LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của khóa luận
Một đất nước phát triển về kinh tế bên cạnh những kết quả đạt được thì còn thể
hiện ở sự đa dạng của các loại ngành nghề. Bước vào thế kỷ XXI, Việt Nam từ một
nước lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề đã dần hồi phục, kinh tế ngày càng có
những bước phát triển mạnh mẽ, bước đầu thực hiện có hiệu quả công cuộc hội nhập
với thế giới. Điều đó thể hiện ở việc tốc độ tăng trưởng kinh tế không ngừng được cải
thiện, mức sống của người dân được nâng cao trong đó phải kể đến sự đa dạng của các
loại ngành nghề góp phần không nhỏ vào việc giải quyết các nhu cầu của xã hội, góp
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Sự đa dạng của các loại ngành nghề phản ánh trong nhiều lĩnh vực từ thương
mại, dịch vụ đến công - nông nghiệp bên cạnh đó phải kể đến sự thay đổi theo từng
giai đoạn của các loại ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT. Đây là những
ngành nghề có các đặc điểm phức tạp về ANTT, thường bị các đối tượng tội phạm lợi
dụng hoạt động. Xuất phát từ yêu cầu quản lý xã hội và nhiệm vụ bảo vệ ANTT theo
từng giai đoạn, căn cứ vào các quy định của pháp luật, lực lượng Cảnh sát QLHC về
TTXH tiến hành công tác quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT theo
chức năng.
Hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ là một trong số những ngành nghề kinh
doanh có điều kiện về ANTT thường bị các loại đối tượng lợi dụng để hoạt động phạm
tội như lợi dụng các hình thức kinh doanh, lợi dụng các loại phương tiện được trang bị,
các điều kiện về địa điểm…
Tỉnh Bình Dương là một trong những tỉnh thành nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam với diện tích tự nhiên là 2.694.43 km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích
cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ), dân số 1.748.001 người, mật độ
dân số 649 người/km2 (theo Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương, tháng 6 năm 2013)
gồm: 1 thành phố, 4 thị xã và 4 huyện (với 41 phường, 2 thị trấn và 48 xã). Trên địa
bàn có nhiều khu công nghiệp: khoảng 28 khu công nghiệp đang hoạt động, trong
đó nhiều khu công nghiệp đã cho thuê gần hết diện tích như Sóng Thần I, Sóng
Thần II, Đồng An, Nam Tân Uyên, Tân Đông Hiệp A, Việt Hương, VSIP - Việt
Nam Singapore, Mỹ Phước 1, 2, 3, 4, 5…Với những đặc điểm trên, xu ất phát từ
cũng như đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động
kinh doanh dịch vụ bảo vệ theo chức năng của lực lượng Cảnh sát Quản lý hành chính
về TTXH trên địa bàn tỉnh Bình Dương là hết sức cần thiết. Đó cũng là lý do tôi chọn
đề tài: “Công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ theo chức năng
của lực lượng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh
Bình Dương - Thực trạng và giải pháp” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
2
Trước tình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ có những diễn biến phức
tạp xảy ra trên phạm vi cả nước nói chung và tại tỉnh Bình Dương nói riêng đã có đề
tài nghiên cứu khoa học về chủ đề này, cụ thể như:
- Nguyễn Văn Hải: “Tình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ trên
địa bàn các tỉnh thành khu vực miền Đông Nam Bộ”. Đề tài cơ sở, năm 2012.
Nhìn chung, đề tài này đã làm rõ được lý luận về hoạt động kinh doanh dịch vụ
bảo vệ. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện về
công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ của lực lượng Cảnh sát QLHC
về TTXH trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo
vệ trên địa bàn tỉnh Bình Dương và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu
quả công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ trên địa bàn tỉnh Bình
Dương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, hệ thống những vấn đề lý luận về công tác quản lý hoạt động
kinh doanh dịch vụ bảo vệ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn khóa luận
6.1. Ý nghĩa lý luận
Khóa luận đã đưa ra những lý luận về công tác quản lý hoạt động kinh doanh
dịch vụ bảo vệ trên địa bàn tỉnh Bình Dương, rút ra những ưu điểm, tồn tại hạn chế và
các nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ
trên địa bàn tỉnh Bình Dương của lực lượng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã
hội, từ đó đưa ra những dự báo khoa học, một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu khóa luận khi được áp dụng trong thực tiễn sẽ góp phần
nâng cao chất lượng, hiệu quả về công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo
vệ.
- Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
hoạt động nghiên cứu, học tập tại trường Đại học Cảnh sát nhân dân.
7. Cấu trúc nội dung khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Nhận thức lý luận về công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ
bảo vệ theo chức năng của lực lượng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo
vệ theo chức năng của lực lượng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội trên
địa bàn tỉnh Bình Dương
Chương 3: Dự báo và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động
kinh doanh dịch vụ bảo vệ theo chức năng của lực lượng Cảnh sát Cảnh sát Quản lý
hành chính về trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Dương
4
Chương 1
NHẬN THỨC LÝ LUẬN VỀ CƠNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH
Trải qua q trình phát triển cho đến nay, DVBV chủ yếu kinh doanh các loại
hình sau:
- Bảo vệ cơ sở vật chất, tài sản mục tiêu cố định:
5
Nhân viên bảo vệ được trang bị đồng phục, công cụ hỗ trợ bảo vệ con người, tài
sản và duy trì ANTT tại mục tiêu cố định gồm: cao ốc, văn phòng, ngân hàng, trường
học, bệnh viện, khu căn hộ, nhà riêng, siêu thị khu thương mại phức hợp, trung tâm
triển lãm, câu lạc bộ, sân vận động, khu chế xuất, khu công nghiệp, nhà máy, xí
nghiệp, kho bãi, trung tâm phân phối, xưởng sản xuất, các công trình xây dựng...
- Bảo vệ các sự kiện:
Nhân viên bảo vệ được trang bị đồng phục, công cụ hỗ trợ bảo vệ con người, tài
sản và duy trì ANTT các sự kiện văn hóa, triển lãm, các hội nghị, các chương trình ca
nhạc, vui chơi giải trí…
- Bảo vệ yếu nhân:
Bảo vệ các doanh nhân trong và ngoài nước, các chính khách, ca sĩ, diễn viên
và các cá nhân khác khi có nhu cầu. Nhân viên bảo vệ (hay còn gọi là vệ sĩ) sẽ có
nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn kịp thời những hành vi gây rối, ảnh hưởng xấu đến
người cần bảo vệ; giám sát các hoạt động quay phim, chụp hình và những người ra vào
gặp gỡ nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối về người và tài sản cho người được bảo vệ.
- Bảo vệ vận chuyển áp tải:
Dịch vụ áp tải vận chuyển tài sản quý hiếm, tiền vàng và trang sức có giá trị cao
bằng phương tiện vận chuyển…
1.1.1.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ.
Thứ nhất, hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ gắn liền với sự phát triển
kinh tế của từng địa phương nói riêng và của xã hội nói chung, gắn liền với nhu
cầu, lợi ích của mỗi cá nhân và có liên quan chặt chẽ đến tình hình ANTT.
Hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển
kinh tế ở từng địa phương. Sự phát triển kinh tế là động lực thúc đẩy hoạt động kinh
lượng bảo vệ đã phát hiện, ngăn chặn được nhiều trường hợp người có hành vi vi
phạm như trộm cắp, cướp tài sản, bắt cóc…Ngoài ra, còn phát huy vai trò trong
công tác phòng cháy chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn. Nhiều trường hợp nhân viên bảo
vệ đã bắt giao cho cơ quan Công an một số đối tượng phạm tội quả tang như trộm
cắp, cướp giật tài sản.
Thứ hai, kinh doanh dịch vụ bảo vệ là một trong những ngành nghề kinh doanh có
điều kiện về ANTT, có các điều kiện, phương tiện thích hợp để các đối tượng xấu, bọn tội
phạm lợi dụng thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.
Hiện nay, các công ty dịch vụ bảo vệ ngày càng phát triển, số lượng các công ty
thành lập mới không ngừng gia tăng gây ra những khó khăn nhất định cho công tác
quản lý. Một số lượng không nhỏ các cá nhân, tổ chức đã lợi dụng những sơ hở, thiếu
sót về quy định thành lập để lợi dụng hoạt động, lợi dụng điều kiện của hoạt động kinh
doanh dịch vụ bảo vệ để cấu kết với các tổ chức, doanh nghiệp nhằm hoạt động phạm
pháp.
Việc tuyển chọn nhân viên không đảm bảo cũng đã tạo ra những bất cập nhất
định mà chủ yếu là về trình độ, khả năng cũng như không siết chặt trong khâu tuyển
chọn dẫn đến việc lựa chọn những phần tử xấu có quá khứ phạm pháp vào làm việc,
tạo cơ hội để các đối tượng này lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội.
Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật thì để phục vụ yêu cầu công việc, quá
trình hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ được trang bị các công cụ hỗ trợ cần thiết
7
như: gậy cao su, roi điện, gậy sắt, roi cao su nên thường bị các đối tượng phạm tội
hoặc chính những nhân viên của các ngành nghề kinh doanh dịch vụ bảo vệ lợi dụng
để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.
Ngồi ra, do đặc điểm của nghề kinh doanh dịch vụ bảo vệ là cung cấp các
dịch vụ bảo vệ tài sản, tính mạng và các hoạt động khác nên có điều kiện tiếp cận
nơi cất giữ các loại tài sản, tiếp xúc trực tiếp với các cá nhân có nhu cầu bảo vệ nên
dễ nảy sinh các hành vi xấu như trộm cắp tài sản, bắt cóc tống tiền, cướp, hiếp
- Quy định về điều kiện thành lập, đăng ký kinh doanh dịch vụ bảo vệ:
+ Đối với tổ chức, cá nhân trong nước:
Mức vốn pháp định đối với ngành nghề kinh doanh dịch vụ bảo vệ là
2.000.000.000 đồng.
Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ phải duy trì mức vốn điều lệ không
thấp hơn mức vốn pháp định nêu trên trong suốt quá trình hoạt động.
+ Đối với doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với các doanh nghiệp trong nước:
Doanh nghiệp nước ngoài phải là doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ bảo
vệ, có số vốn và tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp từ 500.000 USD trở lên; đã có
thời gian hoạt động kinh doanh liên tục từ năm năm trở lên; có giấy chứng nhận của cơ
quan có thẩm quyền của nước sở tại chứng nhận doanh nghiệp và người đại diện cho
phần vốn góp của doanh nghiệp trong liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam chưa có
hành vi vi phạm pháp luật nước sở tại hoặc pháp luật của nước có liên quan.
- Quy định về địa điểm đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ bảo vệ
+ Địa điểm đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ bảo vệ phải ổn định ít nhất từ một năm trở lên; nếu là nhà thuộc sở hữu người
đứng tên đăng ký kinh doanh thì trong hồ sơ đăng ký kinh doanh phải có giấy tờ hợp
lệ, nếu là nhà thuê thì phải có hợp đồng thuê nhà có thời hạn thuê từ một năm trở lên.
+ Trường hợp chuyển địa điểm đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện của
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ thì người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại
diện phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan Công an cấp tỉnh nơi đi và nơi đến
chậm nhất là mười lăm ngày trước khi thực hiện việc di chuyển địa điểm.
- Quy định về điều kiện, tiêu chuẩn đối với người đứng đầu doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ bảo vệ:
+ Người đứng đầu doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và những
người trong Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị; Tổng giám đốc, Phó tổng giám
đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc và các sáng lập viên tham gia thành lập doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ bảo vệ phải có đầy đủ các điều kiện sau đây:
Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có đạo đức tốt, lý lịch rõ ràng và không
có giấy giới thiệu của doanh nghiệp và xuất trình giấy Chứng minh nhân dân.
Sau khi mua công cụ hỗ trợ, doanh nghiệp phải đến cơ quan Công an đã cấp
Giấy phép mua công cụ hỗ trợ để được cấp Giấy phép sử dụng công cụ hỗ trợ; khi đến
liên hệ xin cấp Giấy phép sử dụng công cụ hỗ trợ phải nộp bản photocopy Giấy phép
mua công cụ hỗ trợ và xuất trình bản chính, nộp bản photocopy hóa đơn mua công cụ
hỗ trợ.
Công cụ hỗ trợ phải được quản lý tập trung tại doanh nghiệp và chỉ được trang
bị cho nhân viên bảo vệ khi đi làm nhiệm vụ. Sau khi làm nhiệm vụ xong, phải giao lại
10
cho bộ phận quản lý tại doanh nghiệp. Nghiêm cấm trang bị, sử dụng công cụ hỗ trợ
ngoài mục đích thực hiện nhiệm vụ bảo vệ theo hợp đồng do Giám đốc doanh nghiệp
giao;
Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ có trách nhiệm quản lý chặt chẽ công
cụ hỗ trợ và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc trang bị, quản lý, sử dụng
công cụ hỗ trợ của doanh nghiệp mình.
Trường hợp vi phạm nghiêm trọng các quy định về quản lý, trang bị, sử dụng
công cụ hỗ trợ hoặc nhân viên bảo về của doanh nghiệp sử dụng công cụ hỗ trợ để
thực hiện các hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác thì ngoài
việc bị xử lý theo quy định của pháp luật, tùy theo tích chất, mức độ vi phạm, doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ còn bị thu hồi Giấy phép sử dụng công cụ hỗ trợ 3
tháng, 6 tháng hoặc không thời hạn. Việc thu hồi Giấy phép sử dụng công cụ hỗ trợ do
cơ quan Công an có thẩm quyền cấp Giấy phép đó hoặc cơ quan Công an cấp trên ra
quyết định.
- Trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ:
+ Tổ chức thực hiện và hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra nhân viên bảo vệ chấp
hành đúng các quy định của Nghị định số 52/2008/NĐ-CP, hướng dẫn tại Thông tư
45/2009/TT-BCA và các quy định của pháp luật khác có liên quan trong suốt quá trình
hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ.
lượng Cảnh sát QLHC về TTXH là quá trình lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH căn
cứ vào các quy định của pháp luật tiến hành quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ trên
nhiều mặt từ việc tiếp nhận, thẩm tra xem xét cấp GXNĐĐK về ANTT đến quá trình
kiểm tra, xử lý vi phạm nhằm đảm bảo hoạt động này được diễn ra trên cơ sở pháp
luật, phòng ngừa và đấu tranh chống các loại tội phạm góp phần giữ gìn TTATXH.
Trước sự phát triển không ngừng của hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ, để
thống nhất quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm
an ninh, trật tự an toàn xã hội, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 14/2001/NĐ-CP
về quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ. Nghị định này bước đầu đã phát huy
vai trò nhất định trong việc quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ, đưa hoạt
động dịch vụ bảo vệ vào diện các ngành nghề kinh doanh có điều kiện phức tạp về
ANTT cần tiến hành quản lý chặt chẽ. Tuy nhiên trước sự thay đổi về kinh tế xã hội
của đất nước cùng với sự phát triển nhanh chóng của ngành nghề kinh doanh dịch vụ
bảo vệ thì đến năm 2008, căn cứ vào Luật Doanh nghiệp năm 2005, Chính Phủ ban
hành Nghị định số 52/2008/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ
thay thế cho Nghị định số 14/2001/NĐ-CP và Bộ Công an ban hành Thông tư
45/2009/TT-BCA hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 52/2008/NĐ-CP về
quản lý kinh doanh dịch vụ bảo vệ thay thế Thông tư 07/2001/TT- BCA.
Nghị định 52/2008/NĐ-CP và Thông tư 45/2009/TT-BCA ra đời đã kịp thời bổ
sung, sửa đổi một số điều đảm bảo hiệu quả công tác quản lý hoạt động kinh doanh
dịch vụ bảo vệ trước tình hình hiện nay mà cụ thể là các quy định về cá nhân được
12
phép kinh doanh dịch vụ bảo vệ cũng như các chương trình đào tạo hành nghề dịch vụ
bảo vệ…Cụ thể như:
Các quy định về điều kiện của cá nhân thành lập, nếu như Nghị định
14/2001/NĐ-CP không quy định cụ thể về trình độ học vấn đối với người đứng đầu
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ thì Nghị định 52/2008/NĐ-CP đã bổ sung:
“có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên thuộc một trong các ngành kinh tế,
phương thức thủ đoạn phức tạp thì việc tăng cường công tác quản lý nói chung và
công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ nói riêng là vô cùng cần thiết
và có vai trò rất quan trọng.
- Qua công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ đã góp phần đảm
bảo các ngành nghề này hoạt động có hiệu quả, phát huy những ưu điểm, các mặt tích
cực.
Hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ là một ngành nghề kinh doanh có điều
kiện về ANTT, đây là một ngành nghề rất phức tạp mà nếu không quản lý chặt chẽ sẽ
gây ra những hậu quả nguy hiểm, khó lường nhất là trong lĩnh vực ANTT.
Công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ được tiến hành căn cứ
trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện nay mà cụ thể là Nghị định 52/2008/NĐ-CP
ngày 22/4/2008 về quản lý kinh doanh dịch vụ bảo vệ, Thông tư 45/2009/TTT-BCA
ngày 14/7/2009, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và một số văn bản pháp luật khác.
Thông qua những cơ sở pháp lý này, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH tiến hành
quản lý qua nhiều mặt từ những bước đầu tiên như thành lập, cấp GXNĐĐK về ANTT
đến quá trình hoạt động, kiểm tra xử lý vi phạm…
Qua các hoạt động quản lý đó, đảm bảo hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ
được tiến hành đúng quy định, kinh doanh đúng chức năng đã đăng ký, kịp thời phát
hiện biểu hiện nghi vấn, hành vi vi phạm để có biện pháp phòng ngừa, đấu tranh kịp
thời.
Để đạt được hiệu quả cao hơn, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH cần không
ngừng nâng cao kiến thức pháp luật, những quy định về công tác quản lý ngành nghề
kinh doanh có điều kiện về ANTT. Bên cạnh đó, trong quá trình tiến hành quản lý cần
tiến hành khách quan, thận trọng, tránh các biểu hiện tiêu cực nhằm đảm bảo thực hiện
đúng quy định của pháp luật.
- Thông qua công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ đã góp
phần không nhỏ vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn ANTT tại địa
bàn.
Các loại tội phạm và các đối tượng xấu thường sử dụng mọi thủ đoạn,
phương thức cũng như lợi dụng những điều kiện của một số ngành nghề để thông
động kinh doanh dịch vụ bảo vệ phải đảm bảo các điều kiện nhất định về con người,
cụ thể như các quy định về người đứng đầu, nhân viên bảo vệ phải đảm bảo những yêu
cầu về lý lịch, sức khỏe, trình độ học vấn…
Quá trình quản lý về con người cần nắm vững lai lịch bản thân, trình độ chuyên
môn; vai trò của họ trong quá trình hoạt động kinh doanh; thái độ trong việc chấp hành
chính sách, pháp luật, tình hình vi phạm của họ; tình hình chấp hành kỷ luật trong quá
trình lao động qua các thời kỳ.
- Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ
Trong quá trình quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ, lực lượng có
15
thẩm quyền mà cụ thể là lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH cần chú ý đảm bảo các
nội dung sau:
Nắm chắc được tổng số doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện kinh
doanh dịch vụ bảo vệ và các doanh nghiệp không có trụ sở nhưng có mục tiêu bảo vệ
trong phạm vi thẩm quyền quản lý;
Phân loại cụ thể những doanh nghiệp có đăng ký hoặc không có đăng ký kinh
doanh, có hoặc không có GXNĐĐK về ANTT để có biện pháp quản lý và xử lý phù
hợp;
Nắm vững hình thức hoạt động, địa bàn hoạt động của doanh nghiệp, tình hình
sử dụng phương tiện trong hoạt động kinh doanh.
- Quản lý phương tiện trong hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ
Nắm tình hình số lượng, chất lượng các phương tiện phục vụ hoạt động kinh
doanh như: con dấu, công cụ hỗ trợ…;
Những thay đổi về quy mô, phương thức hoạt động kinh doanh;
Tình hình vi phạm trong công tác bảo quản, sử dụng, quản lý sổ sách, giấy tờ có
liên quan đến hoạt động kinh doanh.
1.2.3. Phương pháp tiến hành quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ
theo chức năng của lực lượng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội
hoặc bị cấm hành nghề kinh doanh dịch vụ bảo vệ; bản sao (có công chứng, chứng
thực hợp lệ) các tài liệu; bằng tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng theo quy định; quyết
định nghỉ hưu, xuất ngũ hoặc quyết định nghỉ việc (nếu có) và phiếu lý lịch tư pháp
của những người lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nêu tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số
52/2008/NĐ-CP.
+ Những người được doanh nghiệp cử đến liên hệ phải xuất trình Giấy chứng
minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn giá trị sử dụng; trường hợp là người nước ngoài thì
phải xuất trình hộ chiếu còn giá trị sử dụng hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu và nộp
bản photocopy Thẻ tạm trú hoặc Thẻ thường trú.
- Đối với Chi nhánh, văn phòng đại diện:
+ Bản khai lý lịch (có dán ảnh và xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư
trú), trong đó phải ghi rõ tình trạng tiền án, tiền sự; có hay không đã bị áp dụng các
biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính hoặc
đang trong giai đoạn bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hình sự, đang phải chấp hành
hình phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, bị phạt tù được hưởng án treo
hoặc bị cấm hành nghề kinh doanh dịch vụ bảo vệ của người đứng đầu chi nhánh, văn
phòng đại diện;
+ Xuất trình bản chính, nộp bản photocopy Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động,
GXNĐĐK về an ninh, trật tự và công văn đề nghị của doanh nghiệp.
+ Người đứng đầu doanh nghiệp cử đến liên hệ phải xuất trình Chứng minh
nhân dân hoặc hộ chiếu còn giá trị sử dụng.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan
Công an tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm xem xét, giải quyết cấp GXNĐĐK về ANTT
cho doanh nghiệp; trường hợp không đủ điều kiện để cấp GXNĐĐK về ANTT thì phải
trả lời bằng văn bản cho doanh nghiệp biết rõ lý do.
17
Lệ phí cấp GXNĐĐK về ANTT được thực hiện theo quy định của Bộ Tài
chính.
động tại trụ sở đăng ký trong thời hạn sáu tháng liên tục, kể từ ngày được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc chứng nhận thay đổi trụ sở chính; không báo cáo
về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh trong
mười hai tháng liên tục; ngừng hoạt động kinh doanh một năm liên tục mà không
18
thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh; doanh nghiệp không gửi báo cáo theo quy
định đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày có yêu cầu
bằng văn bản; kinh doanh ngành, nghề bị cấm.
+ Vi phạm quy định tại Điều 4 Nghị định 52/2008/NĐ-CP về tổ chức, cá nhân
không được thành lập, quản lý doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ và trực tiếp
thực hiện các hoạt động dịch vụ bảo vệ; các điều khoản quy định tại khoản 1, khoản 2
Điều 22 Nghị định 52/2008/NĐ-CP về việc áp dụng pháp luật đối với các doanh
nghiệp đã thành lập, đăng ký kinh doanh từ trước ngày Nghị định 52/2008/NĐ-CP có
hiệu lực.
- Bị thu hồi GXNĐĐK về ANTT khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
+ Vi phạm quy định tại Điều 4 Nghị định 52/2008/NĐ-CP về tổ chức, cá nhân
không được thành lập, quản lý doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ và trực tiếp
thực hiện các hoạt động dịch vụ bảo vệ; các điều khoản quy định tại khoản 1, khoản 2
Điều 22 Nghị định 52/2008/NĐ-CP về việc áp dụng pháp luật đối với các doanh
nghiệp đã thành lập, đăng ký kinh doanh từ trước ngày Nghị định 52/2008/NĐ-CP có
hiệu lực.
+ Mượn tên người khác để thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo
vệ hoặc thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ để cho người khác kinh
doanh;
+ Tiến hành các hoạt động vũ trang, hoạt động điều tra, thám tử tư dưới mọi
hình thức;
+ Sử dụng nhân viên bảo vệ của doanh nghiệp để thực hiện hoặc thông qua
doanh dịch vụ bảo vệ.
Thông tư 45/2009/TT-BCA ngày 14/7/2009 của Bộ Công an hướng dẫn thi
hành một số điều của Nghị định số 52/2008/NĐ-CP.
Nghị định số 167/2013/NĐ-Cp ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Phòng chống tệ
nạn xã hội; Phòng cháy và chữa cháy; Phòng, chống bạo lực gia đình.
Ngoài ra còn có Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, Luật
Doanh nghiệp năm 2005 và một số văn bản, quy định khác có liên quan tại địa
phương.
+ Phổ biến về hồ sơ, thủ tục và các điều kiện cần có để xin cấp GXNĐĐK về
ANTT.
+ Tuyên truyền về phương thức, thủ đoạn hoạt động của bọn tội phạm và những
hành vi vi phạm pháp luật.
Việc tuyên truyền cho các cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ cần
phải được tiến hành thường xuyên, liên tục có trọng tâm trọng điểm, tác động nhằm
nâng cao nhận thức trong việc chấp hành các quy định của pháp luật, thực hiện đúng
các nghĩa vụ trong quá trình hoạt động, nâng cao nhận thức trong công tác phòng
ngừa, đấu tranh chống các hành vi vi phạm, nắm rõ các phương thức thủ đoạn của các
đối tượng phạm tội từ đó có biện pháp phòng ngừa thích hợp, chủ động thông báo cho
cơ quan chức năng khi thấy các biểu hiện nghi vấn.
Ngoài các đối tượng tuyên truyền là các cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ bảo vệ thì cũng cần thiết phải tiến hành tuyên truyền cho các cán bộ, chiến
sĩ thuộc lực lượng CSND đang công tác tại các đơn vị như: Phòng Cảnh sát QLHC
20
về TTXH, các Phòng Nghiệp vụ, Công an các huyện, thị xã, thành phố, các
phường…
Qua đó góp phần nâng cao ý thức chủ động nắm thông tin của các đối tượng có
liên quan đến hoạt động của các công ty kinh doanh dịch vụ bảo vệ kịp thời cung cấp,
21
quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để kịp thời nắm bắt, có biện pháp
quản lý phù hợp.
1.2.3.6. Xây dựng, sử dụng cơ sở bí mật để theo dõi, giám sát, quản lý hoạt
động kinh doanh dịch vụ bảo vệ
Theo quy định tại Thông tư số 22/2013/TT-BCA ngày 01/4/2013 thì CSBM của
lực lượng Cảnh sát nhân dân là người tự nguyện cộng tác bí mật với lực lượng Cảnh
sát nhân dân, ngoài biên chế ngành Công an, được lực lượng Cảnh sát nhân dân tuyển
chọn, xây dựng và quản lý, sử dụng rộng rãi trong các địa bàn, tuyến, lĩnh vực để phục
vụ yêu cầu, nhiệm vụ phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Xây dựng và sử dụng cơ sở bí mật trong quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ
bảo vệ là công tác có ý nghĩa quan trọng, nhằm nắm chắc tình hình hoạt động của các
doanh nghiệp, hoạt động của tội phạm và các phần tử xấu, kịp thời phát hiện các hành
vi vi phạm từ đó có các biện pháp ngăn chặn, xử lý phù hợp. Việc xây dựng, sử dụng
cơ sở bí mật phục vụ công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ đòi hỏi
phải đảm bảo cả về số lượng và chất lượng dựa trên các đặc điểm tại địa bàn, tình hình
hoạt động của các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý.
Trong quá trình sử dụng phải thường xuyên kiểm tra, phân loại, đánh giá và
thanh loại kịp thời những cơ sở hoạt động không hiệu quả, không còn tác dụng. Quá
trình xây dựng và sử dụng cơ sở bí mật phải được tiến hành trên cơ sở chấp hành
nghiêm các quy định của ngành Công an, hạn chế việc xây dựng tràn lan, không hiệu
quả, mang tính hình thức.
Tóm lại, hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ là một trong những ngành
nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT có những đặc điểm phức tạp, do đó trong
quá trình tiến hành công tác quản lý lực lượng có thẩm quyền cần căn cứ các quy
định của pháp luật và thực tiễn tại từng địa phương để tiến hành quản lý toàn diện,
có trọng tâm trọng điểm, đảm bảo thực hiện có hiệu quả đáp ứng yêu cầu của công