Bàn về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự
năm 2015
14/09/2017
Bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự do hành vi gây
ra thiệt hại phát sinh giữa các chủ thể. Bên có hành vi trái pháp luật phải bồi
thường cho bên bị thiệt hại. Theo quy định tại Điều 275 BLDS năm 2015, một
trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là “ gây thiệt hại do hành vi trái
pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, Phần thứ
ba BLDS năm 2015 về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Trong
trường hợp này, trách nhiệm được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của bên gây thiệt
hại phải bồi thường cho bên bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH)
ngoài hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải BTTH tạo
ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng. Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là cơ sở
pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách
nhiệm
BTTH.
Theo khoản 1 Điều 584 BLDS năm 2015: “Người nào có hành vi xâm phạm
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp
khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật
này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, căn cứ xác định trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại”. Qua nghiên
cứu có thể thấy, BLDS năm 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho bên bị thiệt hại. Theo đó,
trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh khi có các điều kiện:
Một là, có thiệt hại xảy ra. Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng. Trách nhiệm BTTH chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản
hoặc sự thiệt hại về tinh thần. Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút
về một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể tính toán
được thành một số tiền nhất định. Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính
mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại
+ Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra
do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại
cho
chính
mình.
Cụ thể, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, Điều 585 BLDS năm 2015, quy định:
“1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa
thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc
thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường
nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của
mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên
gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
khác
thay
đổi
mức
bồi
thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường
phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
định chờ cây khô sẽ thuê người cưa xẻ kéo về làm nhà ở. Ngày 14/2/2017, Trạm
kiểm lâm L kiểm tra phát hiện và báo cáo cho Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng TM.
Qua xác minh, điều tra của cơ quan chức năng số gỗ bị đốn hạ là loại gỗ thuộc
nhóm III và nhóm VII, có khối lượng 35 m3 gỗ tròn; diện tích rừng bị thiệt hại
không đáng kể, vì các cây gỗ ngã nằm liền kề khu vực đất trống. Sau đó, Nguyễn
Văn A đã có đơn báo cáo thừa nhận hành vi trên của mình. Tại Bản kết luận định
giá tài sản số 11/KLĐG ngày 21/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố
tụng hình sự huyện K, kết luận: Giá trị thiệt hại khối lượng gỗ do khai thác trái
phép tại khoảnh 4 tiểu khu 706 thuộc xã P, huyện K, tỉnh Q là 60.000.000 đồng và
thiệt hại về môi trường không đáng kể. Ngày 01/4/2017, Công an huyện K ra
Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức chuyển giao cho hạt kiểm lâm rừng
đặc dụng TM tổ chức thu gom số gỗ tròn tận thu được là 25m3, số gỗ còn lại
10m3 không tận thu được đã tiêu hủy. Sau khi hoàn tất thủ tục nghiệm thu, ngày
10/4/2017, Hội đồng định giá bán đấu giá 25 m3 gỗ, gồm 120 phách gỗ xẻ các
loại, thu được 125.000.000 đồng. Chi phí cho công tác bảo quản, xử lý bán và chi
phí liên quan việc bán tài sản là 85.000.000 đồng. Vấn đề đặt ra, Nhà nước bị
thiệt hại thực tế trong vụ án này là 60.000.000 đồng theo kết luận của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự của huyện K, hay là 125.000.000 đồng theo
Hội đồng định giá bán đấu giá tài sản? Đâu là thiệt hại thực tế? Chính sự khác
biệt quá lớn giữa con số do Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác
định với kết quả thu được từ Hội đồng định giá bán đấu giá, dẫn đến có các quan
điểm khác nhau về trách nhiệm BTTH đối với Nguyễn Văn A.
+Quan điểm thứ nhất, thiệt hại về gỗ tròn là 35m3 trong đó tận thu được 25m3
tương đương giá trị thiệt hại 60.000.000 đồng. Sau khi bán số gỗ tận thu
125.000.000 đồng, tức là đã vượt mức so với thiệt hại là 60.000.000 đồng, trong
trường hợp này A không phải bồi thường.
+Quan điểm thứ hai: Theo kết luận của hội đồng định giá tài sản của huyện K, giá
trị 25m3 bị thiệt hại là 60.000.000 đồng, nhưng thực tế, qua bán đấu giá thu được
Hai là, để thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, Tòa án phải giải quyết nhanh
chóng yêu cầu đòi BTTH trong thời hạn luật định. Trong trường hợp cần thiết có
thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp
luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự.
Thứ hai, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi
thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh
tế của mình. Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ
hai điều kiện song song với nhau, sau đây:
(i). Do không có lỗi hoặc có lỗi vô ý mà gây thiệt hại;
(ii). Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của
người gây thiệt hại, có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường
so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt của họ cũng như về lâu dài họ không thể có
khả năng bồi thường được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó. Ví dụ: Ông Trần Đ
hành nghề chạy xe ba gác với thu nhập mỗi tháng khoảng 3 đến 4 triệu đồng,
nhưng đã vô ý để đầu các tấm tol trên xe ba gác đâm vào người anh Nguyễn
Hoàng Th., khi anh này đang đứng chờ xe buýt trên đường. Hậu quả, anh Th. bị
tử vong sau đó tại bệnh viện. Mọi chi phí hợp lý để cấp cứu, điều trị nạn nhân; chi
phí lo mai táng; nuôi con anh Th. (hiện mới 03 tuổi); …ước tính khoảng 250 triệu.
Số tiền này rõ ràng là quá lớn so với mức thu nhập của ông Đ đã ngoài 65 tuổi.
Trong trường hợp này, ông Đ có thể được giảm mức bồi thường bởi đáp ứng đủ
điều
kiện
nói
trên
Thứ ba, khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại
hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm
phù
hợp.
Thứ tư, khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi
thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Với lý lẽ công bằng, gây thiệt hại
đến đâu bồi thường đến đó, nhưng trong nhiều trường hợp bên bị thiệt hại lại là
bên có phần lỗi dẫn đến thiệt hại. Luật quy định bên bị thiệt hại sẽ không được bồi
thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Vậy, thiệt hại không được bồi
thường ở đây được hiểu như thế nào cho đúng? Với trường hợp mỗi bên đều có
lỗi cố ý, đều bị thiệt hại về tài sản, sức khỏe,… thì không có gì đáng nói. Nhưng
với trường hợp, cả 2 bên đều có lỗi cố ý, nhưng thiệt hại mà bên bị thiệt hại gây ra
cho bên gây thiệt hại không đáng kể (có thiệt hại xảy ra nhưng không lớn), còn
thiệt hại mà bên gây ra thiệt hại cho bên bị thiệt hại tính toán được bằng con số cụ
thể, thì vấn đề đặt ra, Tòa án có xem xét mức độ lỗi của bên bị thiệt hại khi ấm
định mức BTTH đối với bên gây ra thiệt hại không? Xoay quanh vướng mắc này,
thực tế thường xảy ra hai trường hợp sau:
Một là, thiệt hại hoàn toàn do người bị thiệt hại gây ra, như vậy, người bị thiệt hại
sẽ không nhận được bồi thường, tức là người gây ra thiệt hại không có lỗi thì họ
không phải BTTH. Ví dụ: Một người cố ý lao vào ô tô để tự tử;..
Hai là, thiệt hại một phần do người bị thiệt hại gây ra, còn một phần do lỗi của
người gây thiệt hại, như vậy, người bị thiệt hại vẫn được bồi thường phần thiệt hại
không phải do lỗi của mình. Nghĩa là, họ vẫn phải chịu trách nhiệm tương ứng với
mức độ lỗi của mình. Trong trường hợp này, Tòa án cần xác định rõ mức độ lỗi
của mỗi bên để ấn định trách nhiệm bồi thường cho tương xứng. Vì người bị thiệt
hại cũng có lỗi, và chính yếu tố lỗi của họ là là chất xúc tác, là nguyên nhân, dẫn
phản ứng tiêu cực của bên gây ra thiệt hại và hậu quả thực tế xảy ra, nhưng họ lại
là người bị thiệt hại, do vậy, họ phải tự “ bồi thường” cho mình tương ứng với mức
chế xã hội chủ nghĩa không được đề cao. Tác giả một số trường hợp, trong rất
nhiều trường hợp tương tự mà Tòa án đã xet xử để minh chứng cho nhận định
này.
+Trường hợp thứ nhất: Tại tiệc liên hoan cuối năm tổ chức tại Công ty X, giữa
Trần Văn M. và Đặng Thành H. (đều là công nhân của Công ty, trụ sở số 17,
Nguyễn An Ninh, phường Kiến Hải, thành phố M, tỉnh T) trong tiệc rượu anh H.
hay nói chuyện lớn tiếng, quơ tay nên anh M. góp ý, từ đó, phát sinh việc cự cãi,
nhưng được mọi người can ngăn và cuộc vui tiếp tục đến 21 giờ thì giải tán. Trên
đường về nhà, anh M. dừng xe Honda ghé vào tiệm tạp hóa ven đường mua
thuốc hút. Khi vừa định bước vào tiệm, thì bất chợt từ phía sau lưng, anh H. dùng
tay đấm mạnh vào mặt Đ., làm Đ. té xuống đóng gạch bê tông cạnh đó. Liền lúc
này, hai tay của Đ. cầm cục gạch có kích thước 25 x 19 x 12cm ném thẳng vào
người H. đứng cạnh đó chừng 02 mét. Hậu quả, anh H. bị gãy hỡ 3 xương sườn
bên trái và nhiều xây xát vùng hông trái. Riêng anh M. chỉ bị bầm mặt bên phải
không đáng kể. Tỉ lệ tổn thương cơ thể của anh H. qua giám định 13%. Tại Bản
án hình sự sơ thẩm số 17/2016/HSST ngày 27/4/2017 của của TAND thành phố
M. đã tuyên phạt Trần Văn M. 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Ngoài việc
áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại, HĐXX còn áp
dụng khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015 để “giảm” mức bồi thường thiệt hại do
phía anh Đặng Thành H. có “lỗi” nên không được bồi thường thiệt hại do lỗi của
mình
gây
ra.
+Trường hợp thứ hai: Anh Phạm Huỳnh H. và chị Võ Quế M. đang ngồi tâm sự tại
công viên của khu dân cư T, phường K, thị xã B, tỉnh T. Khoảng 20 giờ 20 phút,
Lê Phúc Ng. điều khiển xe đạp chạy lòng vòng khu vực công viên và trêu chọc
15.090.000
đồng.
Đối với trường hợp thứ ba có lẽ không phải bàn luận gì thêm vì quá rõ, hành vi
gây thiệt hại của mỗi bên được HĐXX xem xét đánh giá mức độ lỗi ở từng vụ án
là khác nhau, nên có sự lựa chọn áp dụng khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015 cho
phù hợp. Tuy nhiên, từ kết quả xét xử 02 vụ án thuộc trường hợp thứ nhất và
trường hợp thứ hai của cấp xét xử sơ thẩm thuộc TAND tỉnh T, cho thấy, giữa 02
vụ án này có điểm chung giống nhau, đó là, người bị thiệt hại đều có lỗi và bên
gây ra thiệt hại, thực tế không bị thiệt hại gì đáng kể do hành vi có lỗi của người bị
thiệt hại gây ra. Nhưng với trường hợp thứ nhất, HĐXX của TAND thành phố M,
đã áp dụng khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015 để ghi nhận bên bị thiệt hại có lỗi,
buộc bên gây thiệt hại chỉ phải bồi thường tương ứng mức độ lỗi của mình gây ra
bồi thường số tiền 11.700.000 đồng trên tổng số thiệt hại 19.500.000 đồng (tương
ứng tỉ lệ 6/4). Với trường hợp thứ hai, HĐXX TAND thị xã B, tỉnh T lại không áp
dụng khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015, theo đó, Bản án số 08/2017/HSST có
nhận định: “Tuy người bị hại có lỗi, nhưng thực tế không gây ra thiệt hại gì đáng
kể cho bị cáo và bị cáo cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không phát
sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho H….”
Từ thực tiễn xét xử, xoay quanh quy định tại khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015,
nhiều ý kiến đồng tình với quan điểm của HĐXX thể hiện tại Bản án số
08/2017/HSST của TAND thị xã B, đó là: Khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015, chỉ
có thể được áp dụng khi và chỉ khi chứng minh được rằng có thiệt hại thực tế xảy
ra do phía bên bị thiệt hại đã gây ra cho người gây ra thiệt hại. Nghĩa là, phải có
thương tích cụ thể hoặc thiệt hại về vật chất mà có thể cân, đông, đo đếm được.
Ngược lại, cũng không ít người cho rằng, với trường hợp thứ hai, HĐXX không
áp dụng khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015 là không đứng về lẽ phải, không bảo
đảm sự công bằng, bởi, nếu như Lê Phúc Ng. không có hành vi đánh H. làm té
xếp lại theo hướng phù hợp hơn với cơ cấu từng điều trong bộ luật mới, do vậy,
có thể thấy, nội dung khoản 2 Điều 584 và khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015
chính là nội dung quy định của Điều 617 BLDS năm 2005. Do vậy, theo tác giả,
quan điểm cho rằng khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015 là quy định mới được bổ
sung, điều kiện áp dụng phải có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra đối với bên gây ra
thiệt hại trong trường hợp người bị hại có lỗi là chưa thật sự phù hợp.
Lỗi không tự nó có vị trí độc lập với các yếu tố khác trong việc xác định trách
nhiệm dân sự ngoài hợp đồng. Hình thức lỗi cũng không phải là không thể xác
định. Theo nguyên tắc chung của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, phía bên
gây thiệt hại dù có lỗi cố ý hay có lỗi vô ý khi gây thiệt hại cho phía bên bị thiệt hại
thì người đó thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi có lỗi của mình gây
ra. Không vì người gây thiệt hại có lỗi vô ý hoặc lỗi cố ý trong khi gây thiệt hại mà
mức bồi thường tăng hay giảm tương ứng theo tính chất lỗi, mà không xem xét
thêm các yếu tố khác. Tương tự như vậy, cũng không vì lý do thiệt hại thực tế mà
bên bị thiệt hại gây ra cho phía bên gây thiệt hại không đáng kể (có thiệt hại
nhưng không lớn), thì buộc người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ, dù người
bị thiệt hại có lỗi do cố ý. Vì như vậy sẽ mâu thuẫn ngay chính trong phán quyết
của HĐXX, đó là, khi lượng hình phạt có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ :người bị
hại có lỗi”, nhưng khi xem xét đến trách nhiệm dân sự của bên gây ra thiệt hại (bị
cáo), thì lại không đề cập đến quy định tại khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015.
Trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại, thì người gây
thiệt hại chỉ phải bồi thường tương ứng với mức độ lỗi của mình. Trong BLDS
năm 2015, không có quy định cụ thể về mức độ lỗi, vì vậy, việc xác định trách
nhiệm dân sự “hỗn hợp lỗi”trong trường hợp cả người gây thiệt hại và người bị
thiệt hại đều có lỗi gây ra thiệt hại thì mỗi bên phải chịu trách nhiệm dân sự tương
ứng với mức độ lỗi của mình. Mức độ lỗi trong trường hợp này được xác định dựa
trên những cơ sở lý luận pháp luật hình sự trong việc phân biệt mức độ lỗi vô ý
hoặc lỗi cố ý của một người mà gây ra thiệt hại thì tương ứng với nó mức bồi
thường thiệt hại có khác nhau. Như cách đặt vấn đề ở phần trên, lỗi phản ánh yếu
tố tâm lý của con người, có tác động trực tiếp đến hành vi của người đó và thiệt
hại
cho
chính
mình.
Quy định này đễ thấy nhất khi hành khách di chuyển bằng đường hàng không.
Theo đó, phía bên cung cấp dịch vụ vận chuyển sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm
nào về thiệt hại đối với vật dụng bị cấm theo qui định mà do hành khách mang
theo trong hành lý; hoặc trong hành lý ký gửi của hành khách bao gồm: Thiệt hại
đối với các đồ vật dễ vỡ, hàng mau hỏng (đồ tươi sống, thực phẩm dễ hư
hỏng…), tác phẩm nghệ thuật, máy ảnh, máy quay phim, tiền, đồ trang sức, kim
loại quí, đồ làm bằng bạc, đá quí, thuốc chữa bệnh, hàng hoá nguy hiểm, máy
tính, các thiết bị điện tử, giấy tờ có giá trị chuyển đổi thành tiền, chứng khoán, tài
liệu đàm phán, hợp đồng, tài liệu kinh doanh, hàng mẫu, hộ chiếu, giấy tờ tùy thân
khác, … để trong hanh ly ky gửi ma không khai bao vận chuyển theo dạng hanh ly
co gia trị cao và thi ệt hại đối với các đồ vật tương tự khác cho dù phía bên cung
cấp dịch vụ có biết hay không biết. Do đó, để bảo đảm quyền lợi của chính mình,
theo quy định tại khoản 5 Điều 585 BLDS năm 2015, hành khách có thể kê khai
giá trị hoặc có thể tự mua thêm bảo hiểm riêng cho hành lý của mình trong trường
hợp giá trị thực tế hoặc chi phí thay thế của hành lý ký gửi hoặc hành lý xách tay
vượt quá mức giới hạn trách nhiệm của phía nhà cung cấp dịch vụ.
Ths.LS Lê Văn Sua