Học thuyết hình thái kinh tế xã hội và giá trị của học thuyết hình thái kinh tế xã hội đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT HÌNH THÁI
KINH TẾ XÃ HỘI 3
1.1 Tiền đề xây dựng lý luận và nội dung phạm trù hình thái kinh tế
xã hội của Triết học Mác – Lênin 3
1.1.1 Tiền đề xây dựng lý luận hình thái kinh tế xã hội 3
1.1.2 Nội dung phạm trù hình thái kinh tế xã hội 4
1.2 Phép biện chứng trong sự vận động, phát triển của các hình thái
kinh tế xã hội 5
1.2.1 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất 5
1.2.2 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng 7
1.2.3 Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình
lịch sử - tự nhiên 9
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ
HỘI ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 12
2.1 Tính tất yếu và nội dung của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa xã hội 12
2.1.1 Tính tất yếu của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội 12
2.1.2 Nội dung của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội 13
2.2 Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội đối với sự nghiệp đổi
mới ở Việt Nam hiện nay 14
2.2.1 Việc lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa 14
2.2.3 Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá với sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội 16
2.2.4 Giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị 20
KẾT LUẬN 26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

học thuyết hình thái kinh tế xã hội nói riêng và Triết học Mác – Lênin nói
chung và vận dụng đúng đắn vào quá trình đổi mới, công nghiệp hoá – hiện
đại hoá đất nước ở Việt Nam là việc làm vô cùng cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Học thuyết hình thái kinh tế xã hội và giá trị của học thuyết hình thái
2
kinh tế xã hội đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm tiểu luận
môn học.
2. Đối tượng nghiên cứu
Nội dung cơ bản của học thuyết hình thái kinh tế xã hội và giá trị của
nó đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là làm rõ nội dung cơ bản của học thuyết hình thái
kinh tế xã hội của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trên cơ sở đó, làm rõ giá trị
của lý luận này đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết những
nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ tiền đề xây dựng lý luận và nội dung phạm trù hình thái kinh
tế xã hội của Triết học Mác – Lênin;
- Làm rõ phép biện chứng trong sự vận động, phát triển của các hình
thái kinh tế xã hội;
- Nhận thức tính khoa học và vai trò phương pháp luận của lý luận hình
thái kinh tế xã hội;
- Làm rõ tính tất yếu và nội dung của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội;
- Làm rõ sự vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội của Đảng ta
đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung cơ bản của học
thuyết hình thái kinh tế xã hội và giá trị của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở

biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tạo thành quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Để tồn tại và phát triển, con người không chỉ tạo ra của cải vật chất mà
còn sản xuất ra của cải tinh thần, ra bản thân con người và các quan hệ xã hội.
Các lĩnh vực sản xuất đó tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn
nhau. Trong các mối quan hệ xã hội phức tạp và tác động qua lại một cách
biện chứng, C.Mác đã phát hiện ra: Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trức thượng
tầng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội; phương thức sản xuất quyết định
các mặt của đời sống xã hội. Từ đó cho thấy, xã hội là một hệ thống, trong đó
có các mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, làm cho xã hội vận động phát
triển theo các quy luật khách quan.
4
Trong khi chỉ ra sự vận động phát triển của xã hội diễn ra theo các quy
luật khách quan, C.Mác cũng đồng thời thừa nhận vai trò to lớn của nhân tố
chủ quan. Lịch sử phát triển xã hội phải thông qua hoạt động có mục đích của
con người.
Như vậy, xuất phát từ sản xuất, C.Mác đã phân tích một cách khoa học
mối quan hệ lẫn nhau giữa các mặt trong đời sống xã hội và chỉ ra các quy
luật vận động, phát triển của xã hội. Từ đó, C.Mác đã đi đến khái quát khoa
học về lý luận hình thái kinh tế xã hội.
1.1.2 Nội dung phạm trù hình thái kinh tế xã hội
Xã hội không là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên giữa các yếu tố với
nhau theo ý muốn chủ quan của con người, mà là một hệ thống trong đó các
yếu tố thống nhất với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và không ngừng tác
động với tự nhiên, làm biến đổi tự nhiên. Trên cơ sở phân tích các mặt trong
đời sống xã hội và các mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng. C.Mác đã đi đến
khái quát xã hội bằng phạm trù hình thái kinh tế xã hội và coi sự phát triển
của các hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên.
Trong hệ thống các quan hệ xã hội hết sức phức tạp, C.Mác đã vạch ra
quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản của xã hội, là cơ sở của các quan hệ xã hệ

thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội. Mỗi hình thái kinh tế xã hội có
một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng của nó. Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn
khách quan để phân biệt các chế độ xã hội.
1.2 Phép biện chứng trong sự vận động, phát triển của các hình thái
kinh tế xã hội
1.2.1 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản
xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách
biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận
động, phát triển xã hội.
Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển.
Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực
lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Sự phát triển của lực lượng sản
xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất. Trình độ lực lượng
sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của
con người trong giai đoạn lịch sử đó. Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện ở
trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng lao động của
con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng
6
khoa học vào sản xuất.
Gắn liền với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng
sản xuất. Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính
chất cá nhân lên tính chất xã hội hóa. Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công,
phân công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất
cá nhân. Khi sản xuất đạt tới trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã
hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa. Sự vận động,
phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất
cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp

sản xuất phát triển. Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên
tiến” hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ
kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất kìm hãm
sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất
cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Tuy nhiên,
việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất không
phải giản đơn. Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của
con người. Trong xã hội có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông
qua cách mạng xã hội.
1.2.2 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu
kinh tế của xã hội. Cơ sở hạ tầng bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ
sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mới (mầm mống quan hệ sản của xã hội
sau). Ví dụ: Trong cơ sở hạ tầng hiện nay ở Việt Nam, về cơ bản có các kiểu
quan hệ sản xuất sau: Quan hệ sản xuất cũ là kiểu quan hệ sản xuất phong
kiến, tư bản Chủ nghĩa; quan hệ sản xuất xã hội Chủ nghĩa là quan hệ sản xuất
thống trị và mầm mống của quan hệ sản xuất cộng sản Chủ nghĩa định hướng
cho sự phát triển cơ sơ hạ tầng xã hội Chủ nghĩa hiện nay ở Việt Nam.
Trong mối quan hệ của các quan hệ sản xuất của cơ sở hạ tầng, thì quan
hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò quy định, chi phối các quan hệ
sản xuất khác. Tương ứng với quan hệ sản xuất trong cơ sở hạ tầng là các
thành phần kinh tế khác nhau.
Đặc trưng, bản chất của một cơ sở hạ tầng do quan hệ sản xuất thống trị
quy định, ví dụ: Quan hệ sản xuất xã hội Chủ nghĩa hiện nay ở Việt Nam phản
ánh bản chất kinh tế - xã hội hiện nay ở nước ta. Tương ứng với các kiểu quan
hệ sản xuất trong một cơ sở hạ tầng là các thành phần kinh tế khác nhau, ví dụ:
trong cơ sở hạ tầng hiện nay ở Việt Nam bao gồm rất nhiều thành phần kinh tế
8
như thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế quốc doanh, thành phần kinh

tầng nào thì sẽ sinh ra một kiến trúc thượng tầng tương ứng.
9
Sự biến đổi của cơ sở hạ tầng tất yếu sẽ dẫn đến sự biến đổi của kiến
trúc thượng tầng. Sự biến đổi đó diễn ra trong một hình thái kinh tế xã hội
nhất định, hoặc giữa các hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Khi cơ sở hạ
tầng cũ mất đi thì kiến trúc thượng tầng do nó sinh ra cũng sẽ mất theo và cơ
sở hạ tầng mới xuất hiện thì một kiến trúc thượng tầng mới phù hợp với nó
cũng xuất hiện.
Một khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi thì kiến trúc thượng tầng của nó cũng
mất theo. Song, có những nhân tố riêng lẻ của kiến trúc thượng tầng cũ vẫn
còn tồn tại rất lâu trong xã hội mới, nhất là về mặt tư tưởng. Trong quá trình
chuyển hoá giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ và cơ sở hạ tầng,
kiến trúc thượng tầng mới bao giờ cũng bao hàm sự kế thừa lẫn nhau dưới
những hình thức cụ thể nào đó.
- Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Các bộ phận khác nhau của kiến trúc thượng tầng đều tác động trở lại
cơ sở hạ tầng; nhưng nhà nước, pháp luật và hệ tư tưởng chính trị của giai cấp
thống trị tác động một cách trực tiếp và quan trọng nhất trong xã hội có giai
cấp đối kháng.
Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng cũng
có thể thúc đẩy sự hoàn thiện và phát triển của cơ sở hạ tầng, đồng thời cũng
có thể kìm hãm sự phát triển của cơ sở hạ tầng. Nếu kiến trúc thượng tầng
phản ánh đúng cơ sở hạ tầng và thực hiện đúng các chức năng của nó đối với
cơ sở hạ tầng thì nó củng cố bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ
tầng. Ngược lại, nó phản ánh không đúng đối với cơ sở hạ tầng và không thực
hiện đúng các chức năng của nó đối với cơ sở hạ tầng thì lại kìm hãm sự phát
triển của cơ sở hạ tầng
1.2.3 Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình
lịch sử - tự nhiên
Các mặt cấu thành của hình thái kinh tế xã hội không ngừng tác động

phương pháp thực sự khoa học. Học thuyết đã chỉ ra sản xuất vật chất là cơ sở
của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định các mặt của đời sống xã
hội. Cho nên không thế xuất phát từ ý thức tư tưởng, từ ý chí của người cầm
quyền để giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội. Học thuyết cũng chỉ
ra xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá
nhân, mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ với nhau,
tác động qua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, quyết
định các quan hệ xã hội khác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế
độ xã hội.
11
Học thuyết còn chỉ ra sự phát triển các hình thái kinh tế xã hội là một
quá trình lịch sử - tự nhiên, tức diễn ra theo các quy luật khách quan chứ
không phải theo ý muốn chủ quan. Cho nên muốn nhận thức đúng đời sống xã
hội phải đi sâu nghiên cứu các quy luật vận động phát triển của đời sống xã
hội. Hiện nay, loài người đã có những bước phát triển hết sức to lớn về mọi
mặt. Tuy nhiên học thuyết đó vẫn còn nguyên giá trị, nó vẫn là phương pháp
thực sự khoa học để nhận thức một cách đúng đắn về đời sống xã hội.
CHƯƠNG 2
GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI ĐỐI
VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
2.1 Tính tất yếu và nội dung của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa xã hội
2.1.1 Tính tất yếu của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
12
xã hội
Để chuyển từ xã hội tư bản Chủ nghĩa lên xã hội xã hội Chủ nghĩa cần
phải trải qua một thời kỳ quá độ nhất định. Tính tất yếu của thời kì quá độ lên
Chủ nghĩa xã hội được lý giải từ các căn cứ sau đây:
Một là, Chủ nghĩa tư bản và Chủ nghĩa xã hội khác nhau về bản chất.
Chủ nghĩa tư bản được xây dựng trên cơ sở chế độ tư hữu Tư bản chủ nghĩa

Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội là sự tồn tại đan xen giữa những yếu tố của xã hội cũ bên cạnh
những nhân tố mới của chủ nghĩa xã hội trong mối quan hệ vừa thống nhất
vừa đấu tranh với nhau trên tất cả các lĩnh vực (kinh tế, chính trị, tư tưởng –
văn hóa) của đời sống xã hội.
2.1.2 Nội dung của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trên lĩnh vực kinh tế: Thực hiện việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng
sản xuất hiện có của xã hội; cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản
xuất mới theo hướng tạo ra sự phát triển cân đối của nền kinh tế, bảo đảm
phục vụ ngày càng tốt đời sống nhân dân lao động.
Việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng sản xuất của xã hội nhất định
không thể theo ý muốn nóng vội, chủ quan mà phải tuân theo tính tất yếu
khách quan của các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Đối với những nước chưa trải qua quá trình Công nghiệp hoá Tư bản
Chủ nghĩa, tất yếu phải tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nhằm tạo
ra được cơ sở vật chất – kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ trọng tâm
của những nước này trong Thời kì quá độ là phải tiến hành công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa diễn ra ở các nước khác nhau với
những điều kiện lịch sử khác nhau có thể được tiến hành với những nội dung
cụ thể và hình thức, bước đi khác nhau. Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chưa trải qua quá trình công nghiệp hoá tư
bản chủ nghĩa, nên trong thời gian qua, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nền tảng để đi lên chủ nghĩa xã hội; bên cạnh đó
là chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng
là để giải phóng sức sản xuất, tiến tới một nền sản xuất lớn.
Trong lĩnh vực chính trị: Tiến hành cuộc đấu tranh chống lại các thế lực
thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội; xây dựng, củng cố
nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng vững mạnh, bảo đảm

một quốc gia nông nghiệp lạc hậu trải qua liên tiếp chiến tranh. Vì vậy, Đảng
ta đã lựa chọn con đường quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ Tư
bản chủ nghĩa. Sự lựa chọn này đã được Đảng ta xác định ngay trong cương
lĩnh đầu tiên của Đảng đầu năm 1930 do Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta là
đồng chí Trần Phú soạn thảo và ghi rõ: “Cách mạng Việt Nam sau khi hoàn
15
thành cách mạng dân tộc dân chủ thì tiến thẳng lên làm cách mạng xã hội chủ
nghĩa mà không kinh qua chế độ tư bản chủ nghĩa”.
Sự lựa chọn này là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với điều kiện thực
tiễn của Việt Nam. Từ khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới (năm 1986),
cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế Đảng ta đổi mới tư duy lý luận kinh
tế và nhận thức được rằng, chúng ta bỏ qua Chủ nghĩa tư bản chỉ là bỏ qua
Chủ nghĩa tư bản với ý nghĩa là một phương thức sản xuất đẻ ra quan hệ bóc
lột và những bất công, chỉ bỏ qua các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với
ý nghĩa nó là một quan hệ thống trị nền kinh tế, chỉ bỏ qua tính chất hiếu
chiến và thủ đoạn bóc lột lao động làm thuê của giai cấp tư sản. Nhưng
chúng ta không bỏ qua nên kinh tế hàng hoá và những quan hệ kinh tế vốn
có của nó; không bỏ qua những thành quả về mặt khoa học kỹ thuật; trình độ
tổ chức quản lý của nền sản xuất lớn tiên tiến của Chủ nghĩa tư bản; không
bỏ qua những kinh nghiệm những lý thuyết kinh tế mà Chủ nghĩa tư bản đã
bỏ qua nhiều thế kỷ để hình thành và tạo lập cho nhân loại; không bỏ qua
những quy luật kinh tế khách quan, những cơ chế kinh tế tạo ra sức mạnh
động lực thúc đẩy nền kinh tế.
2.2.2 Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa
Trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng và Nhà
nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá phải gắn
liền với hiện đại hoá. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta nhằm xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Đó là nhiệm vụ trung tâm
trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Những thành tựu mà nhân dân ta thu được trong quá trình đổi mới, sự
nhận thức mới về thời đại, về vai trò của khoa học, công nghệ và vai trò của
con người trong phát triển kinh tế - xã hội đương đại, cũng như những khó
khăn và cả những sai lầm khó tránh, đã được Đảng ta đúc kết thành những
bài học có giá trị trong việc chỉ đạo công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước. Công nghiệp hoá theo hướng hiện đại được coi là nhiệm vụ trọng tâm
để biến nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp trong khoảng vài chục
năm. Sự đánh giá khách quan kinh nghiệm của các nước xung quanh nước ta
đã công nghiệp hoá thành công đã góp phần giúp Đảng ta, qua các kỳ đại hội,
17
đúc kết thành lý luận công nghiệp hoá đầy đủ hơn ở một đất nước kém phát
triển trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và
kinh tế tri thức ngày càng đóng vai trò quan trọng.
Từ góc nhìn lịch sử có đầy đủ cơ sở để nói rằng, sự đánh giá về tính
tất yếu, vị trí, vai trò, mục tiêu, định hướng phát triển hay nói chung là tầm
quan trọng của công cuộc công nghiệp hoá đối với đất nước của Đảng ta là
khá nhất quán và xuyên suốt. Tuy nhiên, do chủ quan, nóng vội, duy ý chí, bất
chấp quy luật khách quan, và cả do sự hạn chế về trình độ nhận thức, cho nên
trong một giai đoạn khá dài chúng ta đã xác định sai bước đi, “trên thực tế đã
chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề cần
thiết” đúng như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12-
1986) khẳng định.
Tại Đại hội lần thứ III (9-1960) Đảng coi “nhiệm vụ trung tâm của cả
thời kỳ quá độ ở miền Bắc nước ta là công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, mà
mấu chốt là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng”. “Vì vậy chủ trương của
Đảng ta về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: Xây dựng một

nặng quan trọng.
Nghị quyết Đại hội V, như Đại hội VI (12-1986) nhận định, đã không
được thực hiện nghiêm chỉnh, “nông nghiệp chưa thật sự được coi là mặt trận
hàng đầu, không được bảo đảm những điều kiện cần thiết để phát triển
Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, kể cả tiểu công nghiệp, thủ công
nghiệp, vẫn bị coi nhẹ về tổ chức, đầu tư, chính sách ; còn ham xây dựng
nhiều công trình quy mô lớn”. Vì vậy, Đại hội VI xác định, phải “tiếp tục xây
dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ
nghĩa trong chặng đường tiếp theo”, nhưng trước hết “phải tập trung sức
người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu
về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”, trong đó có
“vị trí hàng đầu của nông nghiệp”.
Đại hội lần thứ VII của Đảng (6-1991) diễn ra trong điều kiện thế giới
có nhiều biến động; các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô đã lần
lượt theo nhau sụp đổ; chúng ta không còn những sự viện trợ và giúp đỡ vô
tư, to lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa nữa, do vậy, cũng không thể tiến hành
công nghiệp hoá theo kiểu cũ nữa. Lần đầu tiên, Đại hội xác định, “công
nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông
nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật
chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”. Đặc biệt, Đại hội khẳng định rằng, quan
niệm mới về công nghiệp hoá theo hướng hiện đại “đòi hỏi có chính sách
công nghệ thích hợp, tận dụng được lợi thế của nước đi sau trong điều kiện
mới của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới”. Tiến hành công
19
nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại là quan điểm rất mới vào thời điểm
đó. Quan điểm đó đã bao hàm việc không tách rời công nghiệp hoá với hiện
đại hoá, đồng thời phải tận dụng được những thành tựu, những tri thức mới
nhất của khoa học và công nghệ hiện đại của thế giới.
Mục tiêu đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển nêu ra tại Đại
hội lần thứ IX của Đảng được Đại hội lần thứ X (4-2006) coi là mục tiêutrực

nêu 8 phương hướng cơ bản đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nêu cao
tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, phát huy tiềm năng và
trí tuệ, tận dụng thời cơ vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt. Trong
quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản trên, phải đặc biệt chú trọng
nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn
định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị
trường và định hướng xã hội Chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và
xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội Chủ nghĩa; giữa tăng
trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;
giữa xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội Chủ nghĩa; giữa
độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ.
Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong những
mối quan hệ cơ bản, cốt lõi trong tiến trình thực thi xây dựng xã hội mới. Đó
chính là quan hệ giữa hai lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội (kinh tế và
chính trị); là mối quan hệ khách quan tồn tại trong mọi xã hội có phân chia
giai cấp, là sự thể hiện cô đọng quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng của xã hội.
- Thực chất đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
Thực chất của đổi mới kinh tế ở Việt Nam là chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản; vừa vận động theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa được
dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của Chủ nghĩa xã hội; trong
đó cơ chế thị trường được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ,
có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế.
Hiện nay, nội dung chủ yếu của đổi mới kinh tế là tập trung hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là đổi mới
cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành

và kết cấu chính trị. Đến lượt mình chính trị có tác động mạnh mẽ tới kinh tế,
định hướng cho quá trình phát triển kinh tế. Lênin khẳng định: “Chính trị là
biểu hiện tập trung của kinh tế. Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng
đầu so với kinh tế”. Nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng này
22
là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, song có ý nghĩa quyết định đối với sự thành
bại của tiến trình cách mạng.
Cách đây hơn 20 năm, quá trình cải tổ ở Liên xô và Đông Âu, do xử lý
mối quan hệ giữa cải cách kinh tế và chính trị không tốt đã dẫn đến sự sụp đổ
của chế độ xã hội Chủ nghĩa ở các quốc gia này. Với mục đích đẩy nhanh cải tổ,
thực hiện các liệu pháp sốc về kinh tế và ưu tiên cải tổ chính trị đi trước đã đẩy
xã hội lâm vào rối lọan, làm cho Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo đất nước.
Trong khi đó, Trung Quốc ngay từ đầu đã tiến hành đồng bộ cải cách thể
chế chính trị với cải cách kinh tế, chính vì vậy đã tạo sự phát triển ấn tượng.
Tuy nhiên, sau sự kiện năm 1989, tốc độ cải cách chính trị có phần chững lại,
không theo kịp đà cải cách và phát triển trong lĩnh vực kinh tế. Bất cập này đã
tác động bất lợi đến sự phát triển kinh tế, làm nảy sinh các tiêu cực và nhiều
vấn đề khác như phân hóa xã hội, gia tăng bất bình đẳng về thu nhập.
Ở Việt Nam, Đảng ta trên cơ sở tổng kết thực tiễn đã khởi xướng
đường lối đổi mới tại Đại hội VI. Về chủ trương, ngay từ đầu Đảng đã khẳng
định, thực hiện đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới phải có bước đi và cách
làm thích hợp. Đại hội VII của Đảng khẳng định: Đổi mới toàn diện, đồng bộ
và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp; về quan hệ
giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung sức làm tốt đổi mới
kinh tế; đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và
phương thức hoạt động của hệ thống chính trị.
Tổng kết 10 năm đổi mới, Đại hội VIII của Đảng đã rút ra một số bài
học kinh nghiệm, trong đó nổi lên bài học: “Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi
mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng
thời từng bước đổi mới chính trị”. Đại hội IX tiếp tục khẳng định những kinh

bảo đảm phát triển nhanh và bền vững đòi hỏi có sự đầu tư nghiên cứu thảo
luận, tổng kết thực tiễn đề ra các giải pháp, hướng thực hiện trong thực tiễn.
Một số vấn đề cần triển khai cụ thể là:
Một là, cần làm rõ nội dung cơ bản của mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị. Để giải quyết tốt mối quan hệ này đương nhiên trước tiên
phải hiểu rõ, nắm vững nội hàm của mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh
tế và đổi mới chính trị. Kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực cơ bản, rộng lớn của
đời sống xã hội. Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được biểu
hiện ra thông qua những mối quan hệ cụ thể đòi hỏi phải kết hợp giải quyết tốt.
Đó là những mối quan hệ như: Quan hệ giữa đổi mới thể chế kinh tế với đổi
mới thể chế chính trị; quan hệ giữa phát triển sức sản xuất với bảo đảm định
hướng xã hội Chủ nghĩa của quá trình đổi mới, phát triển; quan hệ giữa tăng
24
trưởng nhanh với tăng trưởng bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội;
quan hệ giữa quyền chủ động, tự do sản xuất kinh doanh của các chủ thể trên
thị trường với bảo đảm xây dựng và thực thi nhà nước pháp quyền xã hội Chủ
nghĩa; quan hệ giữa chủ động và tích cực hội nhập quốc tế với bảo đảm chủ
quyền quốc gia… Việc quan tâm giải quyết các mối quan hệ này sẽ góp phần
thực hiện tốt quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
Hai là, công tác tuyên truyền đóng vai trò quan trọng trong việc thực
hiện phối kết hợp hài hòa giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Cùng
với nghiên cứu nắm vững, rõ nội hàm như trên cần thông tin tuyên truyền,
làm cho cán bộ, đảng viên hiểu rõ tầm quan trọng, vai trò quyết định của đổi
mới kinh tế trong tiến trình cách mạng, cũng như nhận rõ tác động, thậm chí
là mở đường của đổi mới chính trị đối với đổi mới kinh tế. Tuyên truyền làm
rõ cơ sở lý luận, cũng như cơ sở thực tiễn của việc gắn kết đổi mới kinh tế
với đổi mới chính trị; làm rõ thực chất của đổi mới kinh tế và đổi mới chính
trị, những khó khăn và thuận lợi, bất cập trong đổi mới. Có như vậy mới tạo
được sự đồng tâm nhất trí, phát huy được sức mạnh cả cộng đồng trong thực
hiện đổi mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status