TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ LINH ĐAN
XÁC ĐỊNH TỶ LỆ DẦU ĐỘNG VẬT VÀ DẦU THỰC VẬT
THÍCH HỢP TRONG CÔNG THỨC THỨC ĂN CHO CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN.
2011
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ LINH ĐAN
XÁC ĐỊNH TỶ LỆ DẦU ĐỘNG VẬT VÀ DẦU THỰC VẬT
THÍCH HỢP TRONG CÔNG THỨC THỨC ĂN CHO CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG.
Cán bộ hướng dẫn:
PGs. Ts. Trần Thị Thanh Hiền
KS. Nguyễn Hoàng Đức Trung
2011
8,47gam/con. Cá được bố trí trong bể nhựa 80 lít, có hệ thống nước chảy
tràn và sục khí trong 6 tuần với mật độ 20 con/bể. Thí nghiệm được bố trí
hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức thức ăn có cùng hàm lượng protein
32%, lipid 8,21% và năng lượng 4,17 kcal/gam, tỉ lệ dầu cá được thay thế
bởi dầu đậu nành với các mức lần lượt là 0%, 25%, 50%, 75% và 100%.
Mỗi nghiệm thức lập lại 3 lần.
Kết quả thí nghiệm cho thấy tỉ lệ dầu trong công thức thức ăn không ảnh
hưởng đến tỉ lệ sống của cá. Sinh trưởng của cá (WG, DWG, SGR) đạt cao
nhất ở nghiệm thức 100% dầu cá (3,26 gam, 0,08g/ngày, 0,77%/ngày) khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p
3.2.6 Phương pháp thu và xử lí mẫu...................................................................16
3.2.6.1 Các chỉ tiêu môi trường ..................................................................16
3.2.6.2 Các chỉ tiêu dinh dưỡng..................................................................16
3.2.6.3 Các chỉ tiêu tính toán......................................................................17
3.3 Xử lí số liệu.......................................................................................................19
PHẦN IV : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN............................................................20
4.1 Các chỉ tiêu môi trường .....................................................................................20
4.2 Tỉ lệ sống ..........................................................................................................21
4.3 Tăng trưởng của cá thí nghiệm ..........................................................................22
4.4 Hệ số chuyển hóa thức ăn ..................................................................................25
4.5 Thành phần hóa học của cá trước và sau thí nghiệm ..........................................27
PHẦN V : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .................................................................29
5.1 Kết luận.............................................................................................................29
5.2 Đề xuất..............................................................................................................29
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................30
PHỤ LỤC ..............................................................................................................33
iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DC : Dầu cá.
DĐN: Dầu đậu nành.
SR: Tỉ lệ sống (Survival Rate).
WG: Tăng trọng (Weight Gain).
DWG : Tăng trọng theo ngày (Daily Weight Gain).
FCR: Hệ số chuyển hóa thức ăn (Feed Conversion Ratio)
PER: Hiệu quả sử dụng protein (Protein Efficiency Ratio).
LER: Hiệu quả sử dụng lipid (Lipid Efficiency Ratio).
NPU: Chỉ số protein tích lũy (Net Protein Utilization).
Hiện nay, nghề nuôi cá nước ngọt đang phát triển mạnh mẽ ở Đồng Bằng Sông
Cửu Long (ĐBSCL). Riêng cá tra, basa diện tích nuôi toàn vùng năm 2010 đạt
gần 5.400 ha, tổng sản lượng cá giống đạt gần 2,4 tỷ con, sản lượng cá thu
hoạch đạt hơn 1,4 triệu tấn (). Trong ao nuôi chi phí
thức ăn chiếm cao nhất trong tổng chi phí sản xuất, chiếm 81% cho thức ăn tự
chế và 90% cho thức ăn viên (Lê Thanh Hùng và Huỳnh Phạm Việt Huy,
2006). Vì vậy cần nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn sẽ góp phần giảm hệ số
thức ăn từ đó sẽ giảm chi phí thức ăn cho người nuôi.
Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng trên cá
da trơn như: Nhu cầu đạm cho cá tra giống cỡ 2 gam là 38% (Huỳnh Văn Hiền,
2003; trích bởi Nguyễn Thị Thủy Tiên, 2010). Mức protein thích hợp cho cá
tra 10 gam là 32% (Lê Thanh Hùng, 2008). Nhu cầu protein cho cá tra (2-3
gam) từ nguồn protein là bột cá và bột đậu nành là 38% (Trần Thị Thanh Hiền
và ctv, 2004)… Bên cạnh đó cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về nhu cầu lipid:
Nhu cầu lipid của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giống là 8% (Nguyễn
Thị Thủy Tiên, 2010). Mặt khác cũng có một số nghiên cứu về việc sử dụng
nhiều nguồn lipid khác nhau trong công thức thức ăn của cá tra như : Nghiên
cứu của (Asdari et al., 2010) bổ sung nguồn lipid là dầu đậu nành trong công
thức thức ăn cho cá tra cỡ 10 gam. Nhưng chưa có nghiên cứu nào về tỉ lệ dầu
động vật và dầu thực vật thích hợp trong thức ăn cho cá tra giống.
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài : " Xác định tỷ lệ dầu động vật và dầu thực
vật thích hợp trong công thức thức ăn cho cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus) giống" là rất cần thiết.
-1-
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm xác định tỉ lệ dầu động vật và dầu thực vật thích
hợp trong khẩu phần ăn của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở giai
Trần Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). Gần đây, một số tác giả lại xếp
cá tra vào một giống khác Pangasianodon hypophthalmus (Komarudin và
Pariselle, 2000; Tana, 2000). Theo kết quả định danh lại của Robert và
Vidthayanon (1991), cá tra thuộc:
Ngành: Chordata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Siluriformes
Họ: Pangasiidae
Giống: Pangasianodon
Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)
(Nguồn: www.fishbase.org)
Hình 2.1. Hình dạng bên ngoài của cá tra.
2.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng
Cũng như các loài cá khác, cá tra khi hết noãn hoàng thì chuyển sang ăn thức
ăn ngoài, chúng thích ăn mồi tươi sống (chủ yếu là phiêu sinh động vật). Thức
-3-
ăn ưa thích của chúng là Cladocera, nhóm Rotifer cũng xuất hiện nhiều trong
dạ dày nhưng do kích thước nhỏ nên vai trò dinh dưỡng của Rotifer không cao.
Nếu ương trong bể, cá có thể sử dụng một số loại thức ăn khác như: Artermia,
trùn chỉ, Moina, Rotifer...Tuy nhiên ấu trùng Artermia và trùn chỉ cho tỉ lệ sống
cao và sinh trưởng của cá tốt nhất (Lê Thanh Hùng và ctv, 2002; trích bởi
Dương Thúy Yên, 2003).
Ngay khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau, do đó
để tránh hao hụt do ăn nhau trong bể ấp, cần nhanh chóng chuyển cá ra ao
ương. Trong quá trình ương nuôi thành cá giống trong ao, chúng ăn các loại
phù du động vật có kích thước vừa cỡ miệng của chúng và các thức ăn nhân
1,6
Giáp xác
2,3
(Nguồn: www.fistenet.gov.vn)
-4-
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, cá nhỏ tăng nhanh về chiều dài.
Cá ương trong ao sau 2 tháng đạt chiều dài 10-2 cm (14-15 gam). Từ khoảng
2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể. Cỡ
cá trên 10 tuổi trong tự nhiên (ở Campuchia) tăng trọng rất ít. Cá trong tự nhiên
có thể sống trên 20 năm. Ðã gặp cỡ cá trong tự nhiên 18 kg hoặc có mẫu cá dài
tới 1,8 m. Trong ao nuôi vỗ, cá bố mẹ có thể đạt tới 25 kg (10 năm tuổi). Nuôi
trong ao 1 năm cá đạt 1-1,5 kg/con (năm đầu tiên), những năm về sau cá tăng
trọng nhanh hơn, có khi đạt tới 5-6 kg/năm tùy thuộc môi trường sống và sự
cung cấp thức ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít.
Ðộ béo Fulton (mỡ) của cá tăng dần theo trọng lượng và nhanh nhất ở những
năm đầu, qua các năm sau độ béo biến đổi không đáng kể: cá có khối lượng
11,2 gam có độ béo 0,99%, cá 560 gam có độ béo 1,6%, nhưng cá 3 tuổi nặng
3,62 kg thì có độ béo 1,62%. Cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và độ béo
thường giảm khi vào mùa sinh sản (Trần Thanh Xuân, 1994; trích bởi Hải Đăng
Phương, 2006).
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cá da trơn
2.2.1 Nhu cầu protein và acid amin
28-30
>500
24-26
(Nguồn: Glencross et al., 2007 trích bởi Trần Thị Thanh Hiền và
Nguyễn Anh Tuấn, 2009)
Nhu cầu acid amin thường được tính theo % trong protein thức ăn. Nhu cầu
lysine của cá tra là 5,35% trong protein thức ăn. Khi hàm lượng protein của
thức ăn là 38% thì nhu cầu lysine trong thức ăn là 2,03%. Nhu cầu acid amin
thiết yếu thay đổi theo hàm lượng protein trong thức ăn (Trần Thị Thanh Hiền
và Nguyễn Anh Tuấn, 2009).
2.2.2 Nhu cầu lipid
Lipid là một trong những thành phần sinh hóa cơ bản của động thực vật. Các
thành phần của thức ăn thường được nghiên cứu là protein, lipid, glucid,
vitamin và khoáng chất. Trong đó lipid đóng vai trò quan trọng như nguồn cung
cấp năng lượng (8-9 Kcal/gam) và các acid béo cần thiết cho quá trình sinh
trưởng và phát triển của động vật thủy sản.
Lipid trong cơ thể sinh vật có 2 chức năng chính: cung cấp, dự trữ năng lượng
và tham gia vào cấu trúc màng tế bào, giữ cho các màng cơ ổn định. Ngoài ra,
lipid còn tham gia vào các biến dưỡng trung gian trong cơ thể sinh vật.
Năng lượng thức ăn không được sử dụng ngay mà thường được dự trữ dưới
dạng glycogen và mỡ. Trong động vật thủy sản khả năng dự trữ glycogen rất
thấp nên mỡ là dạng dự trữ năng lượng chính (Lê Thanh Hùng, 2008).
Lipid được dự trữ trong gan, cơ và các dạng mô mỡ bao quanh thành ruột, hay
tạo lớp mỡ rất lớn như cá basa chiếm 25% thể trọng khi cá ăn thức ăn có quá
nhiều năng lượng (Lê Thanh Hùng, 2008).
-6-
trưởng cao nhất ở mức 40-45% (Trần Lê Cẩm Tú, 2004).
-7-
Theo Wilson và Moreau (1996) đề nghị cá nheo Mỹ sử dụng hiệu quả
carbohydrate trong thức ăn là 20-30% (trích bởi Nguyễn Thanh Phương, 1998).
Thức ăn chứa 26% carbohydrate cho sinh trưởng tốt nhất ở cá Pangasius
kunyit (Nguyễn Thanh Phương, 2000). Đối với cá basa thì có khả năng sử dụng
carbohydrate tốt hơn (40-46,2%), mức carbohydrate và lipid thích hợp là 35,5%
và 7,7% (Nguyễn Thanh Phương, 1998).
Khả năng tiêu thụ carbohydrate tùy thuộc vào tập tính dinh dưỡng của từng
loài. Khả năng sử dụng carbohydrate trên ba loài cá tra, cá basa, cá hú ở giai
đoạn giống cho thấy hàm lượng carbohydrate tối ưu của cá hú (cỡ 5,1 gam) là
35%, cá tra (cỡ 2,9 gam) là 35-45%, cá basa (cỡ 5,13 gam) là 20-45% (Trần
Thị Thanh Hiền và ctv, 2004).
2.2.4 Nhu cầu Vitamin và khoáng chất
Vitamin đóng vai trò quan trọng trong thành phần dinh dưỡng của động vật
thủy sản. Vitamin chỉ chiếm một lượng nhỏ trong thành phần thức ăn (1-2%)
nhưng nó có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất của cơ thể và chi
phí có thể chiếm 15% trong khẩu phần thức ăn (Trần Thị Thanh Hiền, 2004).
Trong số rất nhiều vitamin thì vitamin C được đánh giá là cần thiết cho tôm cá.
Nếu thiếu vitamin C thì cá dễ mắc một số bệnh như: cá Trê phi thiếu vitamin C
sẽ bị xuất huyết đầu, ăn mòn vây, mõm và mang (Eya, 1996), cá chép thiếu
vitamin C sẽ bị cong thân, ăn mòn vây đuôi, biến dạng mang và uốn cong mõm
(Sato, 1978; Dabrowksi, 1988), (trích bởi Trần Thị Thanh Hiền, 2004).
Theo Robinson (1989) nhu cầu vitamin A của cá nheo Mỹ là 450-900 UI/kg
thức ăn. Theo Butthep và ctv (1985) (được trích bởi Tacon, 1991) là 1000-2000
mg/kg (trích bởi Lê Thanh Hùng, 2008).
Chất khoáng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của động vật thủy
và C22. Động vật thủy sản nước ngọt chứa nhiều acid béo n-6 hơn động vật thủy
sản biển. Tỉ lệ n-6:n-3 là 0,37 ở cá nước ngọt và 0,16 ở cá biển. Tỉ lệ acid béo
trong cá thay đổi rất lớn theo tỉ lệ n-6:n-3 trong thức ăn. Khi cho cá ăn thức ăn
chứa nhiều n-6 như mỡ bò, dầu thực vật tỉ lệ n-6:n-3 tăng lên, ngược lại khi cho
ăn thức ăn chứa nhiều chứa nhiều n-3 như dầu động vật biển tỉ lệ n-6:n-3 giảm
(Trần Thị Thanh Hiền, 2009).
Theo nghiên cứu của Castell (1979; trích bởi Lê Thanh Hùng, 2008) phân tích
thành phần acid béo của hơn 30 loài cá nước ngọt và biển đã đưa ra kết luận: tỉ
lệ n-6:n-3 là 0,34 ở cá nước ngọt và 0,15 ở cá biển.
Mỗi loài cá có nhu cầu acid béo khác nhau tùy thuộc điều kiện môi trường và
cấu tạo cơ thể. Cá da trơn Mỹ (Ictaluric punctalus) có nhu cầu acid béo khoảng
1%, cá rô phi (O.niloticus) có nhu cầu 1% của 18:2n-6. Các loài cá biển như
vền (Chysophrys major) có nhu cầu 0,5% acid béo 20:5n-3 và 22:6n-3 (Lê
Thanh Hùng, 2008).
-9-
Cá trê có khả năng sử dụng cao các nguồn lipid từ dầu thực vật và mỡ động vật,
cá có thể sử dụng 10% lipid trong thức ăn. Cá rô phi khi bổ sung 5% lipid từ
dầu bắp hay dầu olive sẽ mang lại hiệu quả sinh trưởng và hiệu quả sử dụng
thức ăn cao hơn khi bổ sung 5% lipid từ dầu gan cá thu. Ở cá hồi người ta
thường sử dụng lipid để thay thế tinh bột do khả năng sử dụng tinh bột của cá
hạn chế, cá có thể sử dụng hiệu quả dầu cá, dầu mực 15-20%, và một tỉ lệ nhỏ
dầu đậu nành để bổ sung n-6 acid béo thiết yếu và là nguồn cung cấp
phospholipid (như lecithin) (Lê Thanh Hùng, 2008).
Nguyên liệu chế biến thức ăn thủy sản thường có sẵn lipid chỉ bổ sung thêm
khoảng 2-3% dầu, tùy từng đối tượng mà có thể bổ sung dầu thực vật hay dầu
động vật hoặc cả hai. Ngoài việc cung cấp acid béo, việc bổ sung dầu còn có
tác dụng tạo mùi cho thức ăn (Trần Thị Thanh Hiền, 2004)
nhất ở nghiệm thức chứa dầu bắp (3,6%) (Vargas et al., 2008).
Thí nghiệm trên cá tra trọng lượng (10-0,7 gam) với cùng hàm lượng lipid
được bổ sung vào công thức thức ăn từ các nguồn khác nhau: dầu cá (FO), dầu
đậu nành (SBO), dầu cọ (CPO) hoặc dầu hạt lanh (LO). Kết quả cá tăng trọng
cao nhất (27,18 gam) ở nghiệm thức chứa dầu đậu nành. Thành phần các acid
béo trong gan và cơ cá chịu ảnh hưởng bởi thức ăn, hàm lượng PUFA chiếm
34,5% ở nghiệm thức chứa dầu đậu nành, 34,3 % ở nghiệm thức chứa dầu hạt
lanh, 23,8% ở nghiệm thức chứa dầu cá và 15,7% ở nghiệm nghiệm thức dầu
cọ (Asdari et al., 2011).
Theo nghiên cứu của Raso and Anderson (2003) trên cá chẽm trắng (Lates
calcarifer Bloch, 1790) về khả năng thay thế dầu cá với dầu đậu nành, dầu cải
và dầu hạt lanh. Kết quả cho thấy sự tăng trưởng của cá bị ảnh hưởng khi thay
thế dầu cá bởi dầu cải và dầu hạt lanh, khi thay thế bằng dầu đậu nành thì ảnh
hưởng không đáng kể. Do dầu đậu nành chứa 55% LOA (linoleic acids ,C18:2n-6)
sẽ thay đổi tỉ lệ n-3:n-6, còn dầu cải và dầu hạt lanh chứa ít acid béo n-6, nhiều
acid béo n-3 hơn dầu đậu nành nên không cung cấp đủ acid béo cho sự sinh
trưởng của cá.
Nghiên cứu của J. Gordon Bell et al., (2002) về khả năng thay thế dầu cá bởi
dầu cọ trong thức ăn của cá hồi Đại Dương (trọng lượng 55 gam). Thí nghiệm
với 4 nghiệm thức có cùng mức protein là 47% và lipid là 28%. Nhưng tỷ lệ
dầu cá được thay thế bởi dầu cọ với các mức lần luợt là 0%, 25%, 50%, 100%.
Kết quả cho thấy cá tăng trọng cao nhất ở nghiệm thức 25% dầu cọ (363 gam).
- 11 -
CHƯƠNG III
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
Đối tượng thí nghiệm: cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) được chọn từ
ngâm bột cá và tiếp tục cho dung dịch petroleum ether mới vào. Lập lại vài lần
đến khi quan sát thấy dung dịch ngâm trong bột cá trở nên trong và có màu
trắng.
Đem bột cá đã loại lipid đi phân tích hàm lượng lipid, nếu lipid còn khoảng
0,5% thì phân tích các chỉ tiêu còn lại (đạm, tro) chuẩn bị làm thức ăn.
Thức ăn thí nghiệm được phối trộn từ các loại nguyên liệu chính: bột cá Kiên
Giang đã loại lipid, bột đậu nành, bột mì tinh, dầu cá biển, dầu thực vật,
vitamin, khoáng và chất kết dính.
- 13 -
Nguyên liệu làm thức ăn phải được bảo quản trong điều kiện thích hợp, tránh bị
ẩm mốc. Sơ đồ chuẩn bị thức ăn chế biến (dạng viên):
Nguyên liệu
Cân
Phối trộn nguyên liệu (trộn khô)
Trộn ướt
Ép viên
Sấy khô
Bảo quản thức ăn (vào bao nylon, trữ lạnh)
Bảng 3.1 Tỉ lệ các nguyên liệu trong công thức thức ăn
Nghiệm thức
(% DC)
10,2
37,6
20,7
6,1
1,5
2,0
2,0
10,2
20,0
37,6
20,7
4,0
3,6
2,0
2,0
2,0
10,2
Bột
cá
(%)
Bột
ĐN
(%)
Bột mì
tinh
(%)
20,0
37,6
20,0
- 14 -
Dầu (%)
Kết
dính
(%)
31,8
32,0
31,5
Lipid
(%)
8,20
7,97
7,98
7,50
8,03
NFE
(%)
38,1
37,9
39,6
39,9
39,3
Tro
(%)
9,67
9,65
9,52
9,52
9,32
Xơ
(%)
Nghiệm thức (% dầu cá)
NT 1 (100% dầu cá)
NT 2 (75% dầu cá)
NT 3 (50% dầu cá)
NT 4 (25% dầu cá)
NT 5 (0% dầu cá)
Tỷ lệ dầu cá và dầu đậu nành
100% dầu cá + 0% dầu đậu nành
75% dầu cá + 25% dầu đậu nành
50% dầu cá + 50% dầu đậu nành
25% dầu cá + 75% dầu đậu nành
0% dầu cá + 100% dầu đậu nành
3.2.5 Chăm sóc và quản lý
Cá được cho ăn theo nhu cầu, mỗi ngày cho ăn 2 lần, vào lúc 8 giờ và 16 giờ.
Lượng thức ăn được ghi nhận hàng ngày.
Cá được theo dõi hằng ngày.
Định kỳ vệ sinh bể 1tuần/1 lần, siphon đáy bể khi dơ.
Các yếu tố môi trường như nhiệt độ được theo dõi hàng ngày, pH và oxy được
xác định hàng tuần.
3.2.6 Phương pháp thu và xử lí mẫu
3.2.6.1 Các chỉ tiêu môi trường: được thu 1 tuần/lần
Nhiệt độ: Đo 2 lần/ngày bằng nhiệt kế (sáng 7h30 và chiều 15h30).
pH và oxy hòa tan: Đo bằng máy.
3.2.6.2 Các chỉ tiêu dinh dưỡng
Xác định tăng trưởng của cá khi kết thúc thí nghiệm bằng cách cân khối lượng
toàn bộ cá thí nghiệm ở từng bể. Trước khi tiến hành thí nghiệm bắt ngẫu nhiên
10 con, sau khi kết thúc thí nghiệm thu 10 con/bể để phân tích thành phần hóa
học của cá. Mẫu cá được bảo quản lạnh bằng tủ đông để phân tích.