LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn dạy học THƠ mới GIAI đoạn 1932 1942 TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ văn lớp 11 tập HAI - Pdf 48

Dạy học thơ mới giai đoạn 1932 – 1942 trong SGK Ngữ văn 11 tập 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

TRẦN KIM KHOA

DẠY HỌC THƠ MỚI GIAI ĐOẠN
1932 -1942 TRONG SÁCH GIÁO KHOA
NGỮ VĂN LỚP 11 TẬP HAI

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Sư phạm Ngữ văn

Cán bộ hướng dẫn: TRẦN ĐÌNH THÍCH
Cần Thơ, 5-2012

SVTH: Trần Kim Khoa

1

GVHD: Trần Đình Thích


Dạy học thơ mới giai đoạn 1932 – 1942 trong SGK Ngữ văn 11 tập 2

ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

GVHD: Trần Đình Thích


Dạy học thơ mới giai đoạn 1932 – 1942 trong SGK Ngữ văn 11 tập 2

3.3.1. Nhóm cố định
3.3.2. Nhóm không cố định
3.4. Vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên trong dạy học hợp tác
3.5. Thiết kế bài tập thảo luận nhóm
3.6. Các dạng bài tập thảo luận nhóm
3.7. Quy trình tổ chức thảo luận nhóm
3.8. Tác dụng của học hợp tác
3.8.1. Đối với học sinh
3.8.2. Đối với giáo viên
4. Các phương pháp dạy học ngữ văn
4.1. Phương pháp đọc
4.2. Phương pháp đàm thoại
4.3. Phương pháp trực quan
4.4. Phương pháp dạy học nêu vấn đề

Chương II THIẾT KẾ GIÁO ÁN CÁC TÁC PHẨM THƠ
MỚI GIAI ĐOẠN 1932-1942 TRONG SGK NGỮ VĂN LỚP 11
1. Lý thuyết soạn giáo án.
2. Giới thiệu thơ mới trong chương trình môn Ngữ văn ở THPT.
3. Thiết kế giáo án các tác phẩm thơ mới giai đoạn 1932-1942 trong SGK
Ngữ văn lớp 11.
- Vội vàng _ Xuân Diệu (1 tiết )
- Tràng giang _ Huy Cận ( 1 tiết )
- Đây thôn Vĩ Dạ_ Hàn Mặc Tử (2 tiết )
- Chiều tối _ Hồ Chí Minh (1 tiết )

đẹp. Và văn chương chính là vẻ đẹp của tâm hồn. Không gì hơn, đó cũng chính là vẻ
đẹp đáng trân trọng nhất ở mỗi con người. Bởi vì vẻ đẹp tâm hồn là vẻ đẹp vĩnh hằng,
bất biến. Và chỉ có thơ văn mới thật sự là một món quà xứng đáng, tuyệt vời nhất đáp
lại vẻ đẹp ấy. Chính vì thế thơ văn đã nghiễm nhiên đi vào tâm hồn tôi để dạy cho tôi
biết được nhiều điều trong cuộc sống , mang đến cho tôi nhiều bài học giá trị về cuộc
đời, giúp cho tôi có được tâm hồn thanh cao hơn và một tấm lòng biết chia sẻ hơn.
Thơ văn còn giúp tôi có được những tình cảm với cuộc sống, có được những cái nhìn
thánh thiện với đời, với người. Tôi yêu thơ văn bởi vì nó giúp tôi biết quý trọng cuộc
sống, biết yêu quê hương, yêu đất nước, biết nhìn ngắm cái đẹp và biết hưởng thụ cái
đẹp, cũng như biết trân trọng và biết gìn giữ cái đẹp. Quan trọng hơn đó chính là việc
truyền thụ cái đẹp, mang đến vẻ đẹp tâm hồn cho mọi người. Và giai đoạn quan trọng
sắp tới đó là một nhà giáo như tôi phải biết làm sao đào tạo ra những tâm hồn biết yêu
cái đẹp, cũng như biết nhận thức sâu sắc về cuộc sống. Đó không là ai khác, mà chính
là những thế hệ trẻ đang còn ngồi trên ghế nhà trường. Để hiện thực hóa ước mơ của
mình, từ việc yêu thơ văn ở bản thân, thì học sinh chính là mầm sống tươi tốt nhất để
đáp ứng cho việc truyền thụ kiến thức, trau dồi tình yêu đối với thơ văn. Và đó cũng là
lí do để tôi quyết định gắn bó làm luận văn, với đề tài “ Dạy học thơ mới giai đoạn
1932-1942 trong sách giáo khoa lớp 11, tập hai (bộ cơ bản)”.
Ngoài lí do chọn đề tài nêu trên thì qua đề tài này người viết còn muốn giới thiệu
cho học sinh biết được sự thay đổi rực rỡ của thơ ca dân tộc, cũng như là những tác
phẩm thơ mới giai đoạn (1932-1942). Mỗi chặng đường đi qua, thơ ca điều mang mỗi
màu sắc riêng, cái hay riêng. Và điều quan trọng là, qua mỗi vần thơ đó nó sẽ giúp ích
cho ta có được một tâm hồn cảm nhận thơ văn và tình yêu thơ văn.
SVTH: Trần Kim Khoa

4

GVHD: Trần Đình Thích



huy hoàng cho một sự chuyển mình đáng kể của văn học, từ một nền văn chương
mang thi pháp trung đại sang một nền văn chương mang thi pháp hiện đại. Và thơ mới
là một sự ươm mầm làm sống dậy “ Cả một thời đại thi ca”, nó mang một màu áo
mới xanh tươi và giàu sức sống cho văn học nói chung và thơ ca nói riêng. Có thể thấy
rằng sự ra đời của thơ mới không chỉ bởi nhu cầu của xã hội mà còn do nhu cầu nội
sinh từ bên trong nền thơ ca dân tộc. Trong khi thơ cũ đang lâm vào tình trạng bế tắc,
bị đóng kén trong một hình thức cổ điển gò bó, tẻ nhạt, không lối thoát thì thơ mới
xuất hiện. Sự xuất hiện của thơ mới đã đem lại sinh khí mới cho nền thơ ca hiện đại
của dân tộc. Phong trào thơ mới đã thanh xuân hóa nền thơ ca dân tộc. Nó đã “ đứng
lên” gánh vác sứ mệnh thiêng liêng mà lịch sử văn chương giao phó, để vực dậy nền
thơ ca Việt Nam để nền thơ ca Việt Nam trở thành một con tuấn mã băng mình trên
đường thiên lý: hiện đại hóa. Do vậy, có thể khẳng định thơ mới đã phục sinh và phục
SVTH: Trần Kim Khoa

5

GVHD: Trần Đình Thích


Dạy học thơ mới giai đoạn 1932 – 1942 trong SGK Ngữ văn 11 tập 2
hưng cho nền thơ ca dân tộc. Phan Khôi là tác giả đầu tiên định danh cho thơ mới.
Trong bài viết “ một lối thơ trình chánh giữa làng thơ”, tác giả phát biểu “ đó là bài
thơ tôi làm trước đây mấy tháng (bài: Tình Già) mà tôi kêu là một lối “ thơ mới”, sở
dĩ ông đi theo “Con đường thơ mới” bởi “ chẳng phải vì tôi thiếu sự nhưng và tôi hết
chỗ lãnh đạo trong thơ cũ, tôi phải đi kiếm miếng đất mới mà miếng đất tôi kiếm đó
chẳng biết có được không nên mới đem ra trình chánh giữa làng thơ…nhưng tôi tin
rằng cái lối thơ cũ ta đã hết chỗ hay rồi, chẳng khác một chế độ mà vượng khí đã tiêu
trầm, ta phải kiếm nơi khác mà đóng đô. Tôi cầm chắc việc đề xướng của tôi sẽ thất
bại nhưng tôi tin rằng sau nàỳ có người làm như tôi mà thành công” [02; tr 7]. Thơ
mới như là một thể thơ tự do : “ đem ý thật ở trong tâm khảm mình tả ra bằng những

SVTH: Trần Kim Khoa

6

GVHD: Trần Đình Thích


Dạy học thơ mới giai đoạn 1932 – 1942 trong SGK Ngữ văn 11 tập 2
Trải qua từng chặng đường phát triển của lịch sử nước nhà cùng với những đổi
mới của xã hội về kinh tế, chính trị, văn hóa thì việc đổi mới giáo dục càng trở nên là
một nhu cầu tất yếu, hiển nhiên. Chính vì thế phương pháp cải cách giáo dục được đặt
ra hàng đầu. Tuy nhiên trong quá trình đổi mới vẫn còn nhiều bắt cập, thiếu sót chưa
thật sự đi vào quỹ đạo chung của sự phát triển đất nước. Có nhiều công trình nghiên
cứu đã vạch ra nguyên nhân của việc sa sút trong giảng dạy như trong quyển “ văn
chương nhìn từ góc sân trường” của tác giả Nguyễn Minh Hùng đã khẳng định “ thầy
giáo dạy văn chưa thu hút học sinh vào bài học là một trong những nguyên nhân chủ
yếu biến tiết học văn thành nhàm chán” [08; tr:147]. Và cũng có nhiều công trình
nghiên cứu đề ra phương án giải quyết, cuối cùng các vấn đề đó vẫn còn nằm ở tình
trạng lý thuyết, khó có thể áp dụng. Cho đến cuối thập niên 60 thì hàng loạt những
nghiên cứu mới được nâng lên một bước về chất lượng, nhiều chuyên luận ra đời như
: Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học (1969) của Phan Trọng Luận; Vấn đề giảng
dạy văn học theo thể loại (1970) của Trần Thanh Đạm, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn,
Huỳnh Lý, Đàm Gia Cẩn; Phân tích tác phẩm văn chương trong nhà trường (1977)
của Phan Trọng Luận; Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn (1978) của Phan Trọng
Luận; Tu từ học với vấn đề giảng dạy ngữ văn (1979) của Đinh Trọng Lạc; Dạy văn
dạy cái hay cái đẹp (1983) của Nguyễn Duy Bình; Cảm thụ văn học giảng dạy văn
học(1983) của Phan Trọng Luận… khi viết quyển “ xã hội văn học nhà trường” tác
giả Phan Trọng Luận đã nêu lên tầm quan trọng của việc giảng dạy văn chương, tác
giả đã bày tỏ “ dạy văn, học văn không còn là công việc riêng của nhà giáo và nhà
trường. Nó trực tiếp liên quan đến chiến lược con người, đến sinh mệnh của chế độ ta

phân biệt phương pháp tích cực hay thụ động, tiến bộ hay lạc hậu” [ 09; tr 44]. Có thể
thấy để cho việc học tốt hơn thì người giáo viên cần phải đặt ra tiêu chí và định hướng
đúng đắn hơn trong quá trình giảng dạy, phải nhận thức được rằng “ giáo viên không
cảm thụ hộ mà là người đứng ra tổ chức quá trình học sinh tiếp nhận, chiếm lĩnh kiến
thức” [12;tr 46]. Chính vì thế mà vấn đề giảng dạy ngày càng trăn trở hơn, suy ngẫm
hơn sao cho phù hợp, và trong quyển “ phương pháp dạy học văn” tác giả đã đưa ra ý
kiến “ chất lượng học văn trong nhà trường phổ thông đang giảm sút nghiêm trọng.
Nhiều vấn đề có ý nghĩa thời sự đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu phương pháp
cũng như đông đảo anh chị em giáo viên ngữ văn cùng giải đáp” [ 11; tr 11]. Chính
điều này buộc ta phải bắt kịp giáo dục phải đi đôi, song song với thời đại và thấy được
rằng “ nhịp độ phát triển của khoa học - kĩ thuật hiện đại đòi hỏi một sự đổi mới cao
độ phương pháp dạy học để nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin, đồng thời có thể
xây dựng được những con người sáng tạo làm chủ khoa học - kĩ thuật hiện đại” [ 13;
tr 271]. Điều đó có nghĩa là đòi hỏi sự linh động, sáng tạo ở vai trò của người thầy
trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào giảng đường, đó nhằm mục đích phục vụ
cho việc giảng dạy được tốt hơn, hiện đại hơn mang lại hiệu quả hơn. Mặc khác đó
còn là tiêu chí đánh giá phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại hóa vai trò của
người thầy. Tuy nhiên nói như thế không có nghĩa là khoa học công nghệ chiếm lĩnh
toàn bộ vai trò của người thầy mà đó chỉ là phương tiện hỗ trợ cho việc giảng dạy
được tiện lợi và tốt hơn. Bởi trong quyển “ văn học giáo dục thế kỉ XXI”, tác giả Phan
Trọng Luận đã khẳng định rằng “ mục đích giờ dạy học tác phẩm văn chương theo
phương pháp mới không phải là giáo viên truyền thụ lời giảng của mình. Mục đích
cao nhất là làm sao cho chủ thể học sinh, dưới sự hướng dẫn của thầy, cảm nhận,
khám phá chiếm lĩnh tác phẩm. Do đó tạo được sự phát triển toàn diện về vị trí tâm
hồn, nhân cách và năng lực” [ 14; tr 291], và tác giả cũng khẳng định giáo viên chính
là người “ tạo cho học sinh trao đổi, bộc lộ những cảm nghĩ của mình về bài văn hoặc
một nhà văn” và cũng “ khêu gợi, kích thích và nuôi dưỡng phát triển ở học sinh nhu
cầu đồng cảm và khát vọng nhận thức cái mới qua các hình tượng, tính cách nhân
vật” [ 12; tr 31]. Tiếp đó, trong quyển “ con đường nâng cao hiệu quả dạy văn” Phan
Trọng Luận lại khẳng định vai trò của người giáo viên “ người giáo viên không thể

đã khẳng định vai trò của người giáo viên “ người giáo viên giỏi phải là người yêu
nghề” và “ lòng yêu nghề” sự giác ngộ chính trị về nghề, lòng hứng thú đối với khoa
học nghề nghiệp và hiệu quả lao động sư phạm” [ 26; tr 397], ngoài ra tác giả còn cho
rằng đó là vấn đề phụ thuộc vào phương pháp của người giảng dạy, bởi “ dạy giỏi là
làm sao cho ngừơi học phát huy tính chủ động tìm tòi, tự học một cách thông minh
sáng tạo, biết gắn với hành” [ 26; tr 72].
Từ các lí luận trên cho ta thấy để dạy giỏi người giáo viên không chỉ trang bị
cho mình kiến thức mà quan trọng là phải biến vận dụng kiến thức đó như thế nào để
tác động vào đối tượng tiếp nhận một cách tốt nhất. Và để làm được điều đó đòi hỏi
người giáo viên phải có khả năng truyền đạt kiến thức sao cho học sinh chiếm lĩnh
nhanh chóng và có thể áp dụng vào thực tiễn một cách năng động, sáng tạo và khả
quan hơn. Từ thực tiễn đó tác giả Phan Trọng Luận đã chỉ ra sự khác nhau giữa cách
dạy học truyền thống và cách dạy học hiện đại, cơ bản là “ đổi mới về vị trí chức năng,
người giáo viên cũng như học sinh trong cơ chế giảng văn, đổi mới về phương pháp
truyền thụ thụ động sang tích cực, sáng tạo trong tiếp nhận và tiếp nhận tác phẩm ở
học sinh trong quá trình giảng văn” [ 13; tr 267], tác giả còn cho biết “ cái quan trọng
nhất trong giảng dạy văn nói riêng là rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy
nghĩ, phương pháp tìm tòi, phương pháp vận dụng kiến thức của mình” [ 13; tr 24].
Ta thấy rõ ràng trong bất cứ môi trường giáo dục nào, thì việc đào tạo học sinh có thể
tư duy, phát triển trí tuệ là một điều được xem trọng đặc biệt khi phương pháp giáo
dục đang dần đổi mới thì vấn đề này càng được xem trọng hơn và trở thành một trong
những tiêu chí hàng đầu trong quá trình giảng dạy, vai trò chủ đạo đúng hướng của
người giáo viên là làm sao có thể khẳng định “ học sinh chính là chủ thể tích cực tham
gia vào quá trình khám phá tác phẩm bài văn” [ 13; tr:267]. Trong quyển “ văn học
SVTH: Trần Kim Khoa

9

GVHD: Trần Đình Thích


phương pháp hệ hòa lẫn với nhau” [ 27; tr 05]. Vì thế yêu cầu đặt ra là “ giáo viên kết
hợp vừa trình bày tài liệu hoặc phân tích một hiện tượng, sự kiện văn học, một tác
phẩm; vừa lưu ý nhấn mạnh phương pháp trình bày, phương pháp phân tích, cần
hướng dẫn học sinh vận dụng phương pháp phân tích đó đối với hiện tượng văn học
hoặc tác phẩm tương tự để các em có dịp rèn luyện kỹ năng” [ 16; tr 91]. Ngoài ra
giáo viên cần phải xác định rõ ràng từng phương pháp để đưa vào ứng dụng cho phù
hợp, bởi vì “ vai trò của một phương pháp có được xác nhận và đề cao hay không
trước hết phải do hiệu lực riêng của bản thân phương pháp, nhưng phương pháp bao
giờ cũng gắn liền với người sử dụng phương pháp” [ 16; tr 158]. Bên cạnh đổi mới
phương pháp giảng dạy, đổi mới tư duy ở người giáo viên đó là việc phải đổi mới
cách nhìn về sách giáo khoa. Điều đó có nghĩa là chúng ta hãy nên gạt đi suy nghĩ
sách giáo khoa là tài liệu duy nhất đúng cung cấp thông tin trong quá trình học. Bởi vì
SVTH: Trần Kim Khoa

10

GVHD: Trần Đình Thích


Dạy học thơ mới giai đoạn 1932 – 1942 trong SGK Ngữ văn 11 tập 2
thực tế từ lâu trong nhà trường điều xem sách giáo khoa là phương tiện cố hữu duy
nhất đúng để bám lấy mà quên đi việc phát triển mở rộng vốn tri thức sẵn có trong suy
nghĩ. Điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến việc giảng dạy của giáo viên và làm hạn chế tư
duy của học sinh. Vì vậy mà trong quyển “ văn học giáo dục thế kỉ XXI ” tác giả đã
kêu gọi “ cần nâng cao chất lượng phương pháp tổ chức học sinh tự chiếm lĩnh tri
thức lên một bước để sách giáo khoa thực sự trở thành công cụ cho học sinh tự học
tập và phát triển nhân cách” [14; tr 125], ngoài ra tác giả còn nhắc “ tác giả sách
giáo khoa phải bước xa hơn ra ngoài địa hạt khoa học cơ bản, để nắm bắt được đầy
đủ yêu cầu sư phạm của một cuốn sách giáo khoa đúng với ý nghĩa đích thực của nó”
[ 14; tr 125]. Bên cạnh đó việc soạn giáo án của người giáo viên giữ vai trò không

11

GVHD: Trần Đình Thích


Dạy học thơ mới giai đoạn 1932 – 1942 trong SGK Ngữ văn 11 tập 2
+ Giúp học sinh cảm thụ được cái hay cái đẹp của mảng thơ ca hiện đại.
+ Bồi dưỡng cho học sinh có cái nhìn tích cực và thích thú với mảng thơ ca hiện
đại.
-Yêu cầu :
+ Người viết phải trang bị cho mình đầy đủ về mặt kiến thức cũng như kỹ năng.
+ Vận dụng những phương pháp dạy học tích cực và hiện đại theo xu hướng hiện
đại hóa việc học.
+ Áp dụng quan điểm lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học.
+ Áp dụng những định hướng dạy học của Marzano một cách hiệu quả.

4. Phạm vi nghiên cứu
Do yêu cầu của đề tài và giới hạn của thời gian nên người viết chỉ chú trọng đi
sâu vào tìm hiểu những phương pháp dạy học tích cực vào việc thiết kế giáo án những
tác phẩm thơ giai đoạn 1932-1942 trong SGK Ngữ văn lớp 11 tập hai. Cụ thể gồm các
bài:
- Vội vàng _ Xuân Diệu (1 tiết)
- Tràng giang _ Huy Cận (1 tiết)
- Đây thôn Vĩ Dạ _ Hàn Mặc Tử (2 tiết)
- Chiều tối _ Hồ Chí Minh (1 tiết)
- Từ ấy _Tố Hữu (1 tiết)

5. Phương hướng và phương pháp nghiên cứu
Phương hướng: để đạt được sự hoàn thiện, trước tiên đi vào nghiên cứu đề tài
người viết đã tìm tòi, tham khảo, sưu tầm những tài liệu có liên quan đến đề tài. Tiếp

định “ phong trào thơ mới trước hết là một cuộc thí nghiệm để định lại giá trị những
khuôn phép xưa” [23; tr 29].
Đó là một số quan điểm, nhận định về thơ mới. Tuy nhiên khi nói đến phong
trào thơ mới thì chúng ta không thể chỉ nghĩ đến thơ ca lãng mạn. Điều đó có nghĩa là
thơ mới ở đây bao gồm cả thơ ca lãng mạn và thơ ca cách mạng. Bởi lẽ nói về thơ mới
thì tác giả “ Thi nhân Việt Nam” nhận định “ danh từ này vốn mới đặt ra, người ta
trao cho nó nghĩa gì thì nó sẽ có nghĩa ấy” [23; tr 29].

1.2. Đặc điểm thơ mới
Thơ mới là một sự vận động và phát triển từ nền thơ ca truyền thống. Bước
nhảy vọt của thơ mới đã đưa nền thơ ca Việt Nam đi đến một đỉnh cao của nghệ thuật.
Tuy nhiên bên cạnh việc kế thừa và phát triển ở thơ ca truyền thống thì thơ mới còn có
những đặc điểm riêng của nó.
Nếu ở giai đoạn 1932-1936 thể thất ngôn và ngũ ngôn rất thịnh, gần với lối cổ
phong. Một số bài thơ của Hàn Mặc Tử trong tập “ gái quê” hay của Phan Văn Dật
trong “buâng khuâng” vẫn còn giữ nhạc điệu lối ngũ ngôn cổ phong xưa, nghệ thuật:
bằng, trắc, đối ý, đối chữ vẫn được duy trì, thì ở thể thơ mới tuy vẫn còn sử dụng lối
ngũ ngôn, thất ngôn nhưng đã mềm mại và uyển chuyển hơn so với thơ cổ phong.
Thể thơ lục bát được nâng niu. Một số tác giả như Huy Cận, Nguyễn Bính đã
mang đến cho lục bát một khuôn khổ mới, đó chính là sự cách tân. Có thể nói nhờ ảnh
hưởng của thơ Pháp, thơ mới đã sử dụng những hình ảnh khá phong phú và linh hoạt.
Thơ mới có khả năng diễn đạt sinh động hơn lối thơ cũ bằng việc sử dụng cách hiệp
vần phong phú, lối ngắt nhịp sinh động, ngôn ngữ gợi cảm, giàu hình tượng, nhạc điệu
dồi dào. Nếu ở thơ cũ ta thường bắt gặp cách gieo vần ở cuối câu đầu và câu chẵn,
hiệp vần bằng hình thức độc vận và chỉ dùng một loại vần thì ở thơ mới cách thể hiện
khác hơn ở cuối mỗi câu đều có gieo vần và có nhiều cách hiệp vần chịu ảnh hưởng

SVTH: Trần Kim Khoa

13

Thì ở thơ mới vẫn có sự tương đồng:
“ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
( Đây thôn Vĩ Dạ_Hàn Mặc Tử )
Thơ mới thường diễn tả những tình cảm buồn, sâu kín nên thường nghiêng về
thanh bằng:
“ Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”
( Tràng giang _Huy Cận )
Hay :
“ Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

SVTH: Trần Kim Khoa

14

GVHD: Trần Đình Thích


Dạy học thơ mới giai đoạn 1932 – 1942 trong SGK Ngữ văn 11 tập 2
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông”
( Tinh huyết _ Bích Khê )
Ở thơ mới ta thường thấy cách phối âm đặc biệt, nhất là thường sử dụng những
phụ âm vang: a, an, ang, ưng…
Ở thơ cũ, cách ngắt nhịp nói chung không thay đổi, thường : ngũ ngôn ngắt
theo nhịp 2/3 hoặc 1/3, thất ngôn thì ngắt theo nhịp 4/3 hoặc 2/5 còn trong thơ mới có
lối ngắt nhịp linh hoạt và độc đáo hơn :
“Thu lạnh/ càng thêm nguyệt tỏ ngời,


GVHD: Trần Đình Thích


Dạy học thơ mới giai đoạn 1932 – 1942 trong SGK Ngữ văn 11 tập 2
Tóm lại ta thấy trong thơ mới đã có những thay đổi đáng kể. Cùng kế thừa
những tinh hoa thơ ca của dân tộc thì song song đó là sự vận động, phát triển và đổi
mới bắt kịp với thời đại . Có thể nói “ phong trào thơ mới là một cuộc đánh giá lại các
thể thơ cũ, tiếp thu những cái tốt đẹp của truyền thống cũ, đồng thời học tập một cách
có sáng tạo thơ ca nước ngoài nhất là thơ Pháp”[04; tr 263], và “ Thơ mới trước hết
là một cuộc thí nghiệm táo bạo để định lại giá trị những khuôn phép xưa” [03; tr 227]

1.3. Vài nét về thơ ca trung đại trong cái nhìn so sánh với thơ ca hiện đại
Để có thể thấy rõ hơn về đặc điểm của thơ ca trung đại và thơ ca hiện đại trong
cái nhìn so sánh thì người viết đã tiếp tục nghiên cứu thêm một vài nét cơ bản, tuy
nhiên do giới hạn đề tài và thời gian nghiên cứu nên người viết chỉ sơ lược đôi nét về
nội dung cũng như nghệ thuật của mảng thơ ca hiện đại trong cái nhìn so sánh với thơ
ca trung đại để thấy rõ sự thay đổi đáng chú ý ở mảng thơ ca hiện đại giai đoạn (
1930-1945) nói chung và khoảng mười năm đáng nói ( 1932-1942) nói riêng.
Có thể thấy rằng “ trong thơ mới lãng mạn, chúng ta bắt gặp chủ đề “nỗi cô
đơn” trong hàng loạt bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử,
Vũ Hoàng Chương…dưới những sắc thái khác nhau” [05: tr 20].
Cái tôi trong thơ mới thể hiện rất cụ thể và rõ ràng, trong Lửa Thiêng của Huy
Cận tác giả thổ lộ :
“ Trước thượng đế hiền từ tôi sẽ đặt
Trái tim đau khô héo thuở trần gian
Tôi sẽ nói:
Này đây là nước mắt
Ngọc đau buồn, nguyên khối vẫn chưa tan…”
Và Huy Cận còn nói tiếp “ cái buồn của các nhà thơ là cái buồn yếu đuối

này đã dẫn đến một “ cuộc cách mạng trong thi ca” ( Hoài Thanh) góp phần đẩy
nhanh nền văn học trên con đường hiện đại hóa” [23: tr 25].
Có thể thấy sự sáng tạo nghệ thuật là công việc chủ yếu của những cá nhân,
mang phong cách riêng biệt của từng cá nhân. Cho nên cái tôi của chủ thể sáng tạo
được giải phóng sẽ làm xuất hiện hàng loạt phong cách nghệ thuật độc đáo trong thi ca
hiện đại “ tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại
phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một
hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy
Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo nảo như Huy Cận, quê mùa như
Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu”
[23; tr 25]. Cái tôi xuất hiện cũng dẫn đến một màu sắc cá thể hóa trong cảm thụ thẫm
mỹ, trước đó ta bắt gặp trong thơ đường nhiều vầng trăng chung chung, vĩnh cửu:
“ Trăng vẫn năm năm sông nước giãi:
Soi ai nào biết được lòng trăng
Chỉ thấy sông dài như nước chảy”
(Trương Nhược Hư _ Xuân giang hoa nguyệt dạ)
Nhưng trong thơ mới thì chỉ có những vầng trăng cá thể hóa: “trăng mờ thổn
thức” trong thơ Lư Trọng Lư, hay “ vầng trăng tự ngẩn ngơ”, “ trăng vú mộng muôn
đời thi sĩ” trong thơ Xuân Diệu, “trăng ghì trăng siết cả làn da” trong thơ Chế Lan
Viên..”[23; tr 25]. Có thể nói các nhà thơ mới đã ý thức rằng “ đời chúng ta đã nằm
trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu” [23; tr 27].
Và, nếu“ trong thơ ca trung đại con người được coi là một thành viên có mối
quan hệ hài hòa đối với các thành viên khác trong vũ trụ. Các nhà thơ cổ điển luôn
vương tới sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên, cá nhân với cộng đồng [23; tr
27] thì ở “ các nhà thơ mới không chỉ là kẻ bộ hành ngơ ngác, là kẻ “lạc loài” ngay
giữa quê hương của mình mà họ còn mang tâm trạng cô đơn, rợn ngợp của một cá thể
trước không gian mênh mông và thời gian xa thẳm” [23 ; tr 28]

SVTH: Trần Kim Khoa


Trên mình hoa cây
Đâm trồi hy vọng
Ôi duyên tốt lành”
(Chiều xuân_ Huy Cận)
Đột xuất câu thơ có thể kéo dài đến 9,10 chữ:
“Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng buồn hét núi”

SVTH: Trần Kim Khoa

18

GVHD: Trần Đình Thích


Dạy học thơ mới giai đoạn 1932 – 1942 trong SGK Ngữ văn 11 tập 2
(Nhớ rừng _Thế Lữ)
Với thơ tự do đi từ 3,4,5 đến 8,9 chữ
“ Tiếng địch thổi đâu đây
Cớ sao nghe réo rắt
Lơ lửng cao đưa tận chân trời xanh ngắt
Mây bay gió quyến mây bay
………………………..
Ánh chiều thu
Lướt mặt hồ
Sương hồng lam nhẹ lan trên sóng biếc
Rặng lau già xao xác tiếng reo khô”
( Tiếng trúc tuyệt vời_Thế Lữ)
Về cách hiệp vần thì so với thơ cũ, thơ mới đã có sự thay đổi trong cách gieo
vần. Nếu như thơ cũ chỉ gieo vần ở cuối câu đầu và cuối câu chẵn thì thơ mới thường

( Một mùa đông_ Lưu Trọng Lư)
Vần chân được sử dụng phổ biến trong thơ mới, theo một số biểu hiện như trên
nhưng cũng có khi thi sĩ sử dụng kết hợp cách gieo vần trong cùng một đoạn thơ hay
cả bài thơ:
“Xuân vừa chớm tuổi
Bướm vừa quen hoa
Em nhỏ hơn ta
Tình như áo mới
Hôm nay ngày cưới
Của đôi chim khuyên
Hôm nay mùa duyên
Của đôi làng nhỏ”
(Xuân ở quê em_ Hồ Dzếnh)
Vần lưng ít thấy trong thơ mới nhưng vẫn có sức sống:
“Ôi những cánh hồng thơm rung rinh điệu ngọc
Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở điều trong sương
Màu trắng không gian như gờn gợn sóng”
(Nhạc_Bích Khê)
Một trong những thành tựu to lớn khá nổi bật của thơ mới là vận dụng nhịp
điệu để diễn tả tình cảm. Tính đối và luật bằng trắc đã bị phá vỡ nhường chỗ cho sự
phối thanh linh hoạt, đa dạng tùy theo phong cách và trạng thái cảm xúc của nhà thơ.
Thơ mới ưa diễn tả những tình cảm buồn, sâu kín nên thường dùng nhiều thanh bằng:
“ Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”
(Nhị hồ_ Xuân Diệu)

SVTH: Trần Kim Khoa

20

âm:
“Những luồng run rẩy rung rinh lá”
(Đây mùa thu tới_Xuân Diệu)
Nếu trước kia trong thơ ca Việt Nam các thi sĩ vận dụng các biện pháp tu từ
nhưng chưa ý thức rõ rệt về vai trò và tác dụng của chúng, thì thơ mới đã kế thừa
những thủ pháp nghệ thuật thơ ca trung đại để mang lại những giá trị nghệ thuật độc
đáo mới mẻ cho thơ mới.

SVTH: Trần Kim Khoa

21

GVHD: Trần Đình Thích


Dạy học thơ mới giai đoạn 1932 – 1942 trong SGK Ngữ văn 11 tập 2
Nghệ thuật so sánh đạt đến độ điêu luyện và đầy tính sáng tạo. Ta bắt gặp ở thơ
Nguyễn Bính lối so sánh hiện đại nhưng cũng gần gũi với ca dao:
“Ví chăng nhớ có đủ như tơ vậy
Em thử quay xem được mấy vòng
Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ
Em thử bào xem được mấy thư”
(Nhớ_Nguyễn Bính)
Đặc biệt trong thơ mới nghiêng về tả cảm xúc, rất nhiều trạng thái cảm xúc
trừu tượng so sánh trở nên cụ thể:
“Lòng ta trắng lắm, lòng ta sụp
Như túp nhà không bốn vách xiêu”
(Bên ấy, Bên này_Xuân Diệu)
Ngoài ra nghệ thuật nhân hóa trong thơ mới không còn rơi vào sáo mòn như
trong thơ ca giai đoạn trước. Thiên nhiên mang cả tâm hồn nhà thơ:

1.4. Vị trí ý nghĩa của thơ mới
Thơ mới chiếm giữ một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của văn
học. Trước hết bởi vì đó là kết quả của quá trính vận động, đổi mới và phát triển của
thơ ca. Có thể nói sự ra đời của thơ mới đã đánh dấu được một thành quả vô cùng to
lớn kể từ trước tới nay “ đã thế không thể xem phong trào thơ mới là một chuyện lập
dị do một bọn dốt nát bày đặt ra để tìm kiếm chỗ ngồi trong làng thơ. Nó là kết quả
không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại” [ 23; tr 22]. Và “1935, cái năm
đại náo trong làng thơ đi qua bước sang 1936 sự toàn thắng thơ mới đã rõ rệt” [23;tr
30]. Ngoài việc có ý nghĩa kết thúc thơ ca cũ thì thơ mới còn khẳng định được vị trí
của mình trong diễn đàn văn chương. Vậy, một điều không thể phủ nhận rằng thơ mới
là kết tinh, kế thừa và phát triển của nền thơ ca cũ. Nó là sản phẩm biến đổi về chất.
Chính vì thế nhìn theo tiến trình của lịch sử văn học thì phải công nhận rằng thơ mới
giữ một vai trò thiết yếu và tất yếu của nhu cầu thời đại.
Phong trào thơ mới ra đời và phát triển là một sự kiện nổi bật của văn học lãng
mạn Việt Nam giai đoạn 1932-1942 trên con đường hiện đại hóa. Sự kiện này đã tạo
cho nền thơ ca Việt Nam một diện mạo mới. Từ đây thơ ca Việt Nam thực sự có một
bước phát triển đột biến, nhảy vọt. Trong tiến trình lịch sử văn chương dân tộc nói
chung và thơ ca nói riêng, trước khi phong trào thơ mới ra đời, trải qua hàng chục thế
kỷ, chưa hề có một sự kiện nào tạo nên được những biến đổi to lớn cho thơ ca như
phong trào thơ mới. Phong trào thơ mới là sự kiện khởi sắc của nền thơ ca dân tộc. Nó
là một bước ngoặt quan trọng, mở ra một kỉ nguyên mới cho thơ ca, nâng thơ ca Việt
Nam lên ngang tầm với nền thơ ca hiện đại thế giới, bởi lẽ “thơ mới trước hết là một
cuộc thí nghiệm táo bạo để định lại giá trị những khuôn phép xưa” [03; tr 227] và “
trong khoảng thời gian 1932 đến 1936 thơ mới đã làm một việc định giá lại các thể
thơ cũ” [04;tr 263]
Ngoài ra thơ mới còn mang một ý nghĩa quan trọng trong việc giảng dạy trong
nhà trường. Đây là vấn đề truyền đạt kiến thức ở người giáo viên đến học sinh. Nó đòi
hỏi người giáo viên phải sơ lược và tổng hợp quá trình vận động và phát triển của nền
thơ ca, từ đó đưa ra cái nhìn về thơ mới, có như thế học sinh mới có thể thấy được tầm
quan trọng sâu sắc của thơ mới như thế nào đối với việc học tập ở nhà trường hiện

với nhau, tuy nhiên đóng vai trò trung tâm đó chính là học sinh.
Nhìn chung mô hình này chủ yếu là mô hình về phương pháp dạy học, đó là
hệ phương pháp tự học hay là phương pháp dạy học tích cực theo quan điểm lấy học
sinh làm trung tâm. Hệ thống phương pháp này chính là hệ thống phương pháp tổng
hợp và tích hợp nhiều phương pháp gần gũi như nhau, như : phương pháp tích cực,
phương pháp nêu và giải quyết vấn đề và một phần nào đó của phương pháp chương
trình hóa.
Việc dạy, lấy học sinh làm trung tâm có nghĩa người học, chủ thể của hoạt
động học tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách tìm ra kiến thức bằng chính hành
động của mình. Tự đặt mình trước các tình huống, các vấn đề thực tiễn cụ thể và sinh
động của cuộc sống. Có nghĩa người học tự tìm tòi quan sát, mô tả, giải thích các vấn
đề, tự tìm ra kiến thức mới và tạo ra sản phẩm ban đầu có tính chất cá nhân (cá nhân
hóa việc học). Phương pháp dạy học tích cực còn phát huy các mối quan hệ giữa tròlớp-thầy, trong đó trò là chủ thể. Điều đó có nghĩa là trò là chủ thể tự kiểm tra, đánh
giá, tự điều chỉnh căn cứ vào sự hợp tác, trao đổi , thảo luận với các bạn và thông qua
kết luận của giáo viên. Người thầy giờ đây chỉ kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của
học sinh trên cơ sở đánh giá và điều chỉnh.
Đặc biệt phương pháp dạy học tích cực đã có sự đổi mới và hiện đại hơn bởi
người thầy không còn là người độc quyền đánh giá tiến trình học tập cũng như kết quả
học tập của học sinh mà việc đánh giá thể hiện ở ba góc độ: thầy đánh giá trò, trò đánh
giá trò, và trò tự đánh giá bản thân mình. Nhìn chung quan điểm dạy học hiện đại xem
học sinh là trung tâm nghĩa là lấy học sinh làm tiêu chuẩn phấn đấu cho sự nghiệp
giáo dục và lấy học sinh làm động lực chính để tiến hành toàn bộ quá trình dạy học.
Học sinh vừa là mục tiêu, vừa là động lực, đây cũng là bản chất của quan điểm giáo
SVTH: Trần Kim Khoa

24

GVHD: Trần Đình Thích



GVHD: Trần Đình Thích



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status