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
GVHD: ThS.Tăng Thanh Phương
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Thủy Lam
MSSV: 5062258
Lớp: Luật Tư pháp 1 Khóa 32
Cần Thơ, Tháng 04 /2010
LỜI CẢM ƠN
-----------Qua bốn năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Cần Thơ, tôi đã tích
lũy được những kiến thức bổ ích và cần thiết để tiến hành thực hiện tốt luận văn
tốt nghiệp của mình. Để có được thành quả đó là nhờ công lao và sự giúp đỡ
nhiệt tình của tập thể quý thầy cô Khoa Luật đã không quản ngại khó khăn,
truyền dạy cho tôi những kiến thức và những kinh nghiệm thực tiển bổ ích, giúp
cho tôi có thể hoàn thành tốt khóa học, cũng như cung cấp cho tôi những tri
thức cần thiết làm hành trang vào đời.
Trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………..………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
….……………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GDĐT: Giao dịch điện tử
BLDS: Bộ luật dân sự
B2B: Mô hình thương mại điện tử Doanh nghiệp với doanh nghiệp
B2C: Mô hình thương mại điện tử Doanh nghiệp với Người tiêu dùng
IP: Địa chỉ internet
CHƯƠNG 2 ...................................................................................................... 21
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIAO KẾT
HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ..................................................................................... 21
2.1 Thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử....................................... 21
2.2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử ....................................................... 24
2.3 Đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng...................................... 25
2.4 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng ........................................................... 29
2.4.1 Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng điện tử ........................................... 29
GVHD: Tăng Thanh Phương
SVTH: Nguyễn Thị Thủy Lam
Đề tài: Tìm hiểu về những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết
hợp đồng điện tử ở Việt Nam và giải pháp khắc phục
2.4.2 Hình thức và nội dung của hợp đồng điện tử .......................................... 33
2.4.2.1 Hình thức của hợp đồng điện tử ...................................................... 33
2.4.2.2 Nội dung của hợp đồng điện tử ....................................................... 35
2.4.3 Vấn đề lỗi kỹ thuật trong nội dung của hợp đồng điện tử ....................... 37
2.4.4 Chữ ký trong hợp dồng điện tử .............................................................. 38
2.5 Giải quyết tranh chấp phát sinh trong giao kết hợp đồng điện tử........... 46
CHƯƠNG 3 ...................................................................................................... 48
NHỮNG TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC PHÁT SINH TRONG THỰC TIỄN
GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
KHẮC PHỤC ................................................................................................... 48
3.1 Giao kết hợp đồng điện tử mang lại nhiều rủi ro cho các chủ thể tham gia
giao kết .............................................................................................................. 51
3.1.1 Thực trạng ............................................................................................. 51
trong những tiến bộ vượt bậc của ngành công nghệ thông tin nói riêng và khoa học
kỹ thuật nói chung. Công nghệ thông tin ra đời là một trong những công cụ hỗ trợ
đắt lực cho các ngành, nghề phát triển trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội nói chung và đời sống kinh tế nói riêng. Internet ngày càng trở nên quen
thuộc với nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội từ học sinh, sinh viên, công nhân,
viên chức, đến các doanh nghiệp, tổ chức và cơ quan chính phủ. Internet đã xóa bỏ
khoảng cách về địa lý và giảm thiểu chi phí về trao đổi thông tin. Do đó, internet
ngày càng dược ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là ứng dụng nhiều
trong kinh doanh. Các doanh nghiệp ngày càng ưa chuộng hình thức kinh doanh qua
mạng internet, các giao dịch qua mạng cũng được thực hiện nhiều hơn. Các hợp
đồng được đàm phán và giao kết qua internet, giúp các nhà cung cấp hàng hóa, dịch
vụ và khách hàng tiết kiệm được nhiều thời gian và chi phí. Các hợp đồng này được
gọi là hợp đồng điện tử.
Hợp đồng điện tử là một phương thức giao dịch mới và sẽ được sử dụng phổ
biến trong tương lai khi mà công nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật ngày càng
phát triển.
Hợp đồng điện tử mang lại nhiều lợi ích cho các bên giao kết hợp đồng điện tử
đó là các lợi ích: giảm chi phí giao dịch, tiết kiệm được thời gian giao dịch, tiếp cận
thông tin, khách hàng và thị trường một cách nhanh chóng, hiệu quả…Tuy nhiên,
do hợp đồng điện tử là một phương thức giao dịch mới nên bên cạnh những lợi ích
mà hợp đồng điện tử mang lại thì phương thức giao dịch mới này vẫn còn những
tồn tại và vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết. Cụ thể, những tồn tại,
vướng mắc phát sinh đó là:
Thứ nhất, hợp đồng điện tử là một phương thức giao dịch hiện đại mang lại
nhiều lợi ích cho các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, phương thức
này cũng mang lại nhiều rủi ro cho các chủ thể mà nếu như thực hiện bằng phương
thức truyền thống họ sẽ ít khi gặp phải. Các rủi ro mà các bên thường gặp là vấn đề
GVHD: Tăng Thanh Phương
hưởng đến sự phát triển của hợp đồng điện tử.
Thứ ba, hợp đồng điện tử có đặc điểm là mang tính phi biên giới, các giao dịch
được thực hiện thông qua một hệ thống mạng máy tính toàn cầu nên các cá nhân,
thương nhân, tổ chức, doanh nghiệp có thể dễ dàng giao kết hợp đồng điện tử với
bất kỳ ai, vào bất cứ thời điểm nào, ở bất cứ nơi đâu, trong nước hay nước ngoài do
không còn rào cản biên giới nữa. Đối với các hợp đồng điện tử được giao kết giữa
các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trong nước thì pháp luật đã có những quy định
cơ bản hướng dẫn trong các văn bản pháp lý hiện hành như Luật Giao dịch điện tử
của Việt Nam năm 2005 và các văn bản có liên quan.Vậy còn đối với các hợp đồng
điện tử được giao kết với đối tác nước ngoài thì được quy định như thế nào? Hay cụ
thể hơn, nếu các chủ thể trong nước giao kết hợp đồng điện tử với các đối tác nước
ngoài mà phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết như thế nào? Pháp luật nước nào
sẽ điều chỉnh vấn đề này và cơ quan nào sẽ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
GVHD: Tăng Thanh Phương
2
SVTH: Nguyễn Thị Thủy Lam
Đề tài: Tìm hiểu về những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết
hợp đồng điện tử ở Việt Nam và giải pháp khắc phục
phát sinh từ hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài? Thời hiệu khởi kiện đối với các
tranh chấp phát sinh từ hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài là bao lâu? Khi mà
những quy định về giao kết hợp đồng điện tử với các đối tác nước ngoài chưa được
Luật quy định cụ thể.
Thứ tư, chưa có những quy định cụ thể hướng dẫn giải quyết tranh chấp phát
sinh trong giao kết hợp đồng điện tử. Trong thực tiễn giao kết và thực hiện hợp
GVHD: Tăng Thanh Phương
3
SVTH: Nguyễn Thị Thủy Lam
Đề tài: Tìm hiểu về những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết
hợp đồng điện tử ở Việt Nam và giải pháp khắc phục
về giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam, thúc đẩy giao kết hợp đồng điện tử ngày
càng phát triển.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, người viết tập trung tìm hiểu và phân tích
những vấn đề quan trọng sau đây:
- Thứ nhất là về hợp đồng điện tử nói chung và những đặc trưng cơ bản của nó.
- Thứ hai là những quy định của pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng điện
tử
- Thứ ba là phân tích những tồn tại và vướng mắc phát sinh trong thực tiễn
giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam
- Thứ tư là đề xuất những giải pháp khắc phục những tồn tại,vướng mắc phát
sinh liên quan đến giao kết hợp đồng điện tử.
Trong phạm vi đề tài, người viết chỉ tập trung tìm hiểu những vấn đề pháp lý
liên quan đến hợp đồng điện tử còn các vấn đề về kỹ thuật và công nghệ không
thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, người viết sử dung phương pháp nghiên cứu phân tích
luật có thu thập tài liệu, tra cứu văn bản, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, nhằm đưa ra
những giải pháp về mặt luật học có tính thuyết phục nhất.
Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, quy nạp, diễn
nói giao dịch điện tử phát triển cùng với sự phát triển của việc ứng dụng công nghệ
internet trong cuộc sống hằng ngày. Chúng ta sẽ tìm hiểu lịch sử phát triển của các
giao dịch điện tử qua những sự kiện nổi bật sau đây:
- Sự kiện đầu tiên đánh dấu sự phát triển của các giao dịch mua bán hàng hóa
qua mạng internet là vào năm 1991 khi Tim Berners-Lee đã tạo ra trình duyệt web
đầu tiên www. Chính sự kiện này đã cho ra đời một phương thức giao dịch thương
mại điện tử mới-từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng.
- Đến năm 1994 mạng internet được sử dụng rộng rãi. Các cá nhân, tổ chức
đặc biệt là các doanh nghiệp bắt đầu sử dụng internet và web trong hoạt động kinh
doanh. Internet trở thành công cụ quan trọng nhất giúp cho các giao dịch mua bán
hàng hóa qua mạng ngày càng phát triển. Đây cũng là năm ra đời của trình duyệt
web Netscape Navigator, với tính năng hỗ trợ "cookies", những tệp dữ liệu nhỏ
được lưu trên máy tính của người sử dụng đã tạo điều kiện cho việc tạo những cửa
hàng trên Web có khả năng nhận dạng những khách hàng, tập hợp dữ liệu về họ và
cá nhân hóa việc bán hàng để phù hợp với khách hành.
- 1995: Amazon.com, do Jeff Bezos thành lập, khai trương cửa hàng bán sách
và âm nhạc trực tuyến. Sau đó, Bezos tiếp tục kinh doanh đồ chơi, quần áo, đồ điện
và cả kinh doanh dịch vụ web. Amazon.com là nhà tiên phong trong lĩnh vực
thương mại điện tử
- 1997 là thời điểm ra đời của công cụ tìm kiếm google.com, mà chỉ vài năm
sau đã trở thành công cụ tìm kiếm website hàng đầu thế giới.
- Đồng thời tháng 11/1997, internet cũng bắt đầu hoạt động chính thức tại Việt
Nam và đến cuối năm 1999 các giao dịch điện tử mà cụ thể là hợp đồng điện tử-một
loại hình cơ bản của giao dịch điện tử xuất hiện ở Việt Nam, gắn liền với các sản
phẩm như bưởi Năm Roi, áo dài Huế, võng xếp Duy Lợi…
GVHD: Tăng Thanh Phương
5
Phân loại hợp đồng điện tử: Luật Giao dịch điện tử năm 2005 cũng như pháp
luật một số nước không phân biệt hợp đồng điện tử có tính thương mại (Hợp đồng
thương mại điện tử) với hợp đồng không có tính thương mại (Hợp đồng dân sự điện
tử). Điều này có nghĩa hợp đồng dù mang tính chất thương mại hay phi thương mại
cũng đều có thể thực hiện bằng các phương tiện điện tử.
Mặc dù Luật GDĐT năm 2005 chỉ quy định về hợp đồng điện tử nói chung
chứ không đề cập thế nào là hợp đồng thương mại điện tử hay thế nào là hợp đồng
dân sự điện tử. Nhưng chúng ta có thể dựa vào mục đích của giao dịch hay mục
đích giao kết hợp đồng để xác định. Nếu trong một giao dịch mà các chủ thể tiến
hành giao dịch đều nhằm mục đích sinh lời, nhằm mục đích thu lợi nhuận là hợp
1
2
Điều 11(1) Luật mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL năm 1996
Điều 33 Luật Giao dịch điện tử năm 2005
GVHD: Tăng Thanh Phương
6
SVTH: Nguyễn Thị Thủy Lam
Đề tài: Tìm hiểu về những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết
hợp đồng điện tử ở Việt Nam và giải pháp khắc phục
đồng thương mại điện tử. Còn giao dịch mà các bên chủ thể tiến hành giao dịch đều
nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu hằng ngày của họ và mang
tính phi lợi nhuận là hợp đồng dân sự điện tử. Còn giao dịch mà trong đó chỉ có một
bên là nhằm mục đích thu lợi nhuận, còn bên kia tiến hành giao dịch là để phục vụ
3
Ths. Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình luật thương mại cơ bản, tháng 11/2006
GVHD: Tăng Thanh Phương
7
SVTH: Nguyễn Thị Thủy Lam
Đề tài: Tìm hiểu về những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết
hợp đồng điện tử ở Việt Nam và giải pháp khắc phục
đối tác của mình một cách dễ dàng do không còn bị ngăn cách bởi yếu tố biên giới
giống như việc giao kết các hợp đồng truyền thống.
Tuy nhiên, tính phi biên giới này cũng mang lại nhiều khó khăn trong việc giải
quyết tranh chấp giữa các bên liên quan đến địa điểm giao kết hợp đồng điện tử. Bởi
vì việc xác định vị trí, địa điểm mà thương nhân này tiến hành giao dịch trở nên khó
khăn hơn so với hợp đồng truyền thống, thậm chí đôi khi không thể thực hiện được
nếu thương nhân này tiến hành giao kết với thương nhân nước ngoài.
Thứ hai là tính vô hình, phi vật chất: Hợp đồng điện tử là một hợp đồng có
thực trong thực tế nhưng lại tồn trong môi trường ảo, môi trường số hóa nên nó
mang tính vô hình, phi vật chất nghĩa là hợp đồng tồn tại, được chứng minh, được
lưu trữ bởi các dữ liệu điện tử, các thông số kỹ thuật chứ không thể cầm nắm, sờ mó
một cách vật chất được giống như các loại hợp đồng truyền thống.
Đặc điểm này làm cho việc xác định một số yếu tố của hợp đồng như vấn đề
bản gốc, chữ ký hay vấn đề bằng chứng của hợp đồng để làm cơ sở pháp lý khi
tranh tụng trước tòa…sẽ khác xa so với hợp đồng truyền thống. Bởi lẻ, sau khi giao
kết hợp đồng theo phương thức truyền thống, hợp đồng sẽ được chia thành các bản
dành cho cho các chủ thể pháp luật nói chung và doanh nghiệp nói riêng trong nền
kinh tế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Thứ tư là tính rủi ro: Sử dụng hợp đồng điện tử là cách thức giúp giảm chi phí
giao dịch, tiết kiệm được thời gian, phản ánh nhanh nhẹn trước những diễn biến của
thị trường. Tuy nhiên, khi giao kết hợp đồng điện tử các bên cũng phải đối mặt với
nhiều rủi ro do tính vô hình, phi biên giới và hiện đại của hợp đồng điện tử mang
lại.
Như đã nói ở trên, hợp đồng điện tử tuy là có thực nhưng lại tồn tại trong một
môi trường ảo. Trong một môi trường ảo như vậy, việc xác định năng lực giao kết
của các bên, xác định xem đơn đặt hàng trên mạng là thật hay giả nhiều khi rất khó
khăn. Bên cạnh đó, do tính vô hình của hợp đồng điện tử làm cho việc lưu trữ hợp
đồng nhằm đảm bảo bằng chứng về hợp đồng cũng là điều không đơn giản. Hơn thế
nữa, khi mà khoa học kỹ thuật và công nghệ càng hiện đại thì các hành vi xâm
nhập, tấn công, chống phá ngày càng tin vi, vậy làm thế nào để bảo mật hợp đồng
điện tử, làm thế nào để hạn chế sự tấn công, chống phá của các hacker…Đó là
những rủi ro các bên có thể gặp phải khi giao kết hợp đồng điện tử.
1.3 So sánh hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống
Hợp đồng truyền thống là những hợp đồng được giao kết theo phương thức
truyền thống, nghĩa là các bên gặp gỡ trực tiếp tại một địa điểm vào một thời điểm
đã định sẵn để đàm phán và tiến hành ký kết hợp đồng bằng lời nói, văn bản hoặc
bằng một hành vi cụ thể (một người cầm một món hàng đã được niêm yết giá trong
siêu thị đến quầy thanh toán) …Còn hợp đồng điện tử là hợp đồng được giao kết
bằng các phương tiện điện tử.
Xét về bản chất, hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống đều là hợp đồng,
đều có sự thống nhất ý chí giữa các bên. Do đó, chúng có những điểm chung giống
nhau và cả những điểm khác biệt do sự khác nhau về đặc điểm của hai loại hợp
đồng này mang lại.
1.3.1 Những điểm giống nhau giữa hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền
thống:
+ Như đã nói hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống đều là hợp đồng, đều
loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác.
* Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho
các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau.
* Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng,
quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
1.3.2 Sự khác nhau giữa hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống:
Bên cạnh những điểm giống nhau như đã phân tích ở trên. Hợp đồng điện tử và
hợp đồng truyền thống cũng có những điểm khác biệt nhất định. Bởi vì hợp đồng
điện tử là một phương thức giao dịch hiện đại thông qua các phương tiện điện tử với
nhiều đặc điểm đặc thù như tính phi biên giới, tính vô hình, phi vật chất…Chính
điều này đã làm cho hợp đồng điện tử mang nhiều điểm khác biệt so với hợp đồng
truyền thống. Nhiều quy định áp dụng cho hợp đồng truyền thống như quy định về
hình thức viết, về chữ ký tay, về bằng chứng của hợp đồng…trở nên không phù hợp
đối với hợp đồng điện tử. Cho nên nhiều quốc gia trên thế giới đã soạn thảo ra
những hợp đồng điện tử mẫu. Những hợp đồng điện tử mẫu này về mặt nội dung
cũng như về mặt pháp lý đều có những điểm khác biệt so với hợp đồng truyền
thống. Cụ thể là những điểm khác biệt sau đây:
1.3.2.1 Sự khác biệt về chủ thể:
Trong giao kết hợp đồng điện tử, ngoài các bên tham gia giao kết mà một hợp
đồng nào cũng cần phải có là bên bán, bên mua…thì còn xuất hiện một chủ thể khác
liên quan mật thiết, đóng vai trò quan trọng đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng:
GVHD: Tăng Thanh Phương
10
SVTH: Nguyễn Thị Thủy Lam
Đề tài: Tìm hiểu về những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết
được giao kết bằng cách hai bên gặp gỡ trực tiếp tại một địa điểm vào một thời
điểm đã định sẵn để thỏa thuận về các điều khoản của hợp đồng hoặc trao đổi với
4
Khoản 13 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005: Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử là tổ
chức thực hiện hoạt động chứng thực chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật.
Khoản 14 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005: Tổ chức cung cấp dịch vụ mạng là tổ chức cung cấp hạ tầng
đường truyền và các dịch vụ khác có liên quan để thực hiện giao dịch điện tử. Tổ chức cung cấp dịch vụ
mạng bao gồm tổ chức cung cấp dịch vụ kết nối Internet, tổ chức cung cấp dịch vụ kết nối Internet và tổ chức
cung cấp dịch vụ truy cập mạng
GVHD: Tăng Thanh Phương
11
SVTH: Nguyễn Thị Thủy Lam
Đề tài: Tìm hiểu về những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết
hợp đồng điện tử ở Việt Nam và giải pháp khắc phục
nhau các tài liệu giao dịch và trực tiếp ký vào hợp đồng bằng chữ ký tay sau khi các
bên đã đạt được sự thống nhất ý chí về quyền và nghĩa vụ của các bên.
Còn đối với giao kết hợp đồng điện tử, các bên giao tiếp với nhau trong một
môi trường ảo, phi giấy tờ ở bất cứ đâu và vào bất cứ thời điểm nào có máy tính nối
mạng đều có thể truy cập để gửi hoặc nhận một đề nghị hay chấp nhận đề nghị giao
kết hợp đồng dưới dạng thông điệp dữ liệu.
Do đó, việc xác định thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng sẽ trở nên khó
khăn hơn so với hợp đồng được giao kết theo phương thức truyền thống. Bởi lẻ,
Việt Nam đều chấp nhận thuyết này)”
GVHD: Tăng Thanh Phương
12
SVTH: Nguyễn Thị Thủy Lam
Đề tài: Tìm hiểu về những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết
hợp đồng điện tử ở Việt Nam và giải pháp khắc phục
– Khó khăn tương tự cũng sẽ phát sinh khi xác định địa điểm giao kết hợp
đồng. Địa điểm giao kết hợp đồng là một trong những căn cứ để xác định luật điều
chỉnh trong các giao dịch quốc tế. Do đặc điểm của hợp đồng điện tử là mang tính
phi biên giới cho nên các chủ thể chỉ cần có chiếc máy tính nối mạng thì dù ở đâu
cũng có thể tiến hành giao dịch, trao đổi thông tin, đàm phán và ký kết hợp đồng
với các đối tác của mình ở những nơi khác nhau. Vậy địa điểm gửi và nhận một
chào hàng hay chấp nhận chào hàng và địa điểm giao kết hợp đồng sẽ được xác
định là ở đâu? Ở nơi các bên đóng trụ sở hay ở nơi các bên có đang có mặt thực sự
lúc tiến hành ký kết hợp đồng? Và khi đã xác định được một địa điểm như vậy thì
chuyện gì sẽ xảy ra nếu các bên có tranh chấp , luật nào sẽ được áp dụng nếu nơi đó
hoàn toàn không có mối liên hệ mật thiết với các chủ thể tham gia, với nơi phát sinh
nghĩa vụ hay với nơi thực hiện nghĩa vụ.
1.3.2.3 Sự khác biệt về nội dung:
* Địa chỉ pháp lý: Bên cạnh địa chỉ pháp lý thông thường là địa chỉ nơi cư trú
của các chủ thể giao kết nếu chủ thể là cá nhân, là nơi đặt trụ sở chính hoặc nơi
đăng ký kinh doanh nếu các bên chủ thể là doanh nghiệp, tổ chức, các hợp đồng
điện tử còn có địa chỉ email, địa chỉ website, địa chỉ xác định nơi, ngày gửi
Fax…Những địa chỉ điện tử này có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định tính hiện
của một chủ thể tại thời gian và địa điểm ký vào văn bản.
- Còn chữ ký điện tử thì khác. Do sự hiện diện của khoa học kỹ thuật, các
chủ thể có thể lập trình sẵn một chương trình để trả lời hay ký kết các giao dịch nhất
định. Do đó, không cần có sự hiện diện của các chủ thể thì hệ thống vẫn hoạt động
bình thường, vẫn ký vào văn bản điện tử và ràng buộc chủ thể đó. Chữ ký điện tử
bao gồm: chữ ký điện tử thông thường và chữ ký điện tử được chứng thực bởi tổ
chức chứng thực chữ ký điện tử (chữ ký điện tử an toàn).
Điểm khác biệt thứ hai là việc đảm bảo giá trị pháp lý của chữ ký điện tử.
Trong giao kết hợp đồng truyền thống, việc ký kết hợp đồng được thực hiện với sự
hiện diện của cả hai bên tham gia giao kết, các bên trực tiếp ký vào văn bản bằng
chữ ký tay nên không cần nghi ngờ về giá trị pháp lý của chữ ký này ( ở đây ta
không nhắc đến những trường hợp ký sai thẩm quyền). Còn đối với việc ký kết các
hợp đồng điện tử thì khác. Khi sử dụng chữ ký điện tử người ta còn phải chú ý đến
những yêu cầu về mặt công nghệ, vì thực chất chữ ký điện tử chỉ là những dữ liệu
được số hóa, vì vậy cần phải đảm bảo sao cho chữ ký điện tử được sử dụng đó là an
toàn, vẫn nằm trong tằm kiểm soát của người sử dụng và thể hiện ý chí rõ ràng của
các bên về nội dung thông tin trong văn bản điện tử. Cho nên việc nhận dạng chữ ký
điện tử là vấn đề vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng
điện tử được an toàn.
* Việc thanh toán trong các hợp đồng điện tử cũng thường được thực hiện
thông qua các phương tiện điện tử. Vì vậy, trong hợp đồng điện tử thường có những
quy định chi tiết về phương thức thanh toán điện tử như thanh toán bằng thẻ tín
dụng, việc bảo mật thông tin liên quan đến thẻ tín dụng cho khách hàng.
1.3.2.4 Sự khác biệt về bản gốc và lưu trữ hợp đồng
Đối với các hợp đồng truyền thống thì thông thường ở cuối hợp đồng sẽ có
thêm điều khoản quy định về bản gốc và lưu trữ hợp đồng như: “Hợp đồng này
được chia làm bốn bản có giá trị ngang nhau, mỗi bên giữ hai bản”6. Việc chia
thành bốn bản gốc cho hai bên giữ sẽ đảm bảo cho hợp đồng không bị sửa đổi. Nếu
có tranh chấp xảy ra, các bên chỉ việc trình cho cơ quan có thẩm quyền bản gốc mà
mình đang giữ để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng hoặc trong trường hợp cần
1.3.2.5 Sự khác biệt về luật điều chỉnh:
Quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử ngoài việc phải tuân thủ các
quy định pháp luật về hợp đồng nói chung, còn chịu sự điều chỉnh bởi những quy
phạm pháp luật đặc thù dành riêng cho hợp đồng điện tử. Bởi lẻ, có những vấn đề
đặc thù phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử mà pháp luật hợp
đồng truyền thống chưa đề cập đến như thông điệp dữ liệu, trao đổi dữ liệu điện tử,
chữ ký điện tử, chứng thực chữ ký điện tử…do đó, không thể áp dụng những quy
định của pháp luật truyền thống để giải quyết các vấn đề phát sinh chỉ có ở hợp
đồng điện tử. Điều đó lý giải vì sao để phát triển giao dịch điện tử nói chung và giao
kết hợp đồng điện tử nói riêng các tổ chức quốc tế và nhiều nước trên thế giới đều
xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các giao dịch
được tiến hành bằng các phương tiện điện tử. Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới
bên cạnh các đạo luật về hợp đồng truyền thống, người ta phải ban hành Luật giao
dịch điện tử, Luật về thương mại điện tử, Luật về chữ ký điện tử…việc ban hành
các đạo luật này sẽ có tác dụng đem lại niềm tin cho các bên tham gia giao kết hợp
đồng điện tử, từ đó kích thích các bên tham gia giao kết hợp đồng điện tử nhiều hơn
và với giá trị giao dịch cao hơn. Đồng thời việc ban hành các quy định pháp luật
dành riêng cho hợp đồng điện tử còn góp phần tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các
tranh chấp phát sinh từ việc giao kết hợp đồng điện tử.
GVHD: Tăng Thanh Phương
15
SVTH: Nguyễn Thị Thủy Lam
Đề tài: Tìm hiểu về những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết
hợp đồng điện tử ở Việt Nam và giải pháp khắc phục
nước ngoài này khi nhận được thư chào hàng lập tức gửi trả thời chấp nhận thì thời
gian gửi trả lời chấp nhận chào hàng thông qua phương thức truyền thống là đường
bưu điện như trước đây thì cũng phải mất năm đến mười ngày, đó là chưa kể đến
việc đối tác còn phải suy nghĩ về lời chào hàng rồi sau đó mới trả lời chấp nhận thì
còn mất nhiều thời gian hơn. Nhưng khi hợp đồng điện tử ra đời thì tất cả các công
GVHD: Tăng Thanh Phương
16
SVTH: Nguyễn Thị Thủy Lam
Đề tài: Tìm hiểu về những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết
hợp đồng điện tử ở Việt Nam và giải pháp khắc phục
đoạn này đều được thực hiện trên một hệ thống mạng máy tính toàn cầu, chính việc
giao kết hợp đồng thông qua mạng internet đã giúp cho các bên tiết kiệm được rất
nhiều thời gian, theo thống kê cho thấy 80% thời gian để ký kết hợp đồng sẽ được
tiết kiệm nếu sử dụng hợp đồng điện tử. Việc sử dụng internet sẽ giúp người tiêu
dùng, giúp các bên giao kết, kể cả nếu bên giao kết là doanh nghiệp, giảm đáng kể
thời gian giao dịch, thời gian giao dịch qua mạng chỉ bằng 7% thời gian giao dịch
qua Fax, bằng khoảng 0,5% thời gian giao dịch qua bưu điện7.
- Hai là sử dụng hợp đồng điện tử giúp các doanh nghiệp giảm được chi phí
giao dịch, bán hàng.
Hợp đồng điện tử ra đời là kết quả của sự phát triển khoa học kỹ thuật và công
nghệ thông tin. Hợp đồng điện tử là một phương thức giao dịch mới mẽ thông qua
các phương tiện điện tử. Chỉ cần một máy tính có nối mạng thì một nhà kinh doanh
có thể ngồi tại văn phòng của mình thậm chí ngồi tại nhà riêng vẫn có thể giao dịch
cùng lúc với nhiều khách hàng, giao kết được nhiều hợp đồng với nhiều đối tác ở
SVTH: Nguyễn Thị Thủy Lam
Đề tài: Tìm hiểu về những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết
hợp đồng điện tử ở Việt Nam và giải pháp khắc phục
cho nên việc lưu trữ sẽ dễ dàng, gọn nhẹ và tiện lợi hơn rất nhiều so với các hợp
đồng bằng giấy trắng mực đen.
- Ba là việc sử dụng hợp đồng điện tử sẽ đẩy nhanh tiến độ số hóa đối với việc
mua bán một số sản phẩm và dịch vụ.
+ Thứ nhất là đối với các giao dịch buôn bán hàng hóa vật chất và dịch vụ
thông thường. Trong nhóm này, internet sẽ được sử dụng trong các khâu từ chào
hàng, chấp nhận chào hàng, giao kết hợp đồng, thậm chí cả thanh toán. Nhưng việc
giao hàng hóa và dịch vụ tới khách hàng vẫn phải thực hiện bằng các phương tiện
truyền thống do những hàng hóa và dịch vụ này là hữu hình không thể giao qua
mạng được.
Các giao dịch buôn bán thuộc nhóm này có sự kết hợp giữa giao dịch truyền
thống và giao dịch điện tử. Chính sự kết hợp này đã tạo ra những ưu việt và thuận
lợi cho một quy trình giao dịch điện tử nói chung và giao kết hợp đồng điện tử nói
riêng ở vào giai đoạn chuyển đổi từ giao dịch truyền thống sang giao dịch điện tử.
Các giao dịch này phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi chưa đủ điều kiện
và khả năng thực hiện toàn bộ quy trình giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện
tử. Phương thức này cũng phù hợp với các nước nghèo và các nước đang phát triển
trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và khu vực như hiện nay.
+ Thứ hai là giao dịch buôn bán các sản phẩm và dịch vụ số hóa. Các sản phẩm
này là những sản phẩm phi vật thể như các chương trình phần mềm, các website
nhạc, phim, truyện, sách, báo điện tử…Trong nhóm này, internet được sử dụng
trong tất cả các khâu từ việc giao dịch, thực hiện giao kết hợp đồng, thanh toán và
cung ứng hàng hóa, dịch vụ đều được thực hiện thông qua việc truyền các thông
điệp dữ liệu đã được số hóa. Toàn bộ quá trình giao dịch đều được thực hiện theo
được hiệu quả cao. Vì vậy, hợp đồng điện tử ra đời sẽ là chiếc chìa khóa dẫn các
doanh nghiệp đến với những cơ hội, thách thức cũng như đưa tới khả năng nâng cao
năng lực cạnh tranh đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế.
Bởi lẻ, hợp đồng điện tử là phương thức giúp các doanh nghiệp tìm kiếm đối
tác, khách hàng một cách nhanh chóng. Với sự hiện đại của phương thức giao kết
hợp đồng điện tử, các doanh nghiệp trong cùng một lúc và trong một thời gian ngắn
có thể tiếp cận, giao dịch, trao đổi thông tin với rất nhiều đối tác. Thông qua sự kết
nối điện tử, các doanh nghiệp dù ở đâu cũng có thể liên lạc với các nhà cung cấp và
khách hàng của mình một cách nhanh chóng, hiệu quả, cho dù họ ở những nước
khác nhau, thậm chí múi giờ và ngôn ngữ khác nhau mà không phải tốn kém nhiều
chi phí đi lại giao dịch.
Giao kết hợp đồng điện tử thông qua mạng internet sẽ giúp cho các chủ thể dù
họ là ai? Doanh nghiệp, cơ quan chính phủ, người tiêu dùng, dù họ ở đâu? Trong
nước hay ngoài nước vẫn có thể giao tiếp trực tiếp với nhau mà không bị cản trở
bởi khoảng cách về thời gian, địa lý…Điều này, tạo điều kiện cho các chủ thể giao
kết hợp đồng tận dụng tối đa cơ hội hợp tác kinh doanh với nhiều đối tác khác nhau
trong phạm vi một nước cũng như khu vực và thế giới.
Nói tóm lại, việc sử dụng hợp đồng điện tử giúp tiết kiệm thời gian và chi phí
giao dịch, ký kết hợp đồng như đã phân tích ở trên là yếu tố quan trọng làm giảm
chi phí kinh doanh từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Hơn thế nữa, trong môi trường điện tử, thông tin được truyền gửi từ người khởi
tạo và người nhận hầu như là ngay lập tức. Chính điều này giúp cho các chủ thể
kinh doanh có thể tiếp cận và nắm bắt một cách kịp thời những cơ hội kinh doanh
mới, ký kết được những hợp đồng một cách nhanh chóng nhờ vào phương tiện điện
tử.
GVHD: Tăng Thanh Phương
19