Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng – một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRỊNH THỊ THANH THẢO

NGUYÊN TẮC BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số : 8380103

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Định hƣớng ứng dụng
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Văn Tuyết

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi. Các kết quả
nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu
trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy
định. Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn

Trịnh Thị Thanh Thảo


1.2.1. Khái niệm về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng .....................................19
1.2.2. Cơ sở hình thành nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng ..............................20
1.2.3. Lược sử hình thành nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng ..........................25
CHƢƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NGUYÊN TẮC .27
BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG ......................................... 27
2.1. Nguyên tắc bồi thƣờng toàn bộ và kịp thời. ................................................. 29
2.2. Nguyên tắc bồi thƣờng hợp lý. ....................................................................... 34
2.3. Nguyên tắc giảm mức bồi thƣờng. ................................................................. 37
2.4. Nguyên tắc thay đổi mức bồi thƣờng. ........................................................... 40
2.5. Nguyên tắc bồi thƣờng khi bên bị thiệt hại cũng có lỗi. .............................. 44
2.6. Nguyên tắc không phải bồi thƣờng nếu thiệt hại xảy ra do bên bị thiệt hại
không thực hiện các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại
cho chính mình. ...................................................................................................... 47
CHƢƠNG 3:THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
NGUYÊN TẮC BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG ............... 50
3.1. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về nguyên tắc bồi thƣờng thiệt
hại ngoài hợp đồng. ................................................................................................ 50
3.1.1. Áp dụng nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời. ...............................50


3.1.2. Áp dụng nguyên tắc giảm mức bồi thường ..............................................54
3.1.3. Áp dụng nguyên tắc thay đổi mức bồi thường. ........................................56
3.1.4. Áp dụng nguyên tắc bồi thường tương ứng với mức độ lỗi. ....................57
3.1.5. Áp dụng nguyên tắc không phải bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do bên bị
thiệt hại không thực hiện các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế
thiệt hại cho chính mình. ...................................................................................63
3.2. Những bất cập, khó khăn trong áp dụng nguyên tắc bồi thƣờng thiệt hại
ngoài hợp đồng và hƣớng hoàn thiện. .................................................................. 64
3.2.1. Những bất cập, khó khăn trong áp dụng nguyên tắc bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng ..................................................................................................64

ngoài hợp đồng, Nghị định số 49-CP ngày 9 tháng 4 năm 1968 quy định về trách
nhiệm vật chất, BLDS 2005 và hiện nay BLDS 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2017
đã có những điểm đổi mới, tiến bộ hơn nhiều so với những quy định trước đây.
Hiện nay, BLDS năm 2015 quy định về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
tại chương XX từ Điều 584 đến Điều 608, gồm có 3 mục. Mục 1: Những quy định
chung từ Điều 584 đến Điều 588; Mục 2: Xác định thiệt hại, từ Điều 589 đến Điều
593; Mục 3: Bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể, từ Điều 594 đến
Điều 608. Chế định BTTH ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong BLDS
2015, điều chỉnh các quan hệ về tài sản và nhân thân phát sinh từ trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng do có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về


2

tài sản, sức khỏe, tính mạng và các quyền nhân thân khác. Chế định trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng còn điều chỉnh các quan hệ tài sản phát sinh từ những sự
kiện pháp lý do tài sản gây thiệt hại cho người khác.
Trách nhiệm BTTH không chỉ nhằm bảo đảm việc đền bù tổn thất đã gây ra
mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ
nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Hậu quả của việc áp
dụng trách nhiệm này luôn mang đến những bất lợi về tài sản của người gây ra thiệt
hại để bù đắp những thiệt hại mà họ đã gây ra cho các chủ thể khác, đặc biệt đối với
các hành vi phạm tội với động cơ vụ lợi. Vì vậy, trong pháp luật dân sự không thể
coi trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là việc áp dụng một biện pháp hnh sự hay
hnh phạt phụ.
Đối với chế định BTTH ngoài hợp đồng, nguyên tắc BTTH được coi là kim
chỉ nam, là xương sống để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng giải quyết các vụ
việc tranh chấp trên thực tế. Bởi lẽ, khi xác định mức bồi thường, xác định thiệt hại
thực tế, xác định mức độ lỗi của các bên trong tranh chấp mỗi một cơ quan tiến
hành tố tụng lại có sự áp dụng giải quyết không giống nhau. Do đó, vai trò của

(2011), Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng từ quy định của pháp luật đến thực tiễn,
Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- TS. Trần Thị Huệ (chủ biên), Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo
pháp luật Việt Nam, Nxb Chính trị - Hành chính Hà Nội 2013.
- Nguyễn Văn Chương, Chu Thị Hoa (2005), Bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (số 4/2005).
- Nguyễn Văn Hợi (2017), Luận án tiến sĩ Luật học, “Trách nhiệm BTTH
do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam”, Trường đại học Luật Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu khoa học nói trên đã phân tích những vấn đề
chung về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng như các căn cứ phát sinh trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng, cách xác định thiệt hại đối với tài sản gây ra, thiệt hại đối
với sức khỏe, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm… Đề tài bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng là đề tài có tính thực tiễn cao. Trên thực tế, người dân chưa hiểu rõ
quy định của pháp luật về vấn đề này, đặc biệt là nguyên tắc bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng nên phát sinh nhiều sự việc đáng tiếc xảy ra. Hơn nữa, đối với thiệt
hại về sức khỏe, tính mạng, tinh thần thì việc xác định mức bồi thường toàn bộ thiệt
hại xảy ra cũng bắt gặp nhiều sự không tương đồng khi xét xử thực tế. Về nguyên
tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được quy định rõ trong điều luật nhưng
đến khi áp dụng trên thực tế, vào mỗi vụ việc với tình tiết khác nhau, cơ quan tiến
hành tố tụng các địa phương khác nhau lại có cách hiểu và áp dụng khác nhau. Việc
xác định mức độ lỗi của từng người hay mức độ thiệt hại do lỗi của từng người gây
ra để xác định mức bồi thường cũng gặp không ít khó khăn. Đến nay, chưa có một
đề tài nào đi sâu phân tích về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng và thực tiễn áp
dụng trên thực tế. Trải qua một khoảng thời gian tuy không dài khi áp dụng nguyên


4

tắc BTTH ngoài hợp đồng theo BLDS 2015 nhưng cũng bộc lộ những mặt hạn chế
nhất định.



5

- Đưa ra những định hướng cơ bản góp phần hoàn thiện quy định của pháp
luật về nội dung nghiên cứu căn cứ trên những điểm hạn chế đã được đưa ra trong
luận văn.
4. Những điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học có tính hệ thống những vấn đề
liên quan đến nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng. BLDS 2015 ra đời đã có những
điểm mới đáng kể về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng. Từ đó, vẫn chưa có công
trình nghiên cứu khoa học đi sâu phân tích đến quy định này. Những điểm mới
được thể hiện trong luận văn so với những công trình nghiên cứu khác đã từng đề
cập đến vấn đề này bao gồm:
- Khái quát về lịch sử hình thành nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng trong
hệ thống pháp luật Việt Nam;
- Đưa ra căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng;
- Phân tích một cách hệ thống những quy định của pháp luật hiện hành về
nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng;
- Đưa ra những đánh giá, nhận xét về những điểm mới của BLDS 2015
trong quy định về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng theo so với BLDS 2005;
- Phân tích, bình luận những bản án, vụ việc cụ thể trên thực tế tương ứng
với từng nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng, đồng thời đánh giá những ưu điểm, hạn
chế và đưa ra một số định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về nguyên tắc
BTTH ngoài hợp đồng.
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu.
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp nghiên cứu khoa
học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, hệ thống
quan điểm, lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa.


CHƢƠNG I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ NGUYÊN TẮC BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG
1.1.

Một số vấn đề chung về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài

hợp đồng.
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
Khi nói đến trách nhiệm bồi thường là đề cập đến một tình thế buộc một
người phải thực hiện một hành vi hoặc có trách chiệm gánh chịu những bất lợi về
tài sản hoặc về nhân thân của người mang trách nhiệm đó. Trong một xã hội nhất
định, với bất kỳ một quan hệ xã hội nào thì bên canh các quyền xác định được đều
gắn với trách nhiệm của các bên chủ thể tham gia quan hệ đó. Tuy nhiên, theo tính
chất của từng loại trách nhiệm thì trách nhiệm được phân ra theo đối tượng điều
chỉnh của từng ngành luật khác nhau hoặc tính chất của từng loại quan hệ tài sản
khác nhau để xác định. Tương ứng với các đối tượng điều chỉnh của mỗi một ngành
luật thì trách nhiệm pháp lý cũng được nhà nước quy định trong một phạm vi và có
những đặc điểm khác nhau như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách
nhiệm dân sự.
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là chế định bắt nguồn từ một chế định
chung nhất đó là trách nhiệm dân sự. Vì vậy để hiểu rõ nội hàm khái niệm trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng thì trước tiên phải tìm hiểu khái niệm trách nhiệm dân
sự là gì? Quan hệ giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng?
Trách nhiệm dân sự là căn cứ phát sinh một quan hệ nghĩa vụ của chủ thể
xác định được. Chủ thể của quan hệ trách nhiệm dân sự có thể là cá nhân, người
đại diện của pháp nhân, các tổ chức không có tư cách pháp nhân có hành vi trái
pháp luật gây thiệt hại hoặc có những hành vi vi phạm những cam kết trong hợp

sinh khi có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại. Thực tế cho thấy, học thuyết
này chỉ phù hợp với trường hợp BTTH do hành vi của con người gây ra. Do đó, đối
với trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra thì khi áp dụng quy định này sẽ bộc lộ
nhiều điểm hạn chế. Bên cạnh đó, trong trường hợp sự kiện gây thiệt hại xảy ra
nhưng người bị thiệt hại không thể chứng minh được lỗi của người gây thiệt hại
hoặc thiệt hại xảy ra mà không một chủ thể nào có lỗi. Do đó, “nếu buộc nạn nhân
phải dẫn chứng lỗi, tức là gián tiếp bác bỏ quyền đòi bồi thường của nạn nhân” [15;
tr.16]. BLDS 2015 ra đời với những sự thay đổi đáng kể về quy định BTTH ngoài
hợp đồng, cũng xuất phát từ sự thay đổi về quan điểm lập pháp. Theo quy định tại
Điều 584 BLDS 2015, trách nhiệm BTTH do hành vi hay do tài sản gây ra đều
không phụ thuộc vào điều kiện lỗi, tức là người bị thiệt hại chỉ cần chứng minh có
thiệt hại xảy ra, có nguyên nhân gây thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả là đã có
thể yêu cầu người gây thiệt hại hoặc người có liên quan phải BTTH.
Theo quan điểm của những người theo học thuyết trách nhiệm khách quan
(lý thuyết rủi ro), trách nhiệm BTTH phát sinh không phụ thuộc vào yếu tố lỗi của


9

bất cứ chủ thể nào. Theo đó, chỉ cần có thiệt hại xảy ra, có hành vi hoặc hoạt động
của tài sản gây ra thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả thì người bị thiệt hại đã có
thể yêu cầu BTTH mà không cần chứng minh lỗi của người phải bồi thường. Do đó,
học thuyết này gắn liền với trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra. Những người ủng
hộ cho học thuyết này thường đưa ra nhiều lý do để bảo vệ, và một trong những lý
do có tính thuyết phục nhất đó là “lý do công bằng xã hội” [12; tr.243]. Đây không
phải là học thuyết mới xuất hiện trong pháp luật dân sự hiện đại, mà nó xuất hiện từ
thời La Mã cổ đại. Trong thời kỳ La Mã cổ đại, “khi một sự tổn hại đã do một súc
vật hay một người nô lệ gây ra, người chủ phải chịu trách nhiệm” [11; tr.560]. Cho
đến ngày nay, học thuyết này vẫn tồn tại và được nhiều luật gia, học giả, nhà nghiên
cứu thừa nhận [16; tr.16]. Khi nghiên cứu về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra,

Từ trước khi BLDS 2015 ra đời, trong khoa học pháp lý dân sự, khi nói đến
trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng nhất cho
rằng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật
(hành vi gây thiệt hại). Đây không chỉ là quan điểm của các học giả nghiên cứu các
vấn đề mang tính lý luận về BTTH ngoài hợp đồng, mà đó cũng là quan điểm của
các học giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng.
Những quan điểm nêu trên đều phù hợp với quan điểm lập pháp của Việt Nam trong
thời điểm đó.
Có quan điểm cho rằng: “Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là trách
nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản,
sức khỏe, tính mạng, các quyền nhân thân…”[14; tr8];
Ý kiến khác lại nhận định rằng: “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là quy
định của luật dân sự nhằm buộc người có hành vi xâm phạm đến tài sản, sức khỏe,
tính mạng,… của các chủ thể khác mà gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại
mà mình gây ra”[15; tr.389]
Điều 604 BLDS 2005 quy định: “Người nào có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm
đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của cá nhân, xâm phạm đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc
các chủ thể khác mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường”.
Các khái niệm về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nêu trên đều được xây
dựng trên căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được quy định tại
Điều 604 BDLS 2005, trong đó nguyên nhân gây ra thiệt hại được xác định là hành
vi xâm phạm các đối tượng được pháp luật bảo vệ. Trước thời điểm BLDS 2015 có
hiệu lực, các khái niệm được đưa ra hoàn toàn phù hợp với quan điểm lập pháp của
Việt Nam. Tuy nhiên, BLDS 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2017, đã có sự thay đổi
cơ bản về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, không chỉ được xây dựng trên cơ sở
hành vi gây thiệt hại mà còn phải dựa vào cả trường hợp tài sản gây thiệt hại, nhưng
vẫn dựa trên nền tảng của trách nhiệm dân sự nói chung. Theo đó, khái niệm trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có thể được hiểu như sau:
“Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự mà trong đó một

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản
phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo
quy định tại khoản 2 Điều này.”
Về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, BLDS 2015 đã
được sửa đổi và có sự tiến bộ so với BLDS 2005. Cụ thể, khoản 1 Điều 584 quy
định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì
phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định
khác”. Như vậy, trong BLDS 2015, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH là “hành vi


12

xâm phạm của người gây thiệt hại”. Theo quy định trước đây tại Điều 604 BLDS
2005, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có “lỗi
cố ý hoặc vô ý”. Với quy định như vậy, ngoài việc chứng minh người gây thiệt hại
có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh người gây thiệt hại
có lỗi. Yếu tố lỗi được coi là một trong những căn cứ bắt buộc làm phát sinh trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
BLDS 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài
hợp đồng theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại. Thể hiện quan điểm lập pháp
thay đổi tiến bộ hơn so với BLDS 2005. Theo đó, trách nhiệm BTTH phát sinh khi
có các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại là căn cứ đầu tiên và rất quan trọng khi xác định trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng. Nếu không có thiệt hại xảy ra sẽ không phát sinh trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng.
Theo từ điển Bách khoa, “thiệt hại là những hậu quả bất lợi ngoài ý muốn về
tài sản hoặc phi tài sản do một sự kiện hoặc một hành vi nào đó gây ra; những chi
phí phải bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại; những hư hỏng mất mát

b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị
xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương,
buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do
bị hiểu nhầm… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ
phải chịu.
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không
phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm
phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm
và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.
Từ những quy định trên của pháp luật có thể đưa ra nhận xét Thiệt hại được
hiểu là sự giảm bớt những lợi ích vật chất và phi vật chất của một chủ thể xác định
được trên thực tế bằng một khoản tiền cụ thể tương đương.
Từ những quy định trên nhận thấy rằng pháp luật đã mở rộng phạm vi của
thiệt hại. Thiệt hại không những là thiệt hại về vật chất có thể xác định được bằng
một giá trị định lượng cụ thể mà còn bao gồm cả thiệt hại về tinh thần của cá nhân
và tổ chức, pháp nhân. Như vậy, pháp luật đã quan tâm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của cá nhân và cả tổ chức, pháp nhân. Quy định BTTH trong tường hợp tổn
thất tinh thần của pháp nhân còn góp phần nâng cao uy tín, trách nhiệm của tổ chức,
pháp nhân trong hoạt động của mình. Bởi lẽ uy tín của một pháp nhân là giá trị vô
hình và vô cùng lớn, quyết định đến sự thành công của pháp nhân khi hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Hiện nay, BLDS 2015 có hiệu lực đã mở rộng phạm vi áp dụng trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng. BLDS 2005 quy định về các đối tượng bị xâm phạm trong
căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH theo hướng liệt kê. Cụ thể, khoản 1 Điều 604
BLDS 2005 quy định: “Người nào có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức


14


thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Quyền sở hữu của con người được
pháp luật bảo vệ thông qua quy định tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người
có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư
liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế


15

khác…”. Như vậy, hành vi gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, uy tín,
danh dự… của người khác phải được xác định là hành vi trái pháp luật và người đó
phải chịu trách nhiệm dân sự đối với hành vi của mình. Hành vi trái pháp luật là
hành vi của một người được tiến hành gây ra những thiệt hại về vật chất hoặc tinh
thần của cá nhân, tổ chức, Nhà nước… mà những lợi ích đó được pháp luật quy
định bảo vệ.
Trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, trên thực tế thường phát sinh từ
những sự kiện do hành vi cố ý hoặc vô ý của người gây ra thiệt hại. Hành vi gây
thiệt hại phải xác định được là hành vi trái pháp luật, người gây thiệt hại có trách
nhiệm bồi thường.
Một hành vi có thể theo đánh giá của nhiều người dưới góc độ xã hội, đạo
đức thì đã bị lên án nhưng hành vi đấy nếu không được quy định trong luật là không
được thực hiện, cấm thực hiện thì cũng không thể coi là trái pháp luật. Đất nước ta
từ thời kỳ mới giành độc lập, Thông tư 173/UBTP lúc đó đã có quy định về hành vi
trái pháp luật, theo đó, “Hành vi trái pháp luật có thể là một việc phạm pháp về
hình sự, một vi phạm pháp luật về dân sự, một vi phạm đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước, hoặc một vi phạm quy tắc sinh hoạt xã hội”. Quy định trên giải
thích về khái niệm hành vi vi phạm pháp luật bằng cách liệt kê ra tất cả các hành vi
được coi là vi phạm pháp luật.
Trong thời kỳ đổi mới, xây dựng đất nước chủ nghĩa xã hội, Nghị định
03/2006 cũng khái quát lại về định nghĩa này như sau: “Hành vi trái pháp luật là
những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không

khác. Những trường hợp bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì
sẽ không phải bồi thường.
Hai là, hành vi vi phạm pháp luật gồm có hai dạng là hành động và không
hành động. Không hành động trái pháp luật trên thực tế sẽ khó xác định hơn vì
không thể hiện rõ ràng dưới hành động cụ thể và cũng khó để xác định chủ thể vi
phạm pháp luật do không thực hiện hành động mà pháp luật quy định.
Khi xác định điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, yếu tố
hành vi gây thiệt hại trái pháp luật là căn cứ quan trọng xác định trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, xét về hậu quả pháp lư th không phải bao giờ hành vi
gây thiệt hại cũng bị coi là hành vi trái pháp luật. Hành vi gây thiệt hại được xác
định là hành vi trái pháp luật thì người có hành vi đó phải bồi thường, nhưng hành
vi gây thiệt hại được xác định là hành vi không trái pháp luật thì người có hành vi
đó không phải bồi thường. Trong những trường hợp sau đây mặc dù hành vi gây
thiệt hại cho người khác nhưng người gây ra thiệt hại không phải bồi thường cho
hành vi của mình. Đó là:
- Gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng (Điều 594 BLDS 2015);
- Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết, không vượt quá yêu cầu của tình thế
cấp thiết (Điều 595 BLDS 2015);
- Người bị thiệt hại có lỗi cố ý, mong muốn thiệt hại xảy ra đối với mình
Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại


17

Theo quy định tại mục 1.3 mục 1 phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP
quy định: “Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp
luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại
hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại”. Theo quy định tại khoản 1
Điều 584 BLDS 2015, người nào có hành vi xâm phạm sức khỏe, tính mạng, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác, mà


18

ra hoặc thay đổi kết quả theo hướng khác đi thì quan hệ nhân quả vẫn tồn tại khách
quan và không thay đổi được.
Về căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, có thể nói BLDS
2015 đã có những tiến bộ đáng kể, thay đổi phần nào quan điểm lập pháp của Việt
Nam từ thời kỳ đầu cho đến nay.
Theo quy định của BLDS 2005 thì một trong những điều kiện để phát sinh
trách nhiệm BTTH là có lỗi của người gây thiệt hại. Tuy nhiên, điều này sẽ là
không hợp lý với những trường hợp thiệt hại là do tài sản gây ra. Bởi vì, theo lý
luận về Nhà nước và pháp luật thì lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể
đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Vậy thì,
không thể tìm kiếm được yếu tố lỗi trong trường hợp tài sản - một vật vô tri, vô giác
- gây ra thiệt hại đối với người bị thiệt hại. BLDS 2015 đã khắc phục được thiếu sót
này khi bổ sung thêm căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là “tài sản gây thiệt hại”.
Cụ thể, khoản 3 Điều 584 quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải
chịu trách nhiệm BTTH trong trường hợp tài sản gây thiệt hại”. Sự bổ sung của
BLDS 2015 đã thiết thực hơn với đời sống, khắc phục được hạn chế của BLDS
2005 và tạo nên sự thống nhất trong quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật.
Vậy, trong trường hợp nào tài sản gây ra thiệt hại và không liên quan đến hành
vi của con người? Đó là những trường hợp mà tài sản gây ra thiệt hại nhưng lại không
chứng minh được lỗi của bất kỳ chủ thể nào: Không có lỗi cố ý cũng như vô ý.
Những tài sản mà trong quá trình tồn tại hoạt động của chúng, có khả năng gây thiệt
hại bất cứ lúc nào cho những người xung quanh, nguy cơ, tiềm tàng gây thiệt hại đó
vượt khỏi sự kiểm soát của con người, tức là tự thân các tài sản này gây ra thiệt hại
cho người khác mà không phải do lỗi của người quản lý, sử dụng.
BLDS 2015 đã quy định phạm vi điều chỉnh trong trường hợp đối tượng tài
sản gây ra thiệt hại. Các quy định của BLDS 2015 đã khái quát các trường hợp khi
đối tượng gây ra thiệt hại là tài sản. Các trường hợp tài sản gây ra thiệt hại được điều

chỉ là những quy phạm khi điều tiết mà còn là phương châm chỉ đạo khi áp dụng
pháp luật, đặc biệt là áp dụng tương tự pháp luật. Các nguyên tắc của Luật dân sự
được ghi nhận tại Chương I – Phần thứ nhất của BLDS 2015: “Các nguyên tắc cơ
bản của luật dân sự”. Bắt nguồn từ tư tưởng chỉ đạo của Hiến pháp 2013, “Ở nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo
đảm theo Hiến pháp và pháp luật.” Bất cứ một chế định nào ra đời hay nói chung là
Pháp luật của bất kì quốc gia nào cũng hướng đến mục tiêu cao nhất là bảo vệ
quyền con người, công bằng xã hội. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, quan
hệ dân sự có thể nói là quan hệ rộng nhất, gắn với thực tiễn cuộc sống, ðiều chỉnh
trực tiếp quyền và nghĩa vụ của công dân. Pháp luật Việt Nam cũng không nằm
ngoài quy luật ðó. Hiến pháp là ðạo luật cao nhất, ghi nhận rất rõ nội dung về bảo
vệ quyền con người, quyền công dân, đảm bảo công bằng xã hội. Bởi mục đích cuối
cùng của pháp luật cũng là để đảm bảo quyền con người, bảo vệ tốt nhất quyền và
lợi ích hợp pháp của họ.


20

Đối với từng chế định của luật dân sự, lại tồn tại những nguyên tắc riêng dựa
trên nền tảng, trên tinh thần của nguyên tắc cơ bản luật dân sự đồng thời phù hợp
với tính chất riêng của các chế định đó.
Chế định BTTH ngoài hợp đồng cũng quy định nguyên tắc riêng, đó là
nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc
chung của luật dân sự, đồng thời cụ thể hóa đối với chế định BTTH ngoài hợp đồng.
Xuất phát từ đặc điểm các quan hệ tài sản mà luật dân sự điều chỉnh cũng
như địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự, những điều kiện
khách quan cũng như chủ quan của người bị thiệt hại, người gây thiệt hại, tính khả
thi của quyết định bồi thường…, BLDS đã quy đinh nguyên tắc BTTH ngoài hợp
đồng tại Điều 585 BLDS 2015.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status