Dư luận xã hội và truyền thông đại chúng với lãnh đạo quản lý ở việt nam hiện nay - Pdf 48

MỤC LỤC

1


PHẦN MỞ ĐẦU
Mối quan hệ giữa dư luận xã hội (DLXH) và truyền thông đại chúng
(TTĐC) với lãnh đạo quản lý là mối quan hệ có tính hai mặt. Dư luận xã hội và
truyền thông đại chúng với lãnh đạo quản lý là một hiện tượng tinh thần đặc biệt
của đời sống xã hội; nhận thức được những yêu cầu khoa học và ý nghĩa quan
trọng của việc nghiên cứu nắm bắt dư luận xã hội và truyền thông đại chúng đối
với công tác lãnh đạo quản lý; nắm vững quan điểm đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước ta và tình hình công tác dư luận xã hội và truyền thông đại
chúng ở Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, em chọn đề tài: “ Dư luận xã hội và
truyền thông đại chúng với lãnh đạo quản lý ở Việt Nam hiện nay” để làm bài
tiểu luận của mình.

2


PHẦN NỘI DUNG
1. Vấn đề đặt ra
Việc sử dụng dư luận xã hội và truyền thông đại chúng để phân tích các vấn
đề trong quản lý lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay đang rất được coi trọng. Trong
khi trong quản lý lãnh đạo nhấn mạnh đến vai trò của lãnh đạo; quản lý ở Việt
Nam hiện nay, việc phân tích dư luận xã hội và truyền thông đại chúng có khả
năng cho thấy các tương tác xã hội trong mối quan hệ giữa các yếu tố đó. Dư
luận xã hội và truyền thông đại chúng có thể tác động rất nhạy bén đến công tác
lãnh đạo quản lý hiện nay.
Nghiên cứu dư luận xã hội và truyền thông đại chúng về công tác lãnh đạo
quản lý xuất phát từ nhu cầu nhận thức khoa học về mối quan hệ giữa các nội

với tính chất như là một công cụ đặc biệt của quá trình lãnh đạo, quản lý đất
nước. Hiện nay, kỹ năng nắm bắt dư luận xã hội và truyền thông đại chúng của
cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các địa phương, đặc biệt là cấp huyện, cấp tỉnh cần
được coi là một tiêu chuẩn cần thiết để đánh giá năng lực lãnh đạo, quản lý.
Thậm chí, việc quan tâm, tiếp cận và nắm bắt dư luận xã hội và truyền thông đại
chúng thực chất là thước đo về mức độ “gần dân, bám sát thực tiễn” của cán bộ.
2. Phân tích một số khái niệm
2.1. Khái niệm “ dư luận xã hội”
Cuộc tranh luận xung quanh khái niệm “dư luận xã hội” đã xuất hiện và
kéo dài từ hơn hai trăm năm nay. Thuật ngữ này được nhà văn, nhà hoạt động
nhà nước người Anh J. Solsbery sử dụng lần đầu tiên vào thế kỷ 12. Tuy nhiên,
Jean-Jacques Pousseau, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháo mới được coi là người
đầu tiên sử dụng nó vào năm 1744 theo nghĩa hiện đại. Sự tranh luận về khái
niệm này diễn ra khá sôi nổi vào thời kỳ mà các cuộc cách mạng tư sản đang
diễn ra, khi những quan điểm và hành động của con người ảnh hưởng sâu sắc
đến tiến trình các cuộc cách mạng tư sản và trở thành nhân tố góp phần quyết
định đến thắng lợi của giai cấp tư sản trẻ tuổi đối với giai cấp phong kiến. Theo
Rútxô, một đại biểu của các nhà khai sáng Pháp, cho rằng dư luận xã hội là sự
đánh giá của xã hội về hoạt động của nghị viện hoặc của chính phủ. Trong tiếng
4


Việt, DLXH còn được gọi theo những cách khác nhau bằng những thuật ngữ
tương đương là công luận, dư luận công chúng, ý kiến công luận, ý kiến quần
chúng. Thuật ngữ này xuất hiện rộng rãi trên một số ngành khoa học như chính
trị học, triết học, xã hội học, tâm lý học xã hội,…nhưng cho đến nay, vẫn
“không có một định nghĩa được chấp nhận chung”.
Do đó, hiểu một cách chung nhất, DLXH là ý kiến còn lại sau quá trình
thảo luận trao đổi trong xã hội. Nói cách khác, nó là kết quả của quá trình thảo
luận xã hội. Nếu dựa vào các cách phân loại chủ thể và khách thể của DLXH, ta

liên kết xã hội. Truyền thông đại chúng được hiểu là một quá trình truyền đạt
thông tin đến các nhóm cộng đồng đông đảo trong xã hội thông qua các phương
tiện truyền thông đại chúng. Các phương tiện truyền thông đại chúng bao gồm
báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình, sách, phim, video, internet.
2.3. Khái niệm quản lý, lãnh đạo
Hai thuật ngữ này thường dùng cho các hệ thống có các con người ở trong,
chúng không đồng nhất về nghĩa. Chúng giống nhau là đều bao hàm nghĩa tác
động và điều khiển nhưng khác nhau về mức độ và phương thức tiến hành.
Lãnh đạo là quá trình định hướng dài hạn cho chuỗi các tác động của chủ
thể quản lý. Còn quản lý là quá trình chủ thể tổ chức liên kết và tác động lên đối
tượng bị quản lý để thực hiện các định hướng tác động dài hạn.
Lãnh đạo là quản lý nhưng mục tiêu rộng hơn, xa hơn, khái quát cụ thể
hơn. Còn quản lý là lãnh đạo trong trường hợp mục tiêu cụ thể hơn, chuẩn xác
hơn. Có lúc người quản lý phải làm người lãnh đạo và ngược lại. Việc lãnh đạo
và quản lý do chủ thể quản lý tiến hành, chủ thể có thể là duy nhất, cũng có thể
là không duy nhất. Tuy nhiên để cho quá trình quản lý có hiệu quả thì lãnh đạo
và quản lý phải thống nhất với nhau.
3. Ví dụ
Theo một số kết quả nghiên cứu của Viện Dư luận xã hội, việc nắm bắt dư
luận xã hội và truyền thông đại chúng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý,
trong đó các cấp hiện đang được thực hiện thông qua các kênh khác nhau.
Chẳng hạn, nắm bắt dư luận xã hội và truyền thông đại chúng thông qua phản
ánh của hệ thống mạng lưới cộng tác viên; qua báo cáo nhanh (thường là báo
6


cáo hằng tuần); thông qua các cuộc họp, tiếp xúc quần chúng, cử tri; qua tiếp
cận bằng sự trải nghiệm của cá nhân, nhất là dùng các phương pháp điều tra xã
hội học,…
Ví dụ cụ thể: 55,2% có hiểu biết ở mức độ bình thường về các yếu tố ảnh

Cán bộ quản lý các cấp là người quản lý cấp trung gian, là cầu nối từ
cấp Trung ương, qua tỉnh tới cấp xã, tạo nên một bộ máy lãnh đạo liên tục, nhất
quán trong bộ máy hành chính. Cán bộ quản lý cấp huyện cũng góp phần triển
khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với từng người dân và
ngược lại, mọi nguyện vọng của nhân dân đều được họ tiếp thu, xử lý và phản
ánh kịp thời lên cơ quan quản lý cấp trên.
4. Nhận xét và đánh giá
Dư luận xã hội và truyền thông đại chúng là một hiện tượng tinh thần xã
hội có thể “đo đạc” được bằng các phương pháp khoa học. Do có thể “đo đạc”
được, dư luận xã hội và truyền thông đại chúng là các thông tin không chỉ rõ
ràng dưới góc độ định tính mà còn rõ ràng dưới góc độ định lượng. Nhờ có các
thông tin toàn diện như vậy, chúng ta mới có thể đánh giá đúng thực trạng, tư
tưởng cảu xã hội. Nhân dân có ủng hộ các chủ trương, quyết sách của Đảng và
Nhà nước hay không? Bao nhiêu % ủng hộ, bao nhiêu % bi quan,…đều có thể
“đo đạc” được bằng các cuộc thăm dò dư luận xã hội và truyền thông đại chúng.
Nhờ kết quả của các cuộc điều tra dư luận xã hội và truyền thông đại chúng
nhằm đánh giá tình hình tâm trạng, tư tưởng sẽ bớt đi tính mơ hồ của các nhận
định chung chung. Các dữ liệu của các cuộc điều tra dư luận xã hội và truyền
thông đại chúng là các cơ sở khách quan giúp viết báo cáo đưa ra những nhận
định khách quan sâu sắc về tình hình tâm trạng, tư tưởng trong xã hội.
Thực tiễn cho thấy, hoạt động lãnh đạo, quản lý các cấp mang tính chất rất
phức tạp, chuyên biệt do chính vị trí, chức năng và điều kiện thực tiễn địa
phương quy định bởi đặc điểm của đối tượng quản lý với các ngành nghề khác
nhau (nông, lâm, ngư nghiệp…); các vấn đề nhân sự và nguồn nhân lực địa
phương.
Trên thực tế, không một người cán bộ quản lý nào lại có thể chuẩn bị sẵn
và đầy đủ các phương án để giải quyết mọi tình huống phát sinh đó. Vì vậy, đòi
8





nhằm thúc đẩy tính tích cực và lành mạnh hoá sự tác động của dư luận xã hội và
truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội.
Theo đó, cần coi dư luận xã hội và truyền thông đại chúng là công cụ của
quản lý phát triển xã hội. Các nhà lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là cán bộ, quản lý
chủ chốt cần phải nắm bắt dư luận xã hội và truyền thông đại chúng, để từ đó đề
xuất sáng kiến, đường lối chủ trương chính sách pháp luật cho phù hợp với nhu
cầu của xã hội.
Dư luận xã hội và truyền thông đại chúng giúp người cán bộ, lãnh đạo địa
phương phát hiện những khiếm khuyết, bất cập, kẽ hở trong đường lối chính
sách pháp luật, trên cơ sở đó, đưa ra những khuyến cáo với các cơ quan chức
năng để bổ sung, hoàn thiện hoặc điều chỉnh. Thông qua kết quả điều tra dư luận
xã hội và truyền thông đại chúng, cán bộ quản lý sẽ biết được người dân suy
nghĩ và phản ứng như thế nào trước những quyết sách hoặc những trăn trở, băn
khoăn của người dân trước những vấn đề của địa phương hay của quốc gia,…
Đặc biệt, việc nghiên cứu dư luận xã hội và truyền thông đại chúng còn
giúp nhà quản lý, lãnh đạo phát hiện và giải quyết các điểm nóng, giải tỏa những
căng thẳng xung đột xã hội tiềm tàng. Thông qua việc tham khảo dư luận xã hội
và truyền thông đại chúng, những nhà hoạch định chính sách sẽ tìm kiếm cách
trung hoà ý nguyện của người dân với những mục tiêu chính sách của Nhà nước,
hoặc ít nhất họ cũng tính đến dư luận xã hội và truyền thồn đại chúng trong
những hoạch định chính sách của họ, từ đó họ cố gắng tránh những quyết định
mà họ tin rằng sẽ nhận được sự phản đối mạnh mẽ từ phía dư luận xã hội và
truyền thông đại chúng.
Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền, nhà nước của
dân, do dân và vì dân, do vậy càng phải nhận thức và sử dụng có hiệu quả dư
luận xã hội và truyền thông đại chúng với tính chất như là một công cụ đặc biệt
của quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước.
Việc quan tâm nắm bắt và sử dụng dư luận xã hội và truyền thông đại

nghiên cứu dư luận xã hội về hoạt động lãnh đạo quản lý. Không có sự tham gia
tích cực của báo chí thì kết quả đã không thể đạt được như hiện nay. Hiệu quả
của việc thể hiện dư luận xã hội trên báo chí chính nhờ biết khai thác tốt cơ chế
hình thành và thể hiện dư luận xã hội.
Các phương tiện thông tin đại chúng của ta đã có những phản ứng nhanh
nhạy trong việc đưa tin về các phiên trả lời chất vấn. Cụ thể như bên cạnh việc
chuyển tải những nội dung chính bằng truyền hình, phát thanh trực tiếp, các
phương tiện truyền thông còn thể hiện cả những ý kiến trái ngược hoặc những
phản ứng của các nhà quản lý lãnh đạo. Điều này ít nhiều cũng khiến những
người có trách nhiệm phải cân nhắc và xem xét lại cách thức trả lời của mình
trong những lần tiếp theo.
Vấn đề đặt ra hiện nay là nhiều chương trình truyền hình trực tiếp vẫn chưa
tạo được hiệu quả cao vì chưa tạo được phạm vi và cường độ dư luận xã hội lớn.
Chính vì thế, việc nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng, đặc biệt là
nghiên cứu dư luận xã hội làm cơ sở cho công tác truyền thông nói chung và
công tác truyền hình nói riêng cần được đặt ra nhiều hơn nữa trong thời gian tới.

12


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Minh Anh (2012), “ Vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ
sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam”, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
2. Lê Ngọc Hùng (2004), Xã hội học hành chính: “ Nghiên cứu giao tiếp
và dư luận xã hội trong cải cách hành chính”, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội.
3. Đinh Xuân Lý (2010), “ Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở
nước ta thời kỳ đổi mới”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. PGS. TS Mai Quỳnh Nam, “ Dư luận xã hội- mấy vấn đề lý luận và
phương pháp nghiên cứu” - Tạp chí XX số 1, 1995.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status