TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH sử
ĐẶNG THỊ KIM DUNG
Bước ĐẦU
TÌM HIỂU VÈ NHỬNG NGÔI MỘ GIÓ
TRÊN ĐẢO LÝ SƠN-QUẢNG NGÃI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Văn Vinh.
Hà Nội,
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tác giả xin ừân ừọng cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa, quý
Thầy, cô giáo khoa Lịch sử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy đã giúp đỡ tôi
ừong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thày hướng dẫn : T.s. Nguyễn Văn Vinh. Thầy đã luôn tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Tác giả cảm ơn tập thể lớp K38 A - CN Lịch Sử, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã đóng góp ý kiến trong
quá trình học tập và thực hiện khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2016
Tác giả
không thể thiếu được trong đời sống. Người dân vùng biển do sống ở một môi trường
khắc nghiệt hơn, nơi người chét không phải lúc nào cũng tìm được thi thể nên phổ
biến một tập tục, đó là những người bị nạn trên biển, không tìm được thi thể thì phải
làm mộ gió, dựng cây tre đầu làng, trên cây tre buộc mảnh vải trắng (nhìn như cây
nêu) với niềm tin là gọi hồn người chết trở về nhập vào ngôi mộ.
Tục đắp mộ gió, táng hình nhân thế mạng phổ biến nhiều vùng trên đất nước
ta, nhưng không đâu nhiều bằng huyện đảo Lý Sơn. Bởi ở đây ngoài những ngôi mộ
gió của ngư dân bị gặp thiên tai, tai nạn mất xác trên biển còn có những quân binh các
đội Hoàng Sa, Trường Sa hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Ở Lý Sơn, bãi tha ma nào
cũng có mộ gió, thậm chí vì đất chật người ta còn đắp cả mộ ở góc ruộng tỏi, góc
vườn hay góc sân nhà...
Mộ gió ở Lý Sơn gắn liền với tục cúng “Khao lề thế lính”, một lễ thức của cư
dân vùng biển với tín ngưỡng thờ chiến sĩ trận vong, ở đây là những người lính đi làm
nhiệm vụ ở đảo Hoàng Sa thuở trước:
Hoàng Sa trời nước mênh mông
Người đi thì có mà không thấy về
Đe tài mộ gió được viết khá nhiều, nhưng không phải từ góc độ nghiên cứu
khoa học. Những bài viết về đề tài này hầu hết mới chỉ dừng lại ở mức độ một bài
báo, hoặc một phóng sự nhiều kỳ. Lựa chọn đề tài:” Những ngôi mộ gió ở Lý Sơn”
làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp, tôi muốn đưa đến một cái nhìn toàn diện, bao
quát về mộ gió từ lịch sử, thời gian hình thành, nguyên nhân lập mộ gió, cách thức
tiến hành, ý nghĩa, giá trị của những ngôi mộ gió, điểm khác biệt của mộ gió ở Lý Sơn
với mộ gió ở những địa phương khác...
2. Lịch sử nghiên cứu
Viết về đề tài mộ gió, về những ngôi mộ của hùng binh Hoàng Sa có rất nhiều
bài báo, tạp chí, phóng sự đã từng đăng tải.. .Neu tra cụm từ “mộ gió” ừên Google
search sẽ cho 15.300.000 két quả trong vòng 0,28 giây. Tuy nhiên, các bài báo, tạp chí
- Phương pháp thu thập tài liệu: Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi tích cực
tìm các tài liệu , bài báo tạp chí, internet đã xuất bản có liên quan đến vấn đề mộ gió,
mộ chiêu hồn để đọc, phân tích từ đó đưa ra các lập luận và nhận xét góp phần làm
cho đề tài được khoa học, chặt chẽ và hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó tôi đã tiến hành điền
dã, khảo sát, thống kê những ngôi mộ gió ở Lý Sơn cũng như tiến hành phỏng vấn
người trực tiếp tham gia lập mộ gió và những người trong gia đình có mộ gió.
- Phương pháp phân tích và so sánh tài liệu.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện đảo Lý Sơn
Chương 2: Mộ gió, mộ chiêu hồn và nghi thức liên quan.
Chương 3: Di tích liên quan đến đội Hoàng Sa và ngư dân đánh bắt ở Hoàng
Sa trên đảo Lý Sơn
Kết luận
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VÈ ĐẢO LÝ SƠN
1.1. VỊ trí địa lý và lịch sử hình thành đảo Lý Son
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Huyện đảo Lý Sơn nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liền
chừng 25km, gồm một đảo lớn (Cù Lao Ré), một đảo bé (Cù Lao Bờ Bãi) và hòn Mù
Cu. Vốn được tách ra từ huyện Bình Chánh theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
năm 1992 và trở thành huyện đảo tiền tiêu. Nói về huyện đảo này, nhân dân địa
phương có ca dao thủy trình:
“Trực nhìn thấy ngó Bàn Than
Ba hòn lao Ré nằm ngang Sa Kỳ”
Diện tích của Lý Sơn vào khoảng 9,97 km2, cư dân sống ở đây có hơn 20.000
người. Tổng chiều dài đường bờ biển của huyện đảo là trên 25km. Huyện đảo Lý Sơn
thác để trồng hành, tỏi.
Hệ thống năm ngọn núi trải dài bờ biển phía Bắc tựa như bức tường thành
chắn gió mùa Đông Bắc vào mùa đông cho người dân sinh sống ở phía Nam Đảo.
Huyện Lý Sơn chịu tác động của gió mùa nên có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và
mùa khô, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 3 đến
tháng 8. Vào mùa mưa, biển động, tàu khó ra khơi, ảnh hưởng đến nghề đi biển của
người dân.
Tổng diện tích tự nhiên của huyện đảo là 800ha trong đó đất nông nghiệp
chiếm hơn 400ha. Đất lâm nghiệp chiếm 182ha, đất chưa sử dụng là 218ha... Đất
nông nghiệp trên đảo được canh tác theo hai dạng: cây hoa màu là 383ha chủ yếu
canh tác hành, tỏi, lạc, đậu, bắp... và 17 ha trồng cây ăn quả. Đất là tài nguyên quan
trọng ở Lý Sơn, thu hút khoảng 62% lao động, nuôi sống gần 50% dân số trên đảo.
Bãi cát ven biển có diện tích khoảng 42ha và diện tích này càng ngày bị thu
hẹp do nhu cầu khai thác cát ven biển để trồng hành, tỏi... diện tích đảo cũng vì thế
mà bị thu hẹp dần. Hơn nữa diện tích đất dành cho nghĩa địa ở Lý Sơn cũng quá
nhiều, phân bố chưa thật hợp lý.
Ở thời tiền sơ sử có nhiều khu rừng nguyên sinh và các dòng suối cổ nay đã
cạn, đó là suối Chính và suối ôc. Suối Chình thuộc xã An Hải bắt nguồn từ dòng cây
ữong lòng núi Thới Lới, chảy về phía Nam Đảo, Suối Ốc thuộc xã An Vĩnh, bắt nguồn
từ núi Hòn sỏi và Giếng Tiền chảy về phía Nam Đảo. Đây là hai dòng suối cổ có
nguồn nước ngọt nên cư dân thời tiền và sơ sử ữên đảo Lý Sơn đã sinh sống dọc hai
bên bờ suối và để lại nhiều dấu tích văn hóa. Trên đảo có trữ lượng nước ngầm tương
đối phong phú, đảm bảo sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho người dân.
Đảo Lý Sơn được bao bọc bở biển cả nên việc khai thác và sử dụng các nguồn
lợi từ biển cả là một ưu thế, thuận lợi trong phát triển kinh tế của huyện. Trong sự
kiến tạo địa chất, bậc thềm chân đảo chìm sâu dưới long đất tạo nên nhiều hang hốc,
rạng đá ngầm, đồng thời còn có bãi san hô trải dài ở phía Bắc, và đông đảo các loài
thủy tộc sinh sống. Lý Sơn còn là cửa ngõ gần nhất để đi ra Hoàng Sa đánh bắt, cho
dinh Bà Trời, giếng Vuông. Cu dân Champa sống bằng kinh tế khai thác biển, buôn
bán biển và trồng rau củ, hoa màu...
Cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, những cư dân Việt sinh sống ở ven biển Sa
Kỳ là làng An Hải (nay thuộc xã Bình Châu - huyện Bình Sơn) và làng An Vĩnh (nay
thuộc xã Tịnh Kỳ huyện Sơn Tịnh) đã di cư ra đảo sinh sống. Theo ghi chép của một
số dòng họ trên đảo thì người Việt ra đảo đầu tiên khoảng những năm 1604 -1610, đã
có 15 người từ đất liền ra đảo và phân chia ranh giới khai thác, cứ trú và hình thành
nên hai làng An Hải và An Vĩnh như ngày nay. Ở làng An Vĩnh có 7 vị tiên hiền, gồm
các dòng họ: Phạn Quang, Phạm Văn, Võ Văn, Võ Xuân, Lê, Trần, Nguyễn từ làng
An Vĩnh thuộc xã Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh ra khai phá vùng đất phía tây của Đảo và
lập ra phường An Vĩnh, nay là xã An Vĩnh. Làng An Hải có 8 vị tiên hiền, gồm các
dòng họ: Nguyễn, Dương, Trương, Trần, Võ, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn, Lê từ làng
An Hải thuộc xã Bình Châu ra khai phá phần phía Đông và phía Nam đảo lập ra làng
An Hải, nay là xã An Hải (sau này họ Trần ở làng An Vĩnh và họ Lê ở làng An Hải do
vi phạm luật tục nên bị týớc danh hiệu tiên hiền. Tuy rời khỏi quê hýõng bản quán từ
ðất liền ra ðảo ðể khai phá, nhýng býớc ðầu những cý dân ðầu tiên ra ðảo vẫn chýa
tách hẳn nghĩa vụ của mình với quê hương, bản quán. Vùng đất mà họ khai phá và
định cư cũng chỉ là một phần thuộc quê gốc An Hải và An Vĩnh trong đất liền, Vì vậy
mà dù sống ngoài đảo nhưng phải trở về đất liền khi có tín hiệu gọi về. Tương truyền
khi tiếng trống từ đất liền vọng ra ngoài đảo, các vị tiên hiền phải trở về để thực hiện
nghĩa vụ của mình. Mãi đến năm 1804, các làng ngoài đảo Lý Sơn mới tách khỏi An
Vĩnh và An Hải trong đất liền và được ngày 11 tháng 2 năm 1804 là ngày thả nh lập
những đơn vị hành chính độc lập.
Từ buổi đầu khẩn hoang, lập làng, người Việt ở Lý Sơn đã gặp không ít khó
khăn từ thiên nhiên cũng như sự cướp phá của giặc biển hay còn gọi là giặc Tàu Ô. 2
Đến nay, trên đảo còn có nhiều di tích còn lưu lại đã phản ánh sự đấu tranh kiên
2
7
Do nằm ở vị trí án ngữ cửa biển Sa Kỳ - Quảng Ngãi nên đảo Lý Sơn có tầm
quan ữọng về quân sự. Từ giữa thế kỷ XVII Bắc quân đô đốc Bùi Tá Hán trên đường
đem quân nhà Lê Trung Hưng vào đánh dẹp nhà Mạc, lấy lại vùng thừa tuyên Quảng
Nam đã dừng chân tại đảo Lý Sơn, sau này nhà Nguyễn đã xây dựng ở đây các đồn
3 Dần theo cuốn “Vân hóa truyền thống đảo Lý Sơn”, tr.24.
phòng thủ quân sự để bảo vệ vùng biển Quảng Ngãi. Đặc biệt, do nằm ở vị trí trên con
đường buôn bán gốm sứ, tơ lụa và nhiều mặt hàng khác từ Trung Quốc qua Đông Nam
Á, Nam Á và xa hơn nữa, nên Lý Sơn từ xa xưa đã có sự giao lưu thương mại - văn
hóa với các khu vực lân cận.
1.1.3. Đặc điểm kinh tế xã hội
1.1.3.1. Cơ cấu kinh tế
Lý Sơn được xem như là một làng nông - ngư kết hợp. Người dân vừa làm
nông, vừa đánh bắt hải sản. Mặc dù hòn đảo nằm ở giữa biển khơi, nhưng đại bộ phận
người dân Lý Sơn từ khi ra lập làng đến nay vẫn sống bằng nghề trồng hành, tỏi, bắp,
đậu trên những bãi đất hẹp dưới chân năm ngọn núi: Giếng Tiền, Hòn Vung, Hòn Tai,
Hòn sỏi, Thới Lới ...Một số hộ dân trên đảo làm nghề đi biển và đánh bắt gần bờ, gắn
với ngề lưới cá chuồn, đánh cá sơn,cá trích và câu mực là chính. Nguồn hải sản đánh
bắt được chủ yéu cung cấp cho nhu cầu của nhân dân ữên đảo. Nhờ kinh nghiệm đi
biển được tích lũy qua nhiều năm cho nên vào thời Nguyễn ngư dân ở An Hải, An
Vĩnh đã được triều đình phong kiến tuyển mộ đi khai thác sản vật, đo đạc, cắm mốc
thủy trình ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày nay, do điều kiện kinh té phát
triển, người dân đã đầu tư đóng mới nhiều phương tiện đánh bắt hiện đại, có khả năng
đánh bắt xa bờ ở ngư trường các nước, ở vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa. Kinh tế
biển đang ngày càng phát triển mạnh ở Lý Sơn và đang trở thành kinh tế mũi nhọn
trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi.
Ở Lý Sơn do đất đai không ữồng được lúa, chỉ trồng được bắp, đậu ván và một
số loại khoai mì, đậu phông, cây gai. Từ năm 1960, cây hành, cây tỏi trở thành cây
trồng chủ lực và là nguồn thu chủ yếu của người nông dân trên đảo.
Tỷ trọng các ngành kinh tế chủ yếu của huyện năm 2009 là ngành nông - lâm ngư nghiệp chiếm 5,17%; thuơng mại dịch vụ chiếm 40,6%; công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp chiếm 7,7%. Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của huyện chuyển
dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành thủy sản, tỷ trọng ngành dịch vụ và du lịch, giảm
tỷ trọng của nông nghiệp và công nghiệp.
Như vậy, ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất ữong cơ cấu kinh tế của Lý
Sơn. Trong tương lại không xa, hy vọng với ưu thế biển và kinh nghiệm đánh bắt thủy
sản của ngư dân trên đảo và sự đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ nghề cá của Nhà nước
như xây dựng cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và dịch vụ nghề cá, cho vay vốn ưu đãi
để ngư dân đầu tư mua sắm ngư lưới cụ và đóng mới tàu thuyền...Kinh tế ngư nghiệp
ở Lý Sơn sẽ phát triển mạnh và là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội ở Lý Sơn. Bên cạnh đó, với di sản văn hóa truyền thống đa dạng,
phong phú Lý Sơn sẽ có lợi thế để phát triển du lịch.
1.1.3.2.
Nguồn lao động
Dân số toàn huyện năm 2008 có 20.344 người. Toàn bộ dân số của huyện sống
trong khu vực nông thôn. Mật độ dân số trung bình của huyện là 2.042 người/km2.
Năm 2011 toàn huyện 4.746 hộ gia đình (quy mô trung bình hộ là 4,3 người/hộ), trong
đó có 3.748 hộ nông - lâm - ngư nghiệp, chiếm 80%. Trong giai đoạn 2001-2005 dân
số trung bình tăng 1.251 nguời với tốc độ tăng bình quân năm là 1,5%.
Theo số liệu thống kê của huyện, năm 2008 lực lượng lao động của huyện là
10.944 nguời, chiếm 53,79% tổng dân số toàn huyện. Trong đó số người đang làm
việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 9631 nguời bằng 98,7% số người trong độ
tuổi lao động có khả năng lao động.
Nhìn chung cơ cấu lao động bắt đầu có sự chuyển dịch lao động ngành nông lâm - ngư nghiệp chiếm chủ yếu và giảm từ 85,6% năm 2000 xuống 80,06% năm
2005, đến năm 2008 còn 77,96%, dự báo đến năm 2010 giảm xuống còn 76,46%. Lao
động trong ngành công nghiệp - xây dựng chiếm một phần rất nhỏ và biến động không
khắc tinh xảo ở các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, tiếp thu và biến đổi các
yếu tố văn hóa bản địa của người Chăm trên cơ sở văn hóa của người Việt để hình
thành nên những giá trị văn hóa mới, phục vụ đời sống văn hóa tâm linh của cộng
đồng một cách cởi mở và hội nhập.
Từ sự khai phá đầu tiên của các vị tiên hiền, các tộc học sống quần tụ với nhau
trong từng khu vực theo sự phân chia đất đai ban đầu khai phá và hình thành nên xóm
làng : xóm họ Đặng, xóm họ Nguyễn, xóm họ Phạm...sau này có một số tộc họ khác
tiếp tục ra định cư trên đảo, hình thành nên xóm làng và có mối quan hệ khá mật thiết,
cùng nhau có ữách nhiệm lo chung việc lễ thờ tiên hiền, và thần linh tại đình làng và
các nơi thờ tự khác trong làng, không có hiện tượng tranh chấp ngôi thứ hoặc địa vị
trong làng xã của các tộc họ lẫn nhau. Mỗi tộc học hiện nay đều có nhà thờ tộc họ
riêng, do ông trưởng tộc giữ gìn và lo tổ chức cúng tế. Nét đặc biệt của các tộc họ ở
Lý Sơn là dù trải qua nhiều đời nhưng người trong tộc vẫn xem nhau như ruột thịt, trai
gái cùng họ không được lấy nhau và hàng năm đều về dự lễ giỗ họ, gọi là “cúng việc
lề”. Chính qua hình thức sinh hoạt “cúng việc lề” con cháu có dịp gặp nhau, nhận biết
bà con trong họ, giáo dục con cháu đoàn kết, yêu thương, giữ gìn truyền thống tộc họ.
Đây cũng thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, tưởng nhớ tri ân những người
đã khuất ữong gia đình, tộc họ.
1.2.
Lý Sơn - Quê hương của Hải đội Hoàng Sa
Khác với các hòn đảo ven bờ khác của Việt Nam, ngay từ những ngày đầu mới
khai phá và thành lập đảo đã được các chúa Nguyễn tin tưởng giao cho trọng ữách
quan trọng là vượt biển ra Hoàng Sa để khai thác sản vật, đo đạc và cắm mốc thủy
trình, bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo này. Lịch sử Lý Sơn gắn liền với
quá trình bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa. Theo nguồn thư tịch cổ
như “Phủ biên tạp lục”, “Đại Nam thực lục tiền biên”, “Đại Nam nhất thong chí”
Đại Nam thực lục chính biên cũng ghi chép về đội Hoàng Sa và Phạm Quang
Ảnh người làng An Vĩnh Cù Lao Ré - Lý Sơn như sau: “Tháng Giêng, năm Ất Hợi
1815, sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét đo
đạc.. ”
Tiếp theo vào năm sau: “Năm Bính Tí, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816) ... vua
sai lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình... ”
“Tháng 6, mùa hạ , năm Ất Mùi, Minh Mạng thứ 16( 1835) dựng “thần tứ “ ở
Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi, Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi”
“Việt sử cương giám khảo lược” của Nguyễn Thông có đoạn viết về đội Hoàng
Sa như sau: “...Vạn Lý Trường Sa: từ đảo Lý Sơn tục gọi là Ngoại Lao, người Trung
Quốc gọi là Ngoại La) (tức Cù Lao Ré) đi thuyền về phía Đông, ba ngày đêm thì đến,
Nước Việt Nam ta ở hai buổi quốc sơ thường kén những người đinh tráng ở hai bộ An Hải
và An Vĩnh mà đặt đội Hoàng Sa để đi kiếm lượm những sản vật ngoài biển. Hàng năm
cứ tháng hai đi tháng tám về, bãi cát dăng từ phía Đông mà trải sang phía Nam chỗ nối
lên, chỗ chìm xuống, không biết mẩy nghìn dặm, ở trong có vụng sâu, thuyền có thể đậu
được, trên bãi có nước ngọt, chim biển nhiều giống không biết tên. Có một cái miếu cổ
lợp ngói, biển ngạch khắc mẩy chữ “vạn lỷ Ba Bình ” (muôn dặm sóng êm) không biết từ
đời nào... ”
Đội Hoàng Sa được thành lập dưới thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn từ Gia
Long đến Tự Đức. Đội gồm 70 suất lấy trai tráng xã An Vĩnh, luân phiên nhận nhiệm
vụ ra Hoàng Sa 6 tháng để khai thác sản vật và đo đạc thủy trình. Đội Bắc Hải trực
thuộc sự quản lý của đội Hoàng Sa, giúp đội Hoàng Sa kiếm soát các đảo phía Nam
trong đó có Trường Sa, Côn Lôn, Vũng Hà Tiên. Hoạt động của đội
Hoàng Sa được các tài liệu nhà Nguyễn ghi chép, xác nhận lại một cách liên tục. Theo
Việt sử thông giám khảo lược của Nguyễn Thông thì đến tận cuối đời Tự Đức (1876)
đội Hoàng Sa mới bị bãi bỏ vì Việt Nam bị Pháp xâm lược, hải quân Pháp uy hiếp mặt
Trường Sa, đó là:
- Di tích Âm linh tự với tượng đài chiến sĩ ữận vong là nơi thờ lính Hoàng Sa
chung với các vị thần khác, hàng năm làm lễ tế lính Hoàng Sa và những người bỏ
mình trên biển.
- Miếu thành hoàng làng ở đình làng An Hải, nơi thờ Bùi Tá Hán, Nguyễn Tú
Tài và lính Hoàng Sa bỏ mình trên biển
- Mộ cai đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh tại thôn Đông xã An Vĩnh. Đây là
một ngôi mộ chiêu hồn. Ngoài ra còn có nhà thờ tộc họ Phạm Quang còn lưu giữ
nhiều di vật liên quan đén Phạm Quang Ảnh và đội Hoàng Sa.
- Miếu ông Thắm , nơi thời cai đội Võ Văn Khiết, mộ chiêu hồn của cụ Võ
Văn Khiết, nhà thờ họ Võ.
- Khu mộ gió, khu nghĩa địa giành cho lính Hoàng Sa nằm ở thôn Tây xã An
Vĩnh
- Đình làng An Vĩnh, nơi tế lính Hoàng Sa trước khi lên đường làm nhiệm vụ
và khi trở về.
- Tượng đài hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải và nhà trưng bày các hiện
vật liên quan đến đội Hoàng Sa ở xã An Vĩnh.
Ngoài ra tại làng An Vĩnh trong đất liền nay thuộc xã Tịnh Kỳ huyện Sơn Tịnh
cũng có dấu vết của miếu Hoàng Sa.
Vào tháng hai hàng năm, người dân Lý Sơn còn tổ chức lễ khao lề té lính
Hoàng Sa, trước là lễ cúng cầu an cho những người lính trước khi lên đường nhận
nhiệm vụ ra Hoàng Sa, sau này khi không còn đội Hoàng Sa, các tộc họ trên đảo có
người đi lính Hoàng Sa không trở về đã gắn liền vói lễ cúng việc lề (giỗ họ) gọi là lễ
khao lề thế lính Hoàng Sa.
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa mang đậm ý nghĩa tri ân đối với các bậc tiền
nhân đã hy sinh vì Tổ quốc. Việc hình thành hải đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải là một
trong những nỗ lực lớn của nhà nước phong kiến Việt Nam trong việc chinh phục và
dựng mốc chủ quyền ở biển Đông. Đó là công lao to lớn của cư dân vùng ven biển
sắc tới công lao của những người con anh hùng bỏ mạng trên biển vì sự nghiệp bảo vệ
chủ quyền của dân tộc. Những di tích gắn với hoạt động của đội Hoàng Sa trên đảo
hiện nay, là minh chứng khẳng định: “Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam”.
CHƯƠNG 2
Mộ GIÓ, Mộ CHIÊU HỒN VÀ CÁC NGHI THỨC LIÊN QUAN
2.1. Quan niệm của người Việt về việc an táng người chết
Trong quan niệm truyền thống của người Việt, nếu người sống cần có ngôi nhả
để sum họp, che nắng che mưa thì người chết cũng phải có một nấm mồ để giữ gìn
hình hài. Người Việt Nam rất coi trọng mồ mả của người đã khuất, do lòng thành kính
với người chết mà ra. Hơn nữa, mồ mả không chỉ là nơi an táng, yên nghỉ của người
đã mất mà còn mang ý nghĩa thiêng liêng, tâm linh và huyền bí, khiến người ta phải lo
xây cất mộ cho người chét đàng hoàng, cũng không ai dám động chạm tới mồ mả, sợ
bị “động mộ” ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc tương lai của con cháu trong gia
đình. Luật pháp xưa coi việc xúc phạm mồ mả là trọng tội. Những gia đình nghèo, dù
không có tiền cũng gắng kiếm lấy manh chiếu, hay cỗ áo quan để lập mộ chôn cất cho
người thân chu toàn.
Mộ (mồ, mả) là nơi người chét được chôn cất (chôn xuống đất). Mộ thường
nằm tập trung ở các nghĩa trang hay nghĩa địa hoặc nằm riêng lẻ, rải rác ở khắp nơi,
với xác người chét hoặc tro đốt xác chôn bên dưới. Theo Ngũ Hành, Kim sinh Thủy
(Kim khí nấu chảy ra nước), Thủy sinh Mộc (Nước nuôi cây đâm chồi nẩy lộc), Mộc
sinh Hỏa (Cây cháy phát ra lửa), Hỏa sinh Thổ (Lửa cháy tàn rụi ra tro đất). Cho nên,
chưa “hạ Thổ” là chu luân sanh, trụ, hoại, diệt chưa hoàn tất. Nghĩa là người chết chưa
đi hết hành trình sinh diệt! Người xưa nói: “Song cái nhà, già cái mồ” là muốn khi
chét được mồ yên mả đẹp. Động mồ, động mả là điều đại kỵ. Cho nên, chỉ có xá lợi
của Phật là một thứ ngọc rất qúi, két tinh bởi tinh, khí, thần mới đáng để chiêm bái thờ
phượng mà thôi. Còn tro cốt của người phàm nào làm trái với qui luật tự nhiên, tự nó
sẽ gây ra nhân qủa vật lý có hại mà không ai có thể chối cãi được.
Có nhiều cách phân chia mộ, nhưng xét trường hợp chất liệu làm mộ thì có hai
tan xuống đất. Theo dị đoan, đàn ông có bảy phách hợp với thất khiếu (bảy lỗ) trong
cơ thể. Đàn bà thì có 9 phách hợp với cửu khiếu trong cơ thể. Đàn ông, đàn bà đều có
ba hồn phụ vào tam tiêu. Khi bất tỉnh thì hồn lìa khỏi than thể trong chốc lát, khi
người ta chết thì hồn lìa hẳn khỏi xác. Bởi vậy phách và xác là phần ô trọc nên bị tiêu
hủy đi. Còn linh hồn là phần tinh anh nên vẫn còn và có đủ ý thức. Vong hồn không
được tiêu diệt nên hằng cảm thông với kẻ sống. Vong hồn của cha - mẹ tuy âm dương
khác nhau nhưng vẫn thường dự vào cuộc sống của con cháu, của gia đình, mỗi khi có
điều vui, điều buồn, điều lo sợ. Tổ tiên vẫn phù hộ cho con cháu nên đôi khi vẫn đề
phòng tai ách. Linh hồn tổ tiên và cha mẹ linh thiêng nhường ấy, nên con cháu phải
phụng thờ cha mẹ tổ tiên cho trọn đạo, phải cúng cấp cho tổ tiên, cha mẹ và những
người ở dưới âm phủ không bị thiếu thốn...
Ngày xưa Nho học cho rằng: “sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn” sự chết
cũng như là sự sống, sự tan đi cũng như là sự tồn tại. Nhiều người cho rằng, người
chết ở dưới Âm Phủ vẫn có sự sống, nghĩa là vẫn cần có nhà cửa, có sự sống, trao đổi,
đền ơn, ữả oán, hoạt động như một thế giới thật... Chính vì vậy mà người ta phải lo
lắng xây mộ, mả chu đáo làm “nhà ở” cho người chét, cứ đến ngày tuần, ngày lệ thì
cúng các loại đồ vật như trên trần thế, cúng quần áo, vàng hương để người chét có thể
dùng...
Thờ cúng, xây mộ còn là một trong những việc làm thể hiện đạo hiếu, lòng biết
ơn của người còn sống đối với những người đã khuất, mong người thân của mình sang
thế giới bên kia được mồ yên mả đẹp, an nghỉ nơi chín suối.
2.2. Chiêu hồn nạp táng
Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối
hay do thú dữ vồ... không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an táng