LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn THIẾT kế một số bài dạy THƠ TRUNG đại VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ văn 10 (tập một, bộ cơ bản) - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN
DƯƠNG THỊ PHỤNG

THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI DẠY THƠ TRUNG
ĐẠI VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO
KHOA NGỮ VĂN 10
(Tập một, Bộ cơ bản)
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN MINH CHÍNH

Cần Thơ, 4 - 2011

1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Trước cuộc sống luôn có sự vận động và phát triển mỗi người phải tự thay đổi,
nâng cao kiến thức cho bản thân để không lạc hậu, lỗi thời mà ngày càng phù hợp với
thực tế cuộc sống, theo kịp sự phát triển của xã hội.
Sau Cách mạng tháng Tám, tuy đất nước ta còn rất nhiều khó khăn nhưng Đảng
và Nhà nước đã quan tâm, củng cố, khôi phục và phát triển nền giáo dục. Giáo dục là
thước đo tri thức của đất nước, để nền giáo dục Việt Nam không ngừng lớn mạnh và
phát triển, theo kịp sự tiến bộ của nền giáo dục thế giới đòi hỏi người giáo viên phải có
những phương pháp tiên tiến và luôn luôn đổi mới cho phù hợp với nền giáo dục hiện
đại. Hoàn thành tốt sự nghiệp trồng người, xứng đáng với sự hi sinh của các thế hệ

pháp thiết thực trong việc đổi mới phương pháp dạy học Văn trong nhà trường, với đề
tài Thiết kế một số bài dạy thơ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn 10,
(Tập một, Bộ cơ bản). Tiếp thu, tích lũy kiến thức học được từ thầy cô, bạn bè kết hợp
với quá trình nghiên cứu, tiếp thu những thành quả mà thế hệ trước đã để lại tôi tin rằng
sẽ góp phần giúp các em học sinh có hứng thú hơn, cảm nhận tốt hơn những điều hay, ý
đẹp, những bài học có giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc trong giờ học thơ trung đại
Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 (Tập một, Bộ cơ bản).

II. Lịch sử vấn đề:
Cách mạng tháng Tám thành công Đảng và nhân dân ta đã bắt tay vào công cuộc
khôi phục, củng cố từng bước phát triển nền giáo dục, đó là những tiền đề cơ bản để
phát triển lí luận và phương pháp dạy học Văn trong nhà trường. Từ cuối thập kỉ 60 trở
lại đây với sự ra đời của hàng loạt các công trình nghiên cứu đã đánh dấu bước phát
triển mới cũng như yêu cầu cần thiết về phương pháp giảng dạy Văn trong nhà trường
trước thực tế cuộc sống. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Rèn luyện tư duy học
sinh qua giảng dạy văn học (1969) [13], Phan Trọng Luận, Vấn đề giảng dạy văn học
theo thể loại (1970) [6], Trần Thanh Đạm, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Cẩn, Huỳnh Lý,
Đàm Gia Cẩn, Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường (1977) [14], Phan Trọng
Luận, Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn (1978) [15], Phan Trọng Luận, Dạy văn –
Dạy cái hay cái đẹp (1983 [1]), Nguyễn Duy Bình, Phương pháp dạy học Văn (1988)
[16], Phan Trọng Luận (chủ biên), Nguyễn Thanh Hùng, Phương pháp dạy học Văn
3


dung cho các trường Đại học Sư phạm (1991) [10], Nguyễn Thanh Hùng, Phan Trọng
Luận, Trương Dĩnh, Trần Thế Phiệt,…
Trong Dạy học Văn ở trường phổ thông (2001) [11] tác giả Nguyễn Thị Thanh
Hương đã đi vào phân tích, giảng giải cụ thể một số tác phẩm thơ, văn cụ thể trong
chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn ở nhà trường ( Bếp lửa, Bác đến chơi nhà, Bánh
trôi nước, Mời trầu, Tống biệt hành, Chữ người tử tù, Chí Phèo, Đời thừa, Nhật kí

Ngoài những công trình nghiên cứu trên, giáo trình Lý luận dạy học Ngữ văn [3]
của tác giả Nguyễn Minh Chính, Nguyễn Thị Hồng Nam, Trần Đình Thích, Hà Hồng
Vân đã đưa ra những cơ sở lí thuyết trong day học Ngữ văn và những phương pháp dạy
học tích cực, hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới.
Mỗi tác giả có những cơ sở lí luận khác nhau nhưng tất cả điều hướng tới mục tiêu
đổi mới phương pháp giảng dạy văn chương trong nhà trường. Nhưng phần lớn các tác
giả dừng lại ở việc nêu lí thuyết, việc áp dụng cụ thể vào thiết kế giáo án có nhưng rất
hạn chế. Đó cũng chính là điều kiện thuận lợi để mỗi người thầy người cô phát huy khả
năng sáng tạo của mình trên bụt giảng. Khi mà quá trình học tập, nghiên cứu vấn đề đã
được các tác giả gợi mở, có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào khả năng vận dụng
của mỗi người. Thực hiện đề tài Thiết kế một số bài dạy thơ trung đại Việt Nam trong
sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Tập một, Bộ cơ bản). Tôi vận dụng lí thuyết đã học kết
hợp với quá trình nghiên cứu, sáng tạo của mình vào việc thiết kế một số bài dạy thơ
trung đại Việt Nam cụ thể trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Tập một, Bộ
cơ bản), nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong việc dạy học.

III.Mục đích nghiên cứu:
Thực hiện đề tài Thiết kế một số bài dạy thơ trung đại Việt Nam trong sách giáo
khoa Ngữ văn 10 (Tập một, Bộ cơ bản) nhằm thiết kế một số bài dạy cụ thể, đảm bảo
đầy đủ những nội dung cần thiết, giáo dục cho học sinh tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ.
Đồng thời vận dụng những phương pháp dạy học hiện đại vào bài thiết kế để có được
tiết dạy thành công , có chất Văn mà vẫn tạo được không khí vui tươi, thoải mái cho
người học.
Bài thiết kế phải đảm bảo được nội dung, đảm bảo được thời gian lên lớp để kịp
với tiến độ chung. Đồng thời vận dụng được những phương pháp dạy học tích cực, hiện
đại với quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, vận dụng năm định hướng dạy học của
Marzano vào bài thiết kế, thiết kế bài tập thảo luận nhóm trên tinh thần học hợp tác và
vận dụng các phương pháp dạy học văn trong nhà trường vào việc giảng dạy: Phương
5



B. NỘI DUNG

Chương 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG TRONG VIỆC THIẾT KẾ MỘT SỐ
BÀI DẠY THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO KHOA
NGỮ VĂN 10 (Tập một, Bộ cơ bản).
I.Dạy học theo quan điểm học sinh là trung tâm:
Phương pháp dạy học truyền thống người thầy là trung tâm của quá trình dạy học.
Thầy làm thí nghiệm, thầy giải bài tập, thầy lập luận, diễn giảng, phân tích, khám phá
vấn đề, … Trò chỉ có nhiệm vụ lắng nghe và ghi chép, về nhà thì chỉ học thuộc lòng để
tiết sau trả bài. Lúc bấy giờ trò là người đứng ngoài tiến trình dạy học và trở thành
người “dự giờ” của thầy.
Nếu phương pháp dạy học truyền thống giáo viên là người truyền đạt kiến thức, là
người làm việc thay cho học sinh và hoạt động học của học sinh là tiếp thu kiến thức
một cách thụ động thì lí luận dạy học hiện đại đặc biệt coi trọng vai trò của học sinh,
học sinh trở thành trung tâm của quá trình dạy học.
Dạy học là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh vì vậy mà giáo
viên phải là người đóng vai trò tổ chức, phải tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để học
sinh phát huy tính chủ động, tự xây dựng kiến thức cho mình. Từ những kinh nghiệm
sẵn có của bản thân thông qua sự tương tác trên lớp học từ thầy cô, bạn bè và người có
hiểu biết hơn, từ những kiến thức học được học sinh sử dụng chúng trong các hoạt
động của lớp học và trong thực tế cuộc sống sẽ kích thích quá trình tư duy cũng như sự
điều chỉnh, thay đổi nhận thức của các em cho phù hợp.
Phương pháp dạy học truyền thống, trong lớp học chỉ diễn ra mối quan hệ một
chiều giữa thầy và trò, giữa người truyền thụ kiến thức và người tiếp nhận kiến thức.
mối quan hệ giữa trò và thầy, giữa trò và trò bị triệt tiêu, thầy là người độc thoại, phát
vấn, trò chỉ việc nghe, ghi và trả lời.
Dạy học theo quan điểm học sinh là trung tâm, có sự tác động qua lại giữa thầy và
trò, giữa trò và trò. Theo quan điểm dạy học này, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học
7

Từ đó làm cơ sở để thầy cho điểm.
1. Năm định hướng dạy học tích cực của Marzano:
8


1.1 Thái độ và nhận thức tích cực về việc học.
Học sinh chỉ học tập tốt khi các em có thái độ và nhận thực tích cực về việc học.
Hai nhân tố có vai trò quyết định chi phối thái độ và nhận thức của học sinh là: Không
khí lớp học và nội dung kiến thức, bài tập.
Không khí học tập bao gồm các nhân tố: môi trường, điều kiện học tập, quá trình
nhận thức về việc học của các em. Lớp học trật tự, thoải mái, bàn, ghế, trang thiết bị
đầy đủ và có sự nhận thức đúng đắn của học sinh về việc học đã tạo được nền tảng
vững chắc cho việc học tập của học sinh. Tất cả mọi người điều có năng lực học tập
như nhau nhưng điều kiện, hoàn cảnh đôi khi không đủ thuận lợi để họ phát huy hết
năng lực của mình.
Không chỉ vậy mà sự quan tâm của giáo viên, bạn bè trong lớp còn là nhân tố
quan trọng góp phần không nhỏ trong việc hình thành thái độ, nhận thức tích cực của
học sinh về việc học. Học sinh sẽ tự tin hơn, thoải mái hơn khi nhận được sự quan tâm,
tôn trọng của giáo viên và bạn bè trong lớp. Giáo viên đến lớp không chỉ dạy kiến thức
mà còn phải biết quan tâm, chia sẻ với học sinh khi cần thiết, phải biết lắng nghe ý kiến
của học sinh, phải thông cảm với học sinh khi các em cần sự thông cảm chính đáng.
Trong quá trình trao đổi, thảo luận, hoạt động học tập theo nhóm, học sinh cũng rất cần
sự quan tâm, trao đổi với bạn bè trong nhóm, điều quan trọng là giữa học sinh với học
sinh phải luôn có sự hòa đồng, bình đẳng, không phân biệt bạn nghèo hay giàu, bạn học
giỏi hay bạn học không giỏi, … Để đạt được hiệu quả học tập giáo viên phải đặt vấn
đề, điều kiện để tất cả học sinh phát huy tinh thần đoàn kết, hợp tác và năng lực sáng
tạo trong học tập.
Giáo viên không chỉ có thái độ ân cần, vui vẻ mà còn tạo môi trường tự nhiên,
thoải mái không bị áp lực, ức chế tinh thần học tập, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện
để học sinh được tự do trong việc chọn lựa cách trình bày bài tập và trao đổi với giáo

+ Giai đoạn 1: Làm rõ nghĩa kiến thức thông báo: Giáo viên đóng vai trò là người
chủ đạo, người khơi gợi những kinh nghiệm, những hiểu biết đã có của học sinh về
những kiến thức mà các em sắp học như: Đặt câu hỏi để xây dựng khái niệm, nêu
những ví dụ để học sinh suy luận ý nghĩa, chủ đề của bài sắp học, … Đồng thời giáo
viên phải phán đoán được những tình huống có thể xảy ra trong quá trình tương tác của
hoạt động dạy học như: cách trả lời của học sinh không như đáp án dự kiến của giáo
viên, có thể học sinh chưa hiểu câu hỏi nên trả lời lạc đề và nhiều tình huống khác có
thể xảy ra, ... Vì vậy mà giáo viên cần phải phân tích dữ liệu, giải thích, hỗ trợ thêm các
10


dữ kiện để học sinh trả lời câu hỏi và yêu cầu học sinh khác bổ sung, cho ví dụ thực tế
để câu trả lời thêm hoàn chỉnh mà hoạt động dạy học cũng trở nên sinh động, thu hút.
+ Giai đoàn 2: Hệ thống hóa kiến thức: Từ những câu trả lời, những cách hiểu, ý
kiến của học sinh giáo viên phải hướng dẫn các em hệ thống lại kiến thức theo trình tự,
theo cấu trúc bài học, ý nào trước, ý nào sau, ý nào đúng nên ghi nhận, ý nào sai cần
điều chỉnh, … Để thuận lợi trong quá trình tìm hiểu bài mới giáo viên nên đặt câu hỏi
trước khi cho các em đọc , phân tích, tìm hiểu bài thơ cụ thể.
+ Giai đoạn 3: Lưu trữ thông tin: Giáo viên có thể cho học sinh tóm tắt bài học
bằng cách cho các nhóm viết các ý chính, điền vào sơ đồ khuyết, biểu bảng, cho học
sinh hỏi đáp, viết tóm tắt nội dung của bài học theo từng cặp, hoặc làm bài kiểm tra
ngắn (tự luận, trắc nghiệm). Thông qua những hoạt động đó nhằm giúp học sinh củng
cố lại hệ thống kiến thức để các em có thể hiểu sâu sắc hơn, ghi nhớ nội dung chính của
bài lâu hơn.
- Kiến thức quy trình là các bước thực hiện công việc. Đối với việc vận dụng vào
giảng dạy thơ trung đại Việt Nam là cách phân tích tác phẩm, các thao tác tư duy, vận
dụng kiến thức đã học thực hành vào bài viết phân tích thơ. Tuy nhiên để nắm được
kiến thức quy trình thì trước hết học sinh phải hiểu, phải nắm vững kiến thức thông
báo, bởi vì có hiểu thì mới vận dụng được. Quá trình dạy kiến thức quy trình cũng được
chia thành ba giai đoạn:

hiện bằng cách nào? Bởi vì kiến thức thì vô hạn, thời gian thì có giới hạn nhất là tránh
trường hợp giáo viên đặt ra vấn đề mà không giải quyết được sẽ ảnh hưởng đến kiến
thức và lòng tin của học sinh đối với giáo viên. Đặc biệt đối với những tác phẩm thơ
trung đại Việt Nam có một giá trị, một tư tưởng lớn mang tính thời đại rất cao vì vậy
mà vấn đề gợi mở phải là vấn đề mang tính chất định hướng, để ngỏ để các em thể hiện
chính kiến của mình, không nên đưa ra nhận định mang tính chất cá nhân của giáo viên
gò ép các em hiểu một cách khuôn sáo. Từ đó giáo viên định hướng kịp thời khi các em
đưa ra ý lệch lạc.
1.4 Sử dụng kiến thức có hiệu quả:
Sau quá trình trao đổi, tiếp thu kiến thức thì việc vận dụng nó vào thực tế cho phù
hợp, hiệu quả là rất cần thiết. Học đi đôi với hành, lí luận phải đưa vào thực tiễn mới có
giá trị, có ý nghĩa. Đó là việc ra quyết định, điều tra, thí nghiệm, giải quyết vấn đề và
phát minh.

12


- Ra quyết định là quá trình vận dụng linh hoạt, sáng tạo những kiến thức đã học
để có một quyết định phù hợp trước các vấn đề của thực tiễn. Học sinh phải xác định
được yêu cầu của câu hỏi và nội dung chính cần trả lời, còn khả năng diễn đạt, lí giải
như thế nào là phụ thuộc vào năng lực của từng học sinh khác nhau.
- Sau khi ra quyết định học sinh cần điều tra bằng thực nghiệm để đảm bảo tính
chính xác cho vấn đề đã được đặt ra: Những đặt tính, đặt trưng của vấn đề này là gì?
Vấn đề này xảy ra như thế nào? Tại sao nó xảy ra? Cái gì sẽ xảy ra nếu…? Tùy vào
từng nội dung câu hỏi cụ thể mà học sinh sử dụng câu hỏi cho phù hợp để điều tra mức
độ chính xác của câu trả lời mà mình đã chọn.
- Thí nghiệm là quá trình vận dụng những hiểu biết, những kiến thức đã học được
để kiểm chứng một lí thuyết, một phán đoán hay câu trả lời.
- Sau khi ra quyết định, tiến hành điều tra và làm thí nghiệm thì giải quyết vấn đề
là quá trình mà người học phải vượt qua trở ngại về tư duy, kĩ năng, … để giải quyết

nội dung chung nhất, đúng nhất, khái quát nhất. Không chấp nhận những trường hợp
chia rẽ, mất đoàn kết trong tập thể.
- Năng lực tư duy sáng tạo là khả năng tìm tòi, lí giải, phân tích, đánh giá vấn đề
khi vấn đề đó chưa có giải pháp, chưa có câu trả lời rõ ràng. Mỗi học sinh có một khả
năng tư duy sáng tạo riêng và phụ thuộc vào năng lực, sở trường của mỗi học sinh.
Điều quan trọng là giáo viên cần phải có những biện pháp cổ vũ, khuyến khích học sinh
phát huy hết khả năng sáng tạo của mình.
Nói chung thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học và thói quen tư duy của
học sinh là rất quan trọng, có tính chất quyết định hiệu quả học tập của học sinh trong
năm định hướng dạy học của Marzano. Khi mà học sinh có nhận thức đúng đắn, tích
cực về việc học kết hợp với khả năng tư duy, tìm tòi, sáng tạo của các em trong học tập
thì kết quả đạt được sẽ là cao nhất, tốt nhất, hiệu quả nhất.
2. Dạy học hợp tác
2.1 Phương pháp tổ chức dạy học hợp tác:
Phương pháp dạy học văn truyền thống hay phương pháp dạy học văn hiện đại
điều hướng đến mục tiêu rèn luyện tri thức, kĩ năng và thái độ cho học sinh. Song
người giáo viên phải chọn cho mình những phương pháp phù hợp nhất, tích cực nhất,
đem lại hiệu quả cao nhất để phục vụ cho sự nghiệp giáo dục. Tuy nhiên để nâng cao
hiệu quả học tập, rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng làm việc tập thể cho học sinh giáo
viên nên chọn phương pháp dạy học hợp tác.
14


Thế nào là dạy học hợp tác? Dạy học hợp tác là quá trình các nhóm học sinh cùng
nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên [13, tr1] nhằm
đạt được mục tiêu giáo dục, không chỉ nâng cao kết quả học tập cho học sinh mà còn
rèn luyện cho học sinh kĩ năng sống, kĩ năng làm việc của người lao động tương lai.
Để vận dụng và phát huy triệt để tính tích cực trong dạy học hợp tác giáo viên cần
nắm vững và thực hiện tốt các yêu cầu sau:
- Trong quá trình tổ chức học hợp tác giáo viên phải đưa ra những biện pháp để

viên cần lưu ý trong quá trình chia nhóm, đặc biệt tránh trường hợp 4 hoặc 5 học sinh
ngồi cùng một bàn đôi thành một nhóm, khi chia như vậy các em sẽ không thảo luận
bao quát hết nhóm của mình mà dễ dàng tách thành nhóm 2 hoặc 3 học sinh. Vì vậy,
giáo viên cần phải phân chia các nhóm sao cho các em đối mặt với nhau, cùng nhau
bàn bạc, thảo luận, đảm bảo tất cả các thành viên điều tham gia và đưa ra chính kiến
của mình. Tùy theo tình hình lớp học và nội dung câu hỏi thảo luận mà giáo viên chọn
hình thức chia nhóm cho phù hợp, có thể chia nhóm 4 – 5 học sinh, nhóm 2 học sinh …
- Ngoài ra quá trình hoạt động học hợp tác còn rèn luyện cho học sinh khả năng sử
dụng thành thạo các kĩ năng giao tiếp xã hội, rèn luyện cho học sinh thói quen làm việc
tập thể, biết bảo vệ ý kiến của mình khi đó là ý kiến đúng, biết tôn trọng chia sẻ ý kiến
của bạn khi đó là ý kiến hay, hợp lí hơn ý kiến của mình. Biết lắng nghe khi người khác
nói, dám nói cho người khác nghe và hiểu. Khi các em thực hiện được các điều đó thì
công việc được giao của nhóm mới hoàn thành tốt.
- Sau khi các nhóm đã hoàn thành nhiệm vụ được giao và trước khi đánh giá kết
quả cuối cùng, giáo viên cho các thành viên trong nhóm nhận xét, đánh giá lẫn nhau về
quá trình làm việc hợp tác của các thành viên trong nhóm. Phiếu đánh giá do giáo viên
chuẩn bị và cung cấp cho học sinh. Kết hợp giữa quá trình đánh giá của giáo viên và
quá trình đánh giá của học sinh giúp cho kết quả đánh giá cuối cùng có tính chất công
bằng, khách quan hơn, chính xác hơn.
2.2 Thiết kế bài tập nhóm trong dạy học hợp tác:
Thảo luận nhóm là quá trình học sinh phải cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học
tập do giáo viên nêu ra, từ đó có cơ sở, có định hướng và rút ra bài học. Nói cách khác
đây là hình thức dạy học khám phá. Vấn đề đặt ra là giáo viên phải thiết kế được các
dạng bài tập đáp ứng được nhu cầu khám phá kiến thức cho học sinh.
Về nội dung:

16


+ Nhiệm vụ khám phá mà giáo viên nêu ra cho học sinh phải là một tình huống

17


Đối với thơ trung đại Việt Nam, điển cố, điển tích và những từ cổ được sử dụng
rất nhiều, khi đọc tác phẩm trước ở nhà học sinh đã phần nào hiểu được nghĩa trên bề
mặt câu chữ, khi vào lớp giáo viên đọc diễn cảm hoặc hướng dẫn học sinh đọc diễn
cảm để hiểu thêm tâm trạng của tác giả, chất tình, chất thơ trong tác phẩm. Từ đó làm
cơ sở để đi vào phân tích giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật và những bài học triết lí
trong tác phẩm.
Đọc diễn cảm thơ trung đại Việt Nam cần thể hiện được giọng điệu như: Buồn,
vui, mỉa mai, châm biếm, … thông qua ngữ điệu nhanh, chậm, cao, thấp. Tùy theo từng
tác phẩm cụ thể, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc dưới những hình thức và mức
độ khác nhau sao cho phù hợp với tác phẩm đó, có thể đọc đầu giờ, đọc trong quá trình
phân tích, đọc để phụ họa cho lời giảng, …
Để học sinh đọc tác phẩm ở nhà giáo viên có thể nêu câu hỏi hoặc yêu cầu học
sinh soạn bài trước, bằng cách cho điểm vào cột kiểm tra miệng khi học sinh hoàn
thành tốt để khuyến khích tinh thần học tập của học sinh.
Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm thơ trung đại Việt Nam còn tạo điều kiện cho
quá trình phân tích tác phẩm thêm sinh động, hấp dẫn hơn, học sinh tiếp thu dễ dàng
hơn. Qua đó còn góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, tình cảm cao đẹp cho
học sinh.
2. Phương pháp diễn giảng:
Trong dạy học truyền thống phương pháp diễn giảng được sử dụng rất phổ biến.
Phương pháp này có ưu điểm giúp học sinh nắm kiến thức một cách có hệ thống, tiết
kiệm được thời gian, không hao tốn công sức cho việc chuẩn bị bài, nhưng bên cạnh
đó, phương pháp diễn giảng truyền thống cũng có những hạn chế nhất định: Không
phát huy được khả năng tư duy năng động, sáng tạo của người học.
Dạy học theo phương pháp diễn giảng truyền thống, giáo viên chỉ truyền đạt cho
học sinh một chiều và học sinh chỉ có nhiệm vụ ghi chép, học thuộc lòng. Trong quá
trình học, học sinh nghe, hiểu theo lời giảng của giáo viên nên học sinh không nhớ lâu

lệch lạc của học sinh cũng như điều chỉnh phương pháp của giáo viên cho phù hợp hơn.
Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy thơ trung đại Việt Nam giáo viên còn
tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính độc lập, rèn luyện thói quen tư duy và khả
năng trình bày trước lớp của học sinh. Tuy nhiên phương pháp này cũng có những hạn
chế nhất định: Mất nhiều thời gian cho việc soạn giáo án của giáo viên và học sinh suy

19


nghĩ, trả lời câu hỏi. Giáo viên cần phải bình tỉnh, tự tin, giải quyết tốt tình huống để
đạt được kết quả tốt nhất khi sử dụng phương pháp này.
4. Phương pháp trực quan:
Phương pháp dạy học trực quan được xây dựng trên cơ sở quán triệt nguyên tắc
đảm bảo tính trực quan trong quá trình dạy học. Trong quá trình dạy học giáo viên
hướng dẫn học sinh các biện pháp quan sát sự vật, hiện tượng hay hình ảnh của chúng
để liên tưởng, cảm nhận trên cơ sở đó hình thành khái niệm.
Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy thơ trung đại Việt Nam, giáo viên có
thể sử dụng những phương tiện như: Máy chiếu, tranh ảnh, biểu bảng, … Ngoài ra giáo
viên có thể cho học sinh đọc thơ trước ở nhà, tự tìm hiểu và viết một bài cảm nhận, vẽ
thành một bức tranh, ngâm thơ, sưu tầm tác phẩm, hình ảnh, …
5. Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn không chỉ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức
một cách tích cực mà còn phát triển năng lực sáng tạo của học sinh thông qua những
tình huống “có vấn đề”. Tình huống có vấn đề có tác dụng lôi cuốn học sinh vào quá
trình tư duy, kích thích các em tìm hiểu, khám phá.
Dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học tích cực, giúp học sinh phát triển
năng lực tư duy. Tuy nhiên đây là một hình thức dạy học còn khá mới mẻ và tương đối
khó. Khi sử dụng phương pháp này trong việc giảng dạy thơ trung đại Việt Nam, giáo
viên cần phải nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, câu hỏi, tình huống phải là câu hỏi, tình
huống có vấn đề và không quá khó so với trình độ của học sinh.

cho số phận con người, là thái độ bất bình trước hiện thực xã hội. Chủ nghĩa yêu nước
được thể hiện tập trung ở một số phương diện: Ý thức độc lập, chủ quyền, niềm tự hào
dân tộc, ý thức được trách nhiệm của kẻ bề tôi đối với xã tắc, nỗi lòng trăn trở, xót xa
trước hiện thực xã hội và vận mệnh đất nước.
b. Chủ nghĩa nhân đạo:
Khát vọng hòa bình, đấu tranh để bảo vệ cho nền hòa bình, độc lập, bảo vệ cho
quyền lợi của con người, chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến. Lên tiếng tố
21


cáo tội ác của các thế lực bất nhân, bất nghĩa, đề cao, ca ngợi vẻ đẹp nhân cách, vẻ đẹp
tâm hồn của con người lao động. Nói cách khác văn học trung đại Việt Nam thể hiện rõ
đặc điểm của một nền văn học luôn gắn bó với vận mệnh đất nước và số phận con
người.
Chủ nghĩa nhân đạo cũng là một trong những nội dung lớn của thơ trung đại Việt
Nam. Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ được bắt nguồn từ truyền thống nhân đạo của
người Việt Nam, từ cội nguồn của văn học dân gian, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng tư
tưởng nhân văn vốn có của Phật giáo và Nho giáo.
Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ trung đại Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng,
biểu hiện ở lòng thương người, lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền
sống, quyền tự do của con người. Khẳng định, đề cao phẩm chất tốt đẹp, tài năng của
con người, những khát vọng chân chính về quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền tự do,
khát vọng về công lí, chính nghĩa, đề cao những quan hệ đạo đức tốt đẹp giữa người và
người.
c. Cảm hứng thế sự:
Cảm hứng thế sự biểu hiện khá rõ nét trong thơ trung đại Việt Nam, thể hiện nỗi
niềm trăn trở cho vận nước, bộc lộ sự phản kháng đối với triều đình phong kiến, các thế
lực thống trị trong xã hội.
Cảm hứng thế sự trong thơ hướng đến hiện thực cuộc sống, hiện thực xã hội,
hướng đến người lao động, hướng đến quần chúng nhân dân thông qua những hình ảnh,

về nội dung và hình thức nghệ thuật.
b. Tính bình dân trong thơ trung đại Việt Nam:
Cách sử dụng điển cố và những hình ảnh tượng trưng ước lệ đã tạo nên phong
cách trang trọng, tính chất uyên bác trong thơ trung đại Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá
trình phát triển thơ trung đại có xu hướng ngày càng gắn bó với hiện thực chuyển từ
phong cách trang trọng, tao nhã sang gần gủi với đời sống hiện thực, gần gủi với nông
thôn và nông dân, thơ không chỉ dùng để truyền tải những nội dung lớn lao, cao cả mà
thơ còn là những gì gần gủi, quen thuộc, tự nhiên và bình dị, gắn liền với cuộc sống của
quần chúng nhân dân.
c. Tiếp thu và dân tộc hóa thơ nước ngoài:
Thơ trung đại Việt Nam phát triển theo quy luật vùa tiếp thu vừa dân tộc hóa tinh
thần văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Trung Quốc.

23


Tiếp thu tinh hoa văn học Trung Quốc thông qua việc dùng chữ Hán trong quá
trình sáng tác, tiếp thu thể thơ Đường luật và sử dụng điển cố, điển tích, hình ảnh tượng
trưng ước lệ trong thơ trung đại Việt Nam.
Quá trình dân tộc hóa đã sáng tạo ra chữ Nôm. Chữ nôm được hình thành trên cơ
sở những thành tố của chữ Hán biểu đạt nghĩa tiếng Việt. Chữ Nôm ra đời và dùng để
sáng tác. Việt hóa thể thơ Đường luật thành thể thơ Nôm Đường luật, thể thơ thất ngôn
bát cú Đường luật thành thể thơ thất ngôn xen lục ngôn. Sử dụng lời ăn tiếng nói, cách
diễn đạt của nhân dân trong sáng tác.
2. Những điểm khó giáo viên cần lưu ý:
Đối với thơ trung đại Việt Nam, tính quy phạm là một trong những đặc điểm nổi
bật và tính quy phạm trong thơ trung đại thiên về sử dụng hình ảnh tượng trưng, ước lệ.
Vì vậy mà khi tiếp cận với thơ trung đại, ta bắt gặp các điển tích, điển cố xuất hiện với
tầng số rất cao. Đây không chỉ là đặc trưng tiêu biểu của thơ trung đại Việt Nam mà
còn là rào cản đối với việc tiếp thu của học sinh. Vì vậy giáo viên cần phải có lượng

những phương pháp tích cực hơn để học sinh tiếp cận, tiếp thu văn học trung đại Việt
Nam dễ dàng, năng động, sáng tạo hơn. Qua đó giúp học sinh hiểu thêm về truyền
thống văn hóa, lịch sử của dân tộc, giáo dục cho học sinh tinh thần yêu nước, long tự
hào dân tộc, có thái độ trân trọng, yêu quý,giữ gìn, bảo vệ những giá trị văn hóa của
dân tộc mình, góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống cao đẹp cho
học sinh

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status