Khóa Luận Tốt nghiệp “Bước đầu khảo sát nhà cổ ở làng Cự Đà, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, Hà Nội” potx - Pdf 16

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Khóa Luận Tốt nghiệp
“Bước đầu khảo sát nhà cổ ở làng Cự Đà, xã Cự Khê,
huyện Thanh Oai, Hà Nội”
1
MỤC LỤC
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP 1
Khóa Luận Tốt nghiệp 1
“Bước đầu khảo sát nhà cổ ở làng Cự Đà, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai,
Hà Nội” 1
MỤC LỤC 2
2
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mỗi làng quê của người Việt, khi nhắc tới đều gắn với hình ảnh cây đa,
bến nước, sân đình, đồng lúa hay là dòng sông bao quanh làng, những hình
ảnh này đã quá quen thuộc đối với những người con xa quê khi nhớ về quê
hương của mình. Văn hóa làng xã được hình thành trên cơ sở những hoạt
động lao động sản xuất, sinh hoạt, phong tục tập quán, truyền thống lễ hội, hệ
thống di tích cũng như hệ thống nhà ở dân dụng tại làng. Đối với mỗi làng
quê, do tác động của nền kinh tế, những giá trị văn hóa có những đặc trưng
riêng.
Trong bối cảnh quá trình đô thị hóa diễn ra rất mạnh mẽ hiện nay, sự
phát triển cũng đi đôi với nguy cơ mất mát các giá trị văn hóa truyền thống
nếu không được giữ gìn, nhiều làng xã có giá trị văn hóa lâu đời đã bị mai
một và quá trình này ngày càng phổ biến và lan rộng. Làng Cự Đà nằm ở xã
Cự Khê huyện Thanh Oai, Hà Nội. Đây là một ngôi làng cổ nằm ven sông
Nhuệ, hiện là một trong số ít các làng cổ còn bảo lưu được các giá trị ban đầu
của một làng quê truyền thống vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Cự Đà hiện nay còn bảo tồn khá phong phú những giá trị văn hóa cả về
vật chất và tinh thần. Cự Đà bên cạnh những đặc điểm chung của kiến trúc cổ

ngôi nhà truyền thống của người Việt.
Trong lĩnh vực văn hoá, nhà ở được tìm hiểu trên nhiều khía cạnh khác
nhau. “Nếp cũ con người Việt Nam: phong tục cổ truyền” (1995) của Toan
Ánh, bên cạnh việc nghiên cứu những phong tục của người Việt tác giả đã
4
danh một phần nói về chức năng và cấu trúc của nhà ở. Tác giả đưa ra các vấn
đề về chọn hướng nhà, việc xây dựng nhà…
Luận văn tiến sĩ của Khuất Tân Hưng làm về “Mối quan hệ giữa văn
hoá và kiến trúc trong nhà ở dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ” (2007) đã
nghiên cứu và tiếp cận kiến trúc nhà ở dân gian từ góc độ văn hoá phù hợp
với điều kiện tự nhiên Việt Nam. Luận văn làm rõ bản chất văn hoá quần cư
và kiến trúc nhà ở dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ và những giá trị văn hoá
chung của chúng, giải thích những hiện tượng kiến trúc phức tạp, từ đó góp
phần nhận diện bản sắc kiến trúc vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng và kiến
trúc truyền thống Việt Nam nói chung.
Năm 1991 mới có một khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Việt Trung,
khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội viết về
làng Cự Đà. Đề tài của khoá luận có tên gọi “Làng Cự Đà từ khi thành lập
dến đầu thế kỷ XX”. Khoá luận này chủ yếu dựa vào các tư liệu địa phương
như gia phả của một số dòng họ được viết vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX, văn bia tại các di tích, các thư tịch cổ… để phác hoạ ra lịch sử
hình thành làng và khoá luận cũng chỉ nghiên cứu làng Cự Đà từ khi thành lập
đến đầu thế kỷ XX. Tác giả chỉ đề cập tới lịch sử hình thành làng về tình hình
văn hoá của làng và không có phần nào tìm hiểu về hệ thống nhà cổ cũng như
cấu trúc và chức năng của nhà cổ ở làng. Tuy nhiên, khoá luận cũng đã bước
đầu tập hợp và hệ thống được nguồn tư liệu địa phương và nêu ra được một số
nét đặc trưng của làng cự Đà.
Năm 2005, trong báo cáo cấp Viện của Huỳnh Phương Lan ở Viện bảo
tồn di tích đã đi vào tìm hiểu làng Cự Đà với gọi “Làng Cự Đà- quá trình
hình thành và phát triển”. Tác giả đi vào tìm hiểu quá trình phát triển của

thành đạt và sung túc hơn so với các làng quê khác. Sự giàu có của làng được
thể hiện tiêu biểu nhất qua việc xây dựng những ngôi nhà gỗ có giá trị ở làng.
6
Nghiên cứu để thấy được thực trạng những ngôi nhà cổ hiện nay ở Cự
Đà và từ đó đưa ra các đề xuất, biện pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa.
Nghiên cứu về cấu trúc và chức năng của những ngôi nhà cổ ở đây,
thông qua đó để thấy được các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của người
dân Cự Đà nói riêng và của người Việt nói chung hiện nay.
Từ nghiên cứu tất cả các vấn đề trên để thấy được những ngôi nhà cổ ở
làng hiện nay có ý nghĩa như thế nào đối với người dân nơi đây, với nền kiến
trúc và văn hóa của dân tộc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Như tên đề tài đã nêu rõ, đối tượng nghiên cứu
của khóa luận này là nhà cổ của làng Cự Đà thuộc xã Cự Khê, huện Thanh
Oai, Hà Nội (những ngôi nhà cổ có niên đại từ 100 năm trở lên).
Phạm vi nghiên cứu: Trong khóa luận này, chúng tôi giới hạn phạm vi
nghiên cứu của là tìm hiểu về nhà cổ theo một quá trình từ tìm hiểu khái quát
về làng sau đó nêu lên số lượng và hiện trạng nhà cổ ở làng, tiếp theo là tìm
hiểu về cấu trúc và chức năng chính trong các ngôi nhà cổ ở làng hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện khóa luận, chúng tôi đã sử dụng một số
phương pháp sau:
Phương pháp hệ thống nghiên cứu các yếu tố hình thành làng Cự Đà
Phương pháp điền dã, nghiên cứu thực địa đây là phương pháp quan
trọng để tiếp cận trực tiếp với những người dân, đi vào khảo sát thực tế từng
ngôi nhà để thấy được hiện trạng, cấu trúc và chức năng của từng ngôi nhà ở
làng. Để thực hiện phương pháp này, chúng tôi tiến hành chụp ảnh, phỏng
vấn, sưu tầm, các ngôi nhà ở làng.
7

huyn T Liờm. on chy qua t C gi l sụng Thanh Oai vỡ sụng ny
chy qua t Oai l. Trong lch s õy l dũng sụng cú giỏ tr v giao thụng
thy, l con ng giỳp lng giao lu, buụn bỏn vi cỏc vựng khỏc. Trong
thi k trc õy, sụng Nhu tp np thuyn bố qua li buụn bỏn, vn chuyn
hng húa.
Lng C hin nay l mt trong ba thụn ca xó C Khờ (thụn C ,
thụn Khỳc Thy v thụn Khờ Tang) thuc huyn Thanh Oai, H Ni, nm
phớa tõy nam ca th ụ H Ni, cỏch trung tõm H Ni khong 15km. Thôn
Cự Đà giáp thôn Khúc Thuỷ (Cự Khê, Thanh Oai, Hà Ni) về phía nam,
ranh giới giữa hai thôn là khu Mả Giai. Phía ông bắc của Cự thụn giáp địa
9
phận thôn Phú Diễn (xó Hữu Hoà, huyn Thanh Trì, Hà Nội). Phía tây
của làng là đồng ruộng giáp với cánh đồng của xã Phú Lãm (qun H Đông,
Hà Ni). Dọc theo đờng làng về phía ông là dòng sông Nhuệ. Qua bên
kia sông là địa phận thôn Thợng Phúc và Phú Điền của xó Tả Thanh Oai,
huyn Thanh Trì, Hà Nội.
V ng thy, thôn Cự Đà nằm trải dài khoảng 800m theo dòng sông
Nhuệ. Trong sỏch i Nam nht thng chớ ó mụ t v dũng sụng ny nh
sau: cỏch tnh thnh 34 dm, cú thuyt núi: vỡ ngn ngun nhn, nờn gi
l Nhu Giang; ngun t phớa ụng nam m Bỏt Long, xó H M huyn T
Liờm, chy vo a phn huyn Thanh Oai, phớa ụng n xó H Liu huyn
Thanh Trỡ, õy cú sụng Tụ Lch chy n, chy ngot sang phớa nam qua
a phn xó T Nhai huyn Thng Phỳc, mt chi phớa ụng hp lu vi
sụng Kim Ngu, cũn chi chớnh thỡ chy v phớa nam vo a phn xó Thnh
c huyn Phỳ Xuyờn hp lu vi sụng Kim ngu, chy sut n ngó ba
Lng ri hp vi Sa Giang, li chuyn sang phớa nam n a phn tng
Trỏc Bỳt huyn Nam Xang thỡ chia lm hai chi: mt chi chy v phớa ụng
bc, chuyn ụng nam, qua a phn cỏc tng Mc Hon v Chuyờn Nghip
huyn qua a phn Duy Tiờn, tc gi ngó ba Vng, li chy v phớa ụng
qua xó Thỏi ng huyn Sn Minh, õy cú kờnh Phng ỡnh chy n,

1.1.1.2. Din tớch v dõn c
Theo tài liệu Cự Đà thôn địa bạ ghi vào năm Gia Long 4 (1805) tổng
diện tích đất đai ở thôn Cự Đà tại thời điểm này l 183 mẫu, 5 sào, 11 th-
ớc, 4 tấc (trong đó bao gồm cả đất ở, ruộng công, ruộng t, đất đình chùa
đền miếu, vờn ao) . Ngoi ra cũn cú 7 mu, 4 so th ph v t gũ, ng.
Tng cng l 190 mu, 9 so, 11 thc, 4 tc, bng khong 686.000 m
2
. Nếu
so với diện tích trung bình của một thôn/xã lúc bấy giờ (490 mẫu), đây là
một làng có diện tích khá nhỏ. Theo thng kờ nm 1928 ca Ngụ Vi Lin,
11
làng Cự Đà có 1850 nhân khẩu [16, tr 200]. Trong khóa luận tốt nghiệp khoa
Lịch sử trường ĐHKHXH-NV của Nguyễn Việt Trung cũng cung cấp một số
liệu khai thác được ở địa phương về tổng diện tích đất đai của Cự Đà trước
năm 1945 là 232 mẫu, diện tích canh tác là 200 mẫu và tổng số dân của làng
là 1187 nhân khẩu. Như vậy bình quân đất ở làng trung bình hơn 1 sào trên
một đầu người. (33, tr 21).
Theo số liệu thống kê n¨m 2005, th«n Cù §µ cã diÖn tÝch tự nhiên là
107 ha (trong đó có 79 ha đất canh tác), có 406 hé gia ®×nh và 1449 nhân
khẩu. Nhưng theo ông Vũ Văn Bằng trong Cự Đà nhân vật chí, tập 2 thì tổng
diện tích đất đai của làng là 280 mẫu, với hơn 400 hộ gia đình và khoảng
1500 nhân khẩu. Như vậy, qua hai thế kỷ, do quá trình bồi đắp và khai thác
đất đai, diện tích đât đai ở Cự Đà đã tăng gần hai lần so với năm 1805.
Làng Cự Đà trước kia có 12 ngõ xóm, nhưng do dân số tăng lên nên
làng được mở rộng thêm 2 xóm mới. Vì vậy, hiện nay có 14 ngõ xóm: xóm
ngõ Thí, xóm Chợ, xóm Điếm, xóm Chùa, xóm Đình, xóm Cương, Xóm
Đồng Nhân Cát, xóm An Lạc, xóm Quang Trung I, xóm Trung Tín (xóm Con
Cóc), xóm Hiếu Đễ, xóm Lễ Nghĩa, xóm Quang Trung II, xóm Ba Gang. Các
xóm được phân bố theo dọc bờ sông giống hình xương cá. Đây là một đặc
điểm đặc biệt của kết cấu làng xóm của người Việt, đầu các xóm chạy dọc

dõn v quỏ trỡnh hỡnh thnh lng h ch bit cỏc th h trc truyn tng li
cõu chuyn lng C hỡnh thnh t rt lõu.
C t thiờn nhiờn thnh C p
Thanh liờn nht i dn giang
Nu da theo ý ngha ca cõu ca dao trờn thỡ lng C ó hỡnh thnh
cỏch õy hng nghỡn nm: Thiờn niờn. Nh vy, lng c hỡnh thnh cỏch
õy nhiu th k.
13
Theo gia phả các dòng họ, làng được hình thành khoảng 800 năm
nhưng theo PGS.TS Trịnh Sinh (Viện khảo cổ học Việt Nam) nghiên cứu và
khẳng định làng đã được hình thành cách đây 2000 năm. Các nhà nghiên cứu
đã tìm thấy những viên gạch có hoa văn đắp nổi hình ô trám, hình đồng tiền,
gạch múi bưởi được xếp từng hàng lớp khi tu sửa nền chùa làng Cự Đà đã
phát hiện ra. Những viên gạch đặc trưng này của các ngôi mộ thời Bắc thuộc
cách đây hai mươi thế kỷ. Qua khẳng định của PGS. TS Trịnh Sinh thì có thể
thấy trong thời Bắc thuộc người Hán đã tới đây từ rất sớm. Cự Đà là khu vực
người Hán đặc biệt quan tâm tới với mục đích để tìm đường đi lại từ Nam
Trung Quốc qua nước ta rồi qua đó để thôn tính các vùng xung quanh.
Từ những câu ca lưu truyền của các thế hệ từ trước tới nay và những
dấu vết khảo cổ học thì có thể thấy làng Cự Đà từ xa xưa đã có người Việt tới
định cư sinh sống ở đây.
Cự Đà trước kia có tên là Ngô Khê. Theo tư liệu văn bia còn lưu ở chùa
làng (Minh Linh tự). Tên gọi có chữ Khê ở khu vực này xuất hiện khá nhiều,
như xã Tam Hưng có làng Bối Khê và làng Phúc Khê (tên gọi của làng này có
nhiều thay đổi trong quá trình hình thành nhưng vẫn giữ nguyên chữ Khê).
Thôn ngay bên cạnh thôn Cự Đà cũng có chữ Khê: Khê Tang. Giải thích về
tên gọi của làng có rất nhiều ý kiến khác nhau. Theo Nguyễn Việt Trung thì
“Người xưa khi đặt tên cho làng của mình, họ thường căn cứ vào những đặc
điểm tự nhiên của vùng đất mà họ sinh sống (như vùng đất có nhiều sông, hồ,
khe lạch hay không, hoặc vùng đất đó cao hay thấp) và kết kợp với họ và tên

triều Chính Hòa thập lục niên tuế thứ Ất Hợi thu (mùa thu năm 1695). Ở cây
hương này, địa danh của Cự Đà được ghi tại mặt trước của cây hương là Ứng
Thiên phủ Thanh Oai huyện Hạ Thanh Oai xã Cự Đà thôn. Có thể thấy, vào
cuối thế kỷ XVII, Cự Đà vẫn chỉ là một thôn của xã Hạ Thanh Oai. Đầu thế
kỷ XIX, làng là một thôn của xã Hạ Thanh Oai, tổng Tả Thanh Oai, huyện
15
Thanh Oai, ph ng Thiờn, trn Sn Nam Thng (nm Minh Mng th 12 -
1831 trn ny nhp vi ph Hoi c thnh tnh H Ni). Cui th k XIX
lng c nõng thnh xó c lp. T nm Thnh Thỏi th 14 (Nhõm Dn,
1902), lng thuc tnh Cu (mt phn ngoi thnh ca tnh H Ni lp
nm 1831), nm 1904 i thnh tnh H ụng.
Năm 1959 xã Cự Đà cùng với hai xã Khúc Thuỷ và Khê Tang sáp nhập
với nhau thành xã Cự Khê thuộc huyện Thanh Oai. Năm 1965 tỉnh Hà Đông
và tỉnh Sơn Tây hợp nhất thành tỉnh Hà Tây. Năm 1976 sáp nhập tỉnh
Hoà Bình với tỉnh Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình. Thời kỳ này Cự Đà
thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Sơn Bình. Tới năm 1991 tỉnh Hà Sơn
Bình tách ra thành 2 tỉnh Hà Tây và tỉnh Hoà Bình, Cự Đà lại thuộc tỉnh
Hà Tây. Nm 2008, H Tõy sỏt nhp vo H Ni nờn hin nay C thuc
xó C Khờ, huyn Thanh Oai, H Ni.
1.1.2.2. Quỏ trỡnh phỏt trin
C hin nay cú nm dũng h ang sinh sng ú l: h Trnh, h
V, h inh, h Vng v h Nguyn. Cỏc h gc ca lng l: inh, Trnh,
V. H inh l h ụng nht, tuy hc hnh khụng cao nhng luụn nm c
cỏc chc trỏch cao trong b mỏy qun lý lng xó. H V cú nhiu ngi hc
hnh thnh t, giu cú, h Trnh vn l dũng dừi ca Trnh Kh (mt trong
nhng ngi tham gia B Ch huy ngha quõn Lam Sn), chuyn c t Thanh
Húa ra, buụn bỏn gii nờn rt khỏ gi vỡ vy hai h Trnh v V thng kt
thụng gia vi nhau.
Thụng qua quỏ trỡnh cỏc dũng h n nh c ti lng thỡ cú th thy
c quỏ tỡnh phỏt trin ca lng qua cỏc thi k. Giai on u, ngi dõn

đều lấy chữ Cự ở đầu như: Cự Doanh, Cự Chân, Cự Chi, Cự Hiên…Kinh tế
thương nghiệp và thủ công nghiệp có những bước tiến vô cùng mạnh mẽ mà
biểu hiện cụ thể nhất là làng có nghề làm tương nổi tiếng và nghệ buôn bán
17
phát đạt. Hai ngành kinh tế này đã trở thành xương sống của nền kinh tế làng
Cự Đà, bên cạnh đó nông nghiệp phát triển nên đã xây dựng thành một Cự Đà
phát đạt, phồn thịnh. Sự phát triển kinh tế được minh chứng qua hàng loạt các
công trình xây dựng phúc lợi của địa phương và những ngôi nhà cổ đều được
xây dựng vào những năm đó. Theo Nguyễn Việt Trung thì “vào thế kỷ XIX
Cự Đà là một làng giàu có, sầm uất và phồn thịnh, sự giao lưu buôn bán rất
phát triển. Buôn bán ở làng gồm nhiều thành phần từ những người buôn bán
ở làng nhỏ với số vốn ít, cho tới những lái buôn có một số lượng hàng và tiền
tệ rất lớn. Họ thuê thuyền đi mua và bán các sản phẩm ở mọi nơi. Hiện tượng
các lái buôn với quy mô làm ăn lớn nói chung là khá phổ biến ở làng Cự Đà”
[33, tr 48].
Khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, ở Cự Đà xuất hiện nghề làm
miến. Người khai sinh ra nghề này là ông Trịnh Văn Cẩn đưa từ Hà Nội về
làng. Nghề miến cho tới ngày nay vẫn rất phát triển và có thể nói đây là nghề
thủ công chính của làng. Khi tới làng chúng ta sẽ thấy hầu như nhà nào cũng
có một khu vực sản xuất miến và khắp làng đâu đâu cũng thấy miến. Với sự
phát triền của nghề thủ công này, năm 2004 làng đã được công nhận là làng
nghề thủ công truyền thống.
1.2. Giới thuyết về nhà cổ và hiện trạng nhà cổ ở làng Cự Đà
1.2.1. Giới thuyết về nhà cổ
Qua các kết quả khai quật của ngành khảo cổ học ở các di chỉ Bình Gia
(Lạng Sơn) và núi Đọ (Thanh Hóa) cho thấy con người nguyên thủy Việt
Nam chủ yếu sống trong các hang động và dùng tre, nứa khai thác dễ dàng
trong rừng núi bạt ngàn thời bấy giờ, đan dựng nên những tấm phên che mưa,
gió để sinh sống trong thời kỳ manh nha tổ chức xã hội này. Như vậy, thời kỳ
này những ngôi nhà vẫn chưa xuất hiện.

gạch với vì kèo gỗ. Khuôn viên nhà bao gồm: nhà chính, nhà phụ (nhà ngang
19
và nhà bếp) và chuồng gia súc cùng sân, vườn, ao, giếng hoặc bể nước và
hàng rào, tường vây quanh, cổng ngõ”.
Các kiến trúc sư chuyên nghiên cứu về kiến trúc nhà ở cổ truyền như
Ngô Huy Quỳnh, Nguyễn Khắc Tụng cũng chưa đưa ra một tiêu chí hay một
ý nào nói thế nào là nhà cổ. Có lẽ nhà cổ là từ thông dụng và từ gọi quen
thuộc của mọi người khi nói về một cái gì đó có lịch sử lâu đời.
Hiện nay, việc nghiên cứu về nhà cổ thu hút được sự quan tâm của rất
nhiều nhà nghiên cứu như: các kiến trúc sư, các nhà khảo cổ, các nhà sử
học… Tuy nhiên vẫn chưa giới nào đưa ra một quan niệm cụ thể về nhà cổ.
Thông thường các sách nói về nhà cổ, chủ yếu nói về các thức kiến trúc và
niên đại của ngôi nhà vẫn chưa chú ý tới việc đưa ra một khái niệm, một quy
ước cụ thể về nhà cổ.
Khi được hỏi về quan niệm nhà cổ, KTS Nguyễn Giang cho rằng “Nhà
cổ là ngôi nhà có thời gian lâu năm (ít nhất là 50 năm trở lên) và trong các
ngôi nhà đó đều mang một dấu ấn văn hóa của dân tộc”.
Qua những ý trên và căn cứ vào tình hình hiện tại chưa có tài liệu nào đưa
ra quan niệm về nhà cổ do vậy, trong phạm vi khóa luận của mình, chúng tôi
đưa ra quan niệm về nhà cổ như sau: “Nhà cổ là một ngôi nhà được xây
dựng từ ngày xưa và tồn tại trong một thời gian dài tới ngày nay, đó là
những ngôi nhà được xây dựng và mang một dấu ấn đặc trưng của thời kỳ
và có giá trị trong nền văn hóa của dân tộc”
Qua quan niệm này, chúng tôi thấy nhà cổ là những ngôi nhà được xây
dựng từ xa xưa, trải qua thời gian khắc nghiệt của thiên nhiên, của các nhân tố
bên ngoài tác động vào, nhưng vượt qua tất cả những thử thách ngôi nhà đó
vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Ngôi nhà cổ này có ý nghĩa quan trọng đối với
các thế hệ trong gia đình đó, mang dấu ấn văn hóa vật chất và tinh thần của
một làng quê đồng thời có ý nghĩa trong nền văn hóa, trong quá trình hình
thành của đất nước ta.

duy trì sự cân bằng tương đối của mọi sự vật, đồng thời thúc đẩy sự vật sinh
trưởng biến hoá không ngừng.). Đặc điểm sử dụng vật liệu của nhà ở dân gian
21
người Việt chịu ảnh hưởng và tuân thủ thao thuyết ngũ hành. Vật liệu trong
ngôi nhà luôn sử dụng sao cho đủ 5 yếu tố để đạt được trạng thái cân bằng.
Trạng thái đó được biểu hiện thông qua sự tương tác của cả 5 yếu tố Kim-
Mộc- Thuỷ- Hoả- Thổ, trong đó hành thổ là nền đất ở trung tâm, hành hoả là
lửa (tương ứng với ngọn đèn dầu luôn cháy sáng trên ban thờ tổ tiên), hành
mộc chính là gỗ (cấu trúc bộ khung gỗ của ngôi nhà), hành thuỷ là nước
(nước mưa chảy từ trên mái xuống), và hành kim là kim loại (các đồng tiền xu
chon dưới chân tảng).
Nhà ở của người Việt có nóc cao khiến con người cảm giác gần gũi với
đất và trời, bởi nhà ở dân gian của người Việt là một tiểu vũ trụ, phản ánh
quan niệm của người Việt cổ về cấu trúc của vũ trụ, không gian mái tượng
trưng cho Trời. Điều này lý giải tại sao không gian mái luôn được mở thông
với không gian sinh hoạt bên dưới. Tầng giữa tượng trưng cho người bởi đó là
nơi diễn ra hầu hết các sinh hoạt trong gia đình. Còn tầng dưới chính là
“không gian” dưới đất.
Ngày xưa, khi làm nhà người Việt không thích sử dụng gạch hoàn toàn
trong ngôi nhà.
Các ngôi nhà bằng gạch ở làng đều là nhà Pháp nên không đánh dấu được
sự phát triển trong kiên trúc cổ của người Việt.
1.2.2. Hiện trạng nhà cổ ở làng Cự Đà
Nhà cổ, làng cổ, phố cổ tất cả những thứ cổ xưa đó gợi cho chúng ta
nhớ về cội nguồn dân tộc, những giá trị văn hoá đó cần được phát huy và bảo
tồn, đó không phải là nhiệm vụ của riêng ai. Nếu như phố cổ Hà Nội là kiến
trúc độc đáo mang nét văn hoá kẻ chợ, hay làng cổ Đường Lâm khiến người
ta nghĩ đến quần thể làng xã người Việt xưa với hệ thống các ngôi nhà làm
bằng đá ong thì ở Cự Đà lại mang nét đẹp đặc biệt. Nhà ở làng có đủ cả ba
phong cách Việt, Trung Hoa và Pháp. Nhưng làng Cự Đà có nét dân dã của

ngôi nhà gỗ có niên đại 100 năm trở lên. Trong tổng số 25 ngôi nhà cổ còn
lại, bên cạnh những ngôi nhà mang kiến trúc truyền thống của nguời Việt có
một ngôi nhà khá đặc biệt đó là ngôi nhà số 39 của ông Đinh Như Lai, xóm
Chùa 3, đó là một ngôi nhà cổ chịu sự ảnh hưởng lớn của kiến trúc Trung
Hoa. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, do nhu cầu về nhà ở, nhiều ngôi nhà
xuống cấp đã bị phá huỷ để thay thế vào đó là những ngôi nhà có diện tích sử
dụng lớn hơn, thuận lợi cho sản xuất.
So với các làng bên cạnh, số nhà gỗ cổ của làng chiếm số lượng khá lớn,
như ở làng Phú Diễn chỉ có khoảng 4 – 5 ngôi nhà gỗ có niên đại lâu đời như
làng Cự Đà. Con số 25 có thể là lớn đối với những làng xung quanh nhưng
đối với làng Cự Đà lại là một điều đáng lo ngại, bởi theo thời gian nếu không
có biện pháp bảo tồn, quy hoạch đúng cách thì số nhà cổ ở làng sẽ dần biến
mất và cũng đồng nghĩa mất đi một giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của
người dân làng Cự Đà nói riêng và của người Việt nói chung.
1.2.2.2.Tình hình nhà cổ hiện nay ở làng Cự Đà
Số nhà thuần Việt còn lại không nhiều và có một ngôi nhà cổ giữ
nguyên vẹn là nhà ông Trịnh Thế Sủng. Ngôi nhà được cụ nội ông Sủng dựng
từ năm 1874. Nhà có năm gian nên hay được gọi là nhà đại khoa. Tất cả nét
kiến trúc vẫn mang đậm phong cách thời Nguyễn với kết cấu dùng thượng
rường hạ kẻ, nét chạm khắc tinh vi trên xà, cột, vách gỗ chỉ bạc màu theo thời
gian chứ hình dáng vẫn như hơn trăm năm trước. Ngôi nhà vẫn giữ được
nguyên bộ bức bàn và bậu cửa từ ngày xưa. Cũng với kết cấu mái truyền
thống Việt nhưng nhà ông Đinh Như Lai lại là một ngôi nhà cổ đậm ảnh
hưởng kiến trúc Trung Hoa. Bức cốn nhiều hình tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai)
và các tích kiểu Bàn đào bát tiên, Bát tiên quá hải Bộ cửa chính có phong
cách Tàu đậm nét, lấy tích từ Tam quốc, Tây du ký, phía trên là những hình
chữ Hán thể Triện được những nhà giàu người Tàu xưa ưa chuộng dành để
trang trí.
24
Những ngôi nhà cổ ở làng phần lớn vẫn giữ nguyên cấu trúc cổ truyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status