MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Đánh giá về văn học dân gian Việt Nam, Cù Huy Cận đã từng viết: “Văn
nghệ dân gian (Folklore) là văn nghệ gốc. Qua văn nghệ dân gian, nhân dân
trước hết là nhân dân lao động tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống của
mình. Chính trong văn nghệ dân gian ta tìm thấy những điều cơ bản nhất của
bản sắc văn hóa của dân tộc mà bản sắc văn hóa lại là cốt lõi của bản sắc dân
tộc. Điều này vô cùng quan trọng” [3]
Qua đánh giá trên, văn nghệ dân gian là cội nguồn của văn hóa dân tộc, văn
hóa mẹ. Điều đó hàm nghĩa văn nghệ dân gian gắn với lịch sử lâu đời của dân
tộc, là nguồn sản sinh và tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa dân tộc. Có con người là
có văn hóa, có dân tộc là có văn hóa dân tộc. Văn nghệ dân gian bao gồm những
sáng tác nghệ thuật dân gian, tức là gồm văn học dân gian và các ngành nghệ
thuật dân gian khác như âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc dân gian. Văn
nghệ dân gian cũng là nơi thể hiện truyền thống quý báu của dân tộc, là nơi mọi
người cùng sinh hoạt văn hóa, giao lưu.
Bất kỳ một vùng miền nào trên đất nước Việt Nam vào bất kỳ khoảng thời
gian nào trong năm đều thấy sự tồn tại và xuất hiện của các văn nghệ dân gian .
Văn nghệ dân gian là nơi lưu trữ các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc về nhiều
mặt của đời sống (chính trị, văn hóa, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng…) của cư dân
vùng trồng lúa nước. Mỗi một dân tộc trên đất nước lại có văn nghệ dân gian
đặc trưng, riêng biệt, dân tộc Mường cũng như vậy.
Qua các văn nghệ dân gian của dân tộc Mường cho chúng ta thấy được
nhiều nét văn hóa, phong tục của người Mường, mỗi một văn nghệ dân gian đều
mang những ý nghĩa, đặc sắc riêng, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, tuy nhiên
trước nguy cơ đồng nhất về văn hóa cần có bảo tồn và phát huy kịp thời để
không mất đi những giá trị văn nghệ dân gian đầy ý nghĩa của dân tộc Mường.
Trong một dịp may mắn ở Hòa Bình, tôi đã được chứng kiến các văn nghệ dân
1
KHÁI QUÁT VỀ TỈNH HÒA BÌNH VÀ DÂN TỘC MƯỜNG
1.1. Khái quát về tỉnh Hòa Bình
Hòa Bình [ Ảnh 1; tr. 32] là một tỉnh miền núi thuộc vùng tây bắc Việt
Nam, tỉnh lỵ là thành phố Hòa Bình nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 73 km,
nằm giáp ranh giữa 3 khu vực: tây bắc, đông bắc và Bắc Trung Bộ của Việt
Nam.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.662.5 km², chiếm 1,41% tổng diện tích tự
nhiên của Việt Nam. Thu nhập bình quân đầu người: 1500 USD (tương đương
34.090.909 đồng) (1/2016).
Theo kết quả chính thức điều tra dân số ngày 01/04/2009 dân số tỉnh Hòa
Bình chỉ có 786.964 người.
Trên địa bàn tỉnh có 6 dân tộc sinh sống, đông nhất là người Mường chiếm
63,3%;
người Việt
(Kinh) chiếm
27,73%;
người Thái chiếm
3,9%;
người Dao chiếm 1,7%; người Tày chiếm 2,7%; người Mông chiếm 0,52%;
ngoài ra còn có người Hoa sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh. Người Hoa
trước đây sống tập trung ở Ngọc Lương, Yên Thủy; nhưng sau năm 1979 còn lại
một số gia đình và hiện nay sống phân tán ở các xã Yên Trị, Ngọc Lương và Phú
Lai huyện Yên Thuỷ. Ngoài ra, còn có một số người thuộc các dân tộc khác chủ
những trường ca, truyện thơ đậm nét văn hóa dân tộc và chất nhân văn tinh tế…
1.2. Khái quát về dân tộc Mường.
1.2.1. Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bổ dân cư
Theo những kết quả của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa thì người
Việt và người Mường có chung một nguồn gốc và cùng là những cư dân bản địa
của Việt Nam. “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê…
đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em một nhà” [1]. Có thể nhận thấy, cả hai
4
dân tộc này đều là con cháu của người Việt cổ - những chủ nhân của nền văn
hoá Đông Sơn nổi tiếng. Sau nhiều năm của diễn trình lịch sử, do những điều
kiện tự nhiên và xã hội nhất định đã phân hoá thành hai dân tộc Mường và Việt
như hiện nay. Cho đến ngày hôm nay, một trong những tồn tại lịch sử là các nhà
nghiên cứu còn chưa thống nhất được thời gian phân hoá thành hai dân tộc Việt
và Mường. Và vì vậy, không thể có khái niệm người Việt có gốc là người
Mường hay ngược lại: người Mường có gốc từ người Việt. Tuy nhiên, do địa
bàn cư trú gần nhau trong suốt chiều dài lịch sử của nước Việt, mối quan hệ gần
gũi, sự giao lưu văn hoá có tính chất truyền thống giữa hai dân tộc là cơ sở của
nhiều nét tương đồng trong lịch sử mỗi dân tộc còn được bảo lưu đến ngày hôm
nay.
Không phải ngay từ buổi đầu lịch sử, dân tộc Mường đã có tộc danh như
ngày nay. Và đương nhiên trước đây, người Mường cũng không dùng danh từ
này làm tên gọi cho dân tộc mình. Theo Trần Từ (tức Nguyễn Đức Từ Chi),
Mường là từ dùng để chỉ một vùng cư trú của người Mường bao gồm nhiều
làng. Mỗi vùng được đặt dưới sự cai quản của một nhà Lang. Qua sự tiếp xúc
giao lưu giữa người Mường và người Kinh, người Kinh đã sử dụng từ Mường để
gọi dân tộc này.
Cho đến tận bây giờ, Người Mường vẫn từ gọi mình là mol, moăn như ở
dân số năm 2009 là 1.268.963 người.
Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà trong đó có người Việt
(Kinh) không chiếm đa số. “Đến với Hòa Bình là đến với thế giới của người
Mường, ở đó lấp lánh những địa danh hấp dẫn khơi gợi biết bao nguồn cảm
hứng, làm rung động biết bao tâm hồn như Mường Bi, Mường Vang, Mường
Thàng, Mường Động!” [4]. Người Mường (79.197 người, chiếm 63,3% dân số
6
của tỉnh), xét về phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi với người Kinh
nhất. Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phương trong tỉnh, sống
xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác.
1.2.2. Khái quát về đặc điểm văn hóa
Từ xưa đến nay, chính từ cội nguồn là một vùng đất cổ - nơi tổ tiên tiền sử
người Việt đã tồn tại và phát triển "Văn hóa Hòa Bình cổ đại" cách đây hàng
chục nghìn năm, trải qua quá trình phát triển, đến nay người Hòa Bình đã xây
dựng nên một nền văn hóa đặc sắc - niềm tự hào của nhân dân các dân tộc tỉnh
Hòa Bình. Văn hóa của dân tộc Mường bao gồm văn hóa về vật chất, văn hóa về
tinh thần và văn hóa về xã hội.
Văn hóa về vật chất, dân tộc Mường sống tập trung thành bản ở chân núi,
bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối. Nhà sàn gỗ 4 mái [Ảnh 2; tr. 32].
Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt cối giã gạo, chứa công cụ sản xuất. Tổ chức
gia đình nhỏ phụ hệ.
Người Mường thích ăn xôi đồ, cơm tẻ, rau, cá...; uống rượu cần [Ảnh 3; tr.
33] và hút thuốc lào [Ảnh 4; tr. 33]. Rượu là đặc sản nổi tiếng bởi cách chế biến
và hương vị.
Người Mường sử dụng phương tiện vận chuyển chủ yếu bằng gùi, gánh
[Ảnh 5; tr. 34].
Đối với trang phục, nam mặc quần áo cánh màu chàm. Nữ đội khăn, mặc
Tiểu kết
Trong chương này, tôi đã trình bày khái quát về địa bàn tỉnh Hòa Bình cũng
như dân tộc Mường trên các phương diện: nguồn gốc lịch sử, dân cư, phân bố,
diện tích, văn hóa, kinh tế…. Những nội dung tôi đã trình bày trong chương 1:
8
Khái quát về tỉnh Hòa Bình và dân tộc Mường là cơ sở lý thuyết và thực tiễn để
tôi triển khai trong chương 2.
Chương 2
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA DÂN
TỘC MƯỜNG Ở TỈNH HÒA BÌNH
2.1. Các thể loại hát của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình
2.1.1. Hát Xéc bùa
Hát sắc bùa hay xéc bùa (có nghĩa là xách cồng) là lễ hội lớn của người
Mường, đặc biệt là người Mường miền Hòa Bình, diễn ra hàng năm vào ngày
Tết cổ truyền của dân tộc Mường. Đây là một hình thức diễn xướng dân gian,
gắn với một số nghi lễ trong nông nghiệp nhằm cầu mong một năm mới phát tài
thịnh vượng, đất đai màu mỡ, mùa màng bội thu, con người may mắn và dồi dào
sức khỏe.
Tổ chức những người hát sắc bùa được gọi là phường bùa, số lượng thường
là 12 người tương ứng với một bộ cồng chiêng gồm 12 chiếc, là những người
biết đánh cồng chiêng và hát những bài thường (điệu hát dân gian Mường). Thời
gian tổ chức hội từ mùng một tết trở đi, kéo dài một tuần lễ, có khi đến nửa
tháng.
Phường bùa do một thầy thường là người có giọng hát hay và có tài ứng
tác, đặc biệt là phải biết lựa chọn các thành viên cho phường bùa của mình .làm trưởng nhóm. Trang phục dành cho những người sắc bùa cũng không cầu kì
nhưng phải đẹp. Nữ mặc váy áo Mường là trang phục truyền thống, đeo vòng
2.1.2. Hát thường đang, bọ mẹng, ví đúm
Thường đang, bọ mẹng [Ảnh 19; tr. 41] là hình thức hát dân ca trong các
dịp vui, ngày hội của đồng bào Mường, ca ngợi cuộc sống yên bình, no đủ và
yên ấm. Với người Mường, đây còn là câu hát tình tứ, giao duyên nam nữ trong
11
những đêm hội vằng vặc ánh trăng, hay khi bên bếp lửa nhà sàn bập bùng trong
mùa đông buốt giá. Những lời ca ấy đều là những câu hát tự duyên, tự nghĩ, như
là câu hát được vỡ ra từ trái tim thể hiện tâm tình, tiếng lòng của con người nơi
đất Mường Yên Mông nói riêng và đất Mường Hòa Bình nói chung. Qua lời ca,
câu hát trong Thường đang, bọ mẹng chúng ta sẽ hiểu thế giới quan, nhân sinh
quan của đồng bào Mường.
Trải qua những giai đoạn phát triển lại chịu dưới nhiều tầng áp bức, nhưng
người Mường vẫn luôn vững tin và thể hiện sự khát vọng về tình yêu, khát vọng
về tự do, thoát khỏi các tầng áp bức, đè nén con người, đề cao cái tôi trong sáng,
nhiệt tình qua hát thường đang, bọ mẹng.
Có lẽ cũng bởi thế mà lời ca trong thường đang, bọ mẹng không theo một
khuôn mẫu có sẵn mà luôn được sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh, tình cảm
của người hát. Đặc biệt, trong hát giao duyên nam nữ, tùy thuộc vào tài năng của
chàng trai, cô gái mà lời hát sẽ thể hiện được thái độ vui vẻ, giận hờn, trách móc
hay nũng nịu, đằm thắm. Chính vì vậy, các chàng trai thường trổ hết tài năng của
mình học trong dân ca, học người đi trước hay tự mình sáng tác, hát cho người
mình yêu thích để bày tỏ tình cảm với cô gái. Người Mường sáng tạo ra thường
đang, bọ mẹng, và với sức sống mãnh liệt nét sinh hoạt văn hóa độc đáo đó vẫn
tồn tại cho đến ngày hôm nay.
Cùng với giai đoạn xuất hiện hát thường đang, bọ mẹng còn tồn tại một thể
loại dân ca khác là hát ví đúm [Ảnh 20; tr. 41]. Loại hát này sử dụng thể thơ lục
bát và lục bát biến thể. Ví đúm được hát trong các cuộc vui, những buổi gái trai
em bé hoặc người lớn trông em bé.
Hát ru con của người Mường [Ảnh 22; tr. 42] gọi là: Rằng đều hoặc úi ui,
được chia làm hai loại: Rằng đều ban ngày - hát ru ban ngày và Rằng đều ban
đêm - hát ru ban đêm. Hát ru ban ngày chủ yếu có làn điệu: Uí ui và U óm... Hát
ru ban đêm có làn điệu: Đập bông bông. Hát ru con là những bài đồng dao được
phổ nhạc hát ru, dỗ dành cho em bé ngủ, nếu đọc thì thành đồng dao, nếu hát thì
13
thành hát ru. Vì thế, lời đồng dao, lời các bài hát ru con có thể đọc theo vần, điệu
và cũng có thể hát được.
Các bài đồng dao Mường khá đa dạng về nội dung và độ dài ngắn không
theo niêm luật nào. Có bài ngắn, thậm chí rất ngắn, có thể chỉ một đến hai câu,
song cũng có những bài dài. Nội dung thường gắn với đời sống, đồ vật xung
quanh, theo quan sát, cảm nhận của các em.
Lời và giai điệu các bài đồng dao của người Mường cơ bản được chia làm
4 loại: Một loại chủ yếu được hát trong các trò chơi gắn liền với trò như: đập
nàng Khọt, đập nàng Bạn, đu đu - điển điển... Loại thứ hai chủ yếu được dùng
trong hát ru con với mục đích giỗ dành cho con trẻ ngủ. Các bài này thường dài
hơn cả. Hình thức diễn xướng khi ôm con vào lòng cho con bú dỗ dành chúng
ngủ hoặc bên cánh võng, lúc đưa nôi. Người ta thường hay hát ru cho trẻ ngủ.
Loại thứ ba rất ngắn, đó là các câu đố dân gian. Hình thức nói để đố nhau.
Có một thể loại đi kèm với các câu chuyện truyền miệng dân gian khi kết
thường có vài câu nói vần, có thể nói đấy cũng là lối kể chuyện cuối câu chuyện
có kết là vài câu đồng dao hoặc hát ru. Đây vừa là dạng kể chuyện, vừa là hát ru
mang tính răn dạy hay khuyên nhủ về nhân tình thế thái.
Các thể loại đồng dao này có cách sử dụng, diễn xướng khác nhau và có
tính độc lập tương đối với nhau trong diễn xướng.
Các dân tộc khác như người Kinh gần gũi với người Mường, các bài hát ru
Ở người Mường đặc biệt phải kể đến lễ ca. Ðó là những áng mo, bài khấn
do thầy mo đọc và hát trong đám tang. Trong ngày vui là dịp để mọi người được
thưởng thức những áng mo bất hủ sử thi thần thoại, thể hiện cách nhìn nhận của
người Mường về cuộc sống, về vũ trụ có ý nghĩa rất sâu sắc. Đồ vật của thầy mo
làm lễ là những vật được lấy từ thiên nhiên, vì vậy khi lời thầy mo cất lên như
một sự giao hòa của đất trời với cuộc sống con người.
2.2. Các loại hình múa của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình
15
Trong các loại hình nghệ thật dân gian truyền thống, hoạt động diễn xướng
của người Mường trong các nghi lễ, lễ hội và đời thường luôn kèm theo các điệu
múa, trong đó có nhiều loại hình múa dân gian sinh động. Chuyện cũ kể rằng:
tiếng hát, điệu múa của người Mường có từ lâu lắm rồi, từ thời “Đẻ đất, đẻ
nước” tạo ra đất mường. Ngày ấy Dạ Dân gánh một gánh nặng những tiếng hát,
điệu múa đi gieo khắp cả vùng quê của người Mường. Tiếng hát thường tình tứ,
những điệu múa rộ ràng, uyển chuyển hoà cùng với tiếng cồng, tiếng chiêng,
ngân vang xa mãi từ mường này tiếp sang mường khác không dứt. Người
mường Bi có múa và biết múa từ đấy.
2.2.1. Múa trong tín ngưỡng làm mỡi
Trước hết phải kể đến các hình thức nghệ thuật của tín ngưỡng làm mỡi.
Trong nghi lễ này, nhạc và múa đóng một vai trò hết sức quan trọng. Người làm
mỡi phải nhập vào mỗi vai diễn phù hợp với tính cách, phải thể hiện được điệu
bộ, dáng đi, giọng nói và các động tác của nhân vật mà mình nhập vào. Vì vậy,
khi thăng hoa, nhập hồn, họ thực sự như một nghệ nhân điêu luyện. Từ những
điệu múa trong nghi lễ ấy mà người dân cũng như các nghệ nhân dân gian đưa
vào những điệu múa khác trong nghi lễ và sinh hoạt của mình. Tương tự như
vậy là việc thực hành nghi lễ của các ông mo ở các đám tang, đám cúng. Những
động tác vũ điệu mà các ông mo làm khi cúng như múa kiếm, đuổi trừ ma, dẫn,
Múa cờ là một hình thức múa tế lễ, thường chỉ diễn ra ở nhà lang. Nhà lang
chia ruộng cho những người tham gia múa cờ và coi họ là lính múa nhà lang.
Tuỳ từng loại người được hưởng phần ruộng phu, ruộng công hay ruộng nóc nhà
hoặc ruộng nhà ậu. Bởi vậy, khi nhà lang có tang, những người dân này phải đến
17
hầu hạ phục dịch suốt thời gian làm ma và có nhiệm vụ bảo vệ đưa người nhà
lang sang thế giới bên kia an toàn, không bị ma quỷ quấy nhiễu. Đây là điệu
múa tập thể có số người tham gia khá đông, khoảng từ 60 đến 70 người trở lên,
được tổ chức chặt chẽ có quy mô lớn.. Do đó, nhìn số lượng người múa, người
ta cũng có thể đoán biết được sự giàu có của nhà lang ấy thế nào. Điệu múa biểu
thị uy quyền nhà lang thông qua những người lính múa. Người múa theo hiệu
lệnh, dưới sự chỉ đạo của cai bách (người coi lính) múa theo nhịp chiêng, trống,
gõ từng tiếng một.
- Hiệu lệnh: Quân ta người nào ở đâu, chú ý đứng nghiêm, cờ cắm trước
mặt. Chuẩn bị, bắt đầu.
- Nhấc cờ – Bật cờ xuống – Quấn cờ – Dựng cờ lên – Vác cờ lên vai –
Quay mặt bên phải. (Người múa chạy quanh nhà xe, theo hướng phải ba vòng,
đường chạy dích dắc hình chữ A).
- Đứng nghiêm (dừng lại) – Giơ cờ lên – Bật cờ xuống – Thả cờ – Dựng cờ
lên – Cắm cờ trước mặt. Hết.
Múa cờ được làm lại nhiều lần, trang phục quần áo kiểu lính mầu đỏ. Địa
điểm múa ở khu vực quanh chỗ để nhà xe ngoài cánh đồng. Điệu múa đòi hỏi sự
đồng đều và nghiêm túc, không nhốn nháo lộn xộn.
2.2.5. Múa quạt ma
Múa quạt ma [Ảnh 25, 26, 27; tr. 44, 45] là một hình thức múa tín ngưỡng
khác của người Mường. Múa này còn gọi là tế quạt ma, được tiến hành khi nhà
có tang, từ khi xảy ra đám tang cho đến lúc đưa người chết về nơi yên nghỉ.
- Một chiếc ghế hình trụ, mặt trên nhỏ hơn mặt đáy làm bằng mây, song và
tre. Ghế đặt trước những người múa.
Múa quạt ma tỏ rõ ân nghĩa và tình cảm thiêng liêng của người sống với
người đã khuất. Dâu hiền quạt mát cho linh hồn người chết thanh thản trước khi
đi sang thế giới khác. Do vậy điệu múa này luôn luôn bám sát quan tài, được
thực hiện ở hai nơi: trong nhà sàn và ngoài cánh đồng.Múa quạt ma trong lễ
rước nhà xe, về động tác cơ bản giống như trong nhà sàn, chỉ thêm bước đi
(chân đi miết trên mặt đất, bước đi dò dẫm) và tay trái vác gậy trên vai.
2.2.6. Múa dâng lễ vật
Múa dâng lễ vật còn gọi là lễ tế vật, được thực hiện ở trong tang lễ. Đây
cũng là dịp biểu lộ lòng thành kính của những người còn sống đối với người đã
mất. Tất cả những món ăn dân gian truyền thống ngon nhất đều được đưa làm lễ
vật cũng tế hương hồn người chết.Tham gia múa tế vật gồm những chàng trai
trong mường. Số người tham gia múa nhiều hay ít tuỳ thuộc vào gia đình có đám
tang giàu hay nghèo, thường thường có 12 thanh niên tham gia.
Động tác múa dâng lễ vật đơn giản. Hướng mặt nhìn về phía bàn thờ hoặc
phía nhà xe. Người múa hai tay nâng bưng mâm lễ vật ngang tầm trán, dâng về
phía trước. Đội hình cứ 3 người một hàng, dàn hàng ngang mang cùng một thứ
lễ vật tiến đến bàn thờ, vái ba vái rồi từ từ lui về vị trí cũ. Lần lượt sau đó đến
hàng hai, ba, bốn… làm như hàng một, chí có khác mang thứ lễ vật khác, bao
giờ hết lễ vật mới thôi. Điệu múa dâng lễ vật phải hết sức đều, nghi thức trang
trọng. Trang phục trong điệu múa là đầu vấn khăn trắng, áo dài mầu nâu nhạt
(không đội mũ). Múa trên nhà sàn, và khi có lễ rước nhà xe [Ảnh 28; tr. 45].
2.2.7. Múa mặt nạ
20
mình với khăn trắng, áo xanh, váy đen nổi bật giữa không gian linh thiêng của
đất trời vào xuân. Cồng chiêng tham gia hầu hết vào mọi sinh hoạt hàng ngày
của cộng đồng như hội Sắc bùa, lễ cưới, lễ tang, cuộc đi săn, kéo gỗ, mừng nhà
mới, hội xuống đồng, khi thiên tai địch hoạ. Đặc biệt trong lễ hội mùa Xuân ở
Hoà Bình thường có những phường Chiêng, phường Cồng đi chúc Tết các gia
đình ( gọi là phường Sắc Bùa ) [Ảnh 30; tr. 46]. Trong sinh hoạt dân gian nổi lên
lễ xướng trường ca Đẻ đất - Đẻ nước vừa diễn tả, giải thích nguồn gốc vũ trụ,
con người, muôn loài với quan niệm linh thiêng đầy chất huyền thoại.
Sau những nghi lễ cầu mong mùa màng bội thu, nhân khang, vật thịnh, đến
phần hội là các đội cồng chiêng đến từ nhiều bản làng khác nhau tạo nên một
dàn hòa âm trầm hùng cùng các trò chơi dân gian khác. Mỗi người phụ nữ có
một chiếc cồng, tay này xách quai đeo cồng, tay kia cầm dùi gõ có quấn vải đỏ
một đầu, gõ vào núm cồng theo nhịp điệu và tiết tấu của bài.
Cồng chiêng biểu diễn theo hai hình thức là dàn hàng ngang đứng đánh tại
chỗ [Ảnh 31; tr. 47] hoặc vừa đi theo vòng tròn [Ảnh 32; tr. 47]. Lễ hội cũng là
dịp người Mường trở về với cội nguồn. Mường Thàng là nơi có mật độ cồng
chiêng rất lớn, nhà nào cũng có ít nhất vài ba chiếc, nhiều nhất là một dàn 12
chiếc. Âm nhạc cồng chiêng có mặt trong nhiều sinh hoạt của cộng đồng Mường
và được tổ chức đánh theo bài bản nhất định. Trong khung cảnh mường tiên Tây
Bắc, âm hưởng ấy lắng đọng vào tâm trí mỗi người đến khó quên.
Nói đến cồng chiêng phải nhắc đến dàn cồng sắc bùa Mường gồm nhiều
chiếc cồng. Dựa vào chức nǎng âm nhạc người ta đặt riêng cho từng chiếc cồng
hoặc từng nhóm cồng như:
22
- Chiêng Cái hoặc chiêng Gọi là chiếc cồng đánh mở đầu bài nhạc cồng.
- Chiêng Boòng Beng là một đôi cồng cỡ nhỏ có âm vang cao nhất.
- Chiêng Đủm là đôi cồng trung.
không thể thiếu âm thanh của dàn cồng.
2.3.2. Sáo Ôi
Ngoài loại nhạc cụ Cồng chiêng, Sáo Ôi [Ảnh 33; tr. 48] cũng là loại nhạc
cụ được người Mường tôn kính, yêu mến và quý trọng. Người Mường thường sử
dụng Sáo Ôi để đệm cho hát, như vậy Sáo Ôi không những chỉ sử dụng để trình
diễn cho độc tấu, mà Sáo Ôi còn được sử dụng để đệm cho hát các bài dân ca
Mường. Sáo Ôi là một loại nhạc cụ luôn được người Mường cất giữ, bảo tồn và
quý trọng, cây Sáo Ôi được người Mường gọi bằng từ (Ống Ôi hay Kháo Ôi).
Sáo Ôi là một loại nhạc cụ có xuất sứ từ dân tộc Mường, nó đã được thế hệ
ông cha của dân tộc Mường sáng chế ra một cách khéo léo, tài tình và đã được
các bậc nghệ nhân truyền dạy từ đời này, qua đời khác, cho đến tận ngày hôm
nay cây Sáo Ôi vẫn đang được tồn tại trong đời sống sinh hoạt của người
Mường, bản thân nó luôn được các thế hệ ông cha giữ gìn, bảo tồn và phát triển.
Cho đến ngày nay Sáo Ôi được nâng lên một tầm cao mới, nó có thể biểu diễn
các tác phẩm trong nước và ngoài nước. Về tính năng nhạc cụ cây Sáo Ôi ngày
nay đã được đổi thay nhiều so với Sáo Ôi cổ.
Cây Sáo Ôi cổ nó được sinh ra bởi chính với nền âm nhạc cổ truyền của đất
nước ta, âm lượng của Sáo Ôi cũng như âm của các sáo dọc khác, bởi nó được
24
làm cùng từ một loại cây nứa. Song vì ống Ôi dài hơn, cấu tạo của nó chỉ có 4
lỗ bấm và 5 nốt nhạc là: Hò; Sự; Sang; Xê; Cống và lên quãng cao (quãng 8)
cũng chỉ có thế. Do vậy, tiếng Sáo Ôi phát ra man mát, dịu dàng, êm êm, có một
sắc thái riêng biệt của nó. Sáo Ôi khác với Sáo trúc, Sáo Ôi thổi được các làn
điệu dân ca Mường và các loại nhạc trữ tình, tiếng Sáo Ôi rất phù hợp với chất
dân ca, chữ tình của người Mường. Tiếng Sáo Ôi của người Mường được ví thay
cho tiếng gọi người yêu, tiếng gọi của tình yêu.
Sáo Ôi là một loại nhạc cụ hơi được làm từ thân cây nứa và có xuất xứ từ