ÁP DỤNG PHÁP LUẬT về THI HÀNH án đối với các vụ án hôn NHÂN GIA ĐÌNH tại cục THI HÀNH án TỈNH BÌNH PHƯỚC TÌNH TRẠNG và GIẢI PHÁP - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

Võ ngọc cảnh

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN ĐỐI
VỚI CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN GIA ĐÌNH TẠI
CỤC THI HÀNH ÁN - TỈNH BÌNH PHƯỚC. TÌNH
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH

Tp. Hồ chí minh - năm 2017

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

Võ ngọc cảnh

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN HÔ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo
đúng quy định. Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một
cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của việt nam. Các kết quả này
chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.
Tp.hồ chí minh, ngày …. Tháng ….. Năm 2017
Tác giả luận văn

Võ ngọc cảnh

4


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Gia đình hình thành, tồn tại và phát triển qua các giai đoạn, nó mang những chức
năng tự nhiên và xã hội riêng biệt mà các thiết chế xã hội khác không có. Các chức năng
của gia đình hình thành gắn liền với sự phát triển của loài người và được chính con người
xã hội hóa chúng. Về cơ bản, gia đình có ba chức năng: sinh đẻ, giáo dục và kinh tế,
chúng là cơ sở để hình thành các quyền tự nhiên của con người về gia đình và được xã hội
hóa thành các quyền cơ bản.
Trong những năm qua, việc trong giải quyết án hôn nhân và gia đình đã giải quyết
được những mâu thuẫn bất hoà trong gia đình, đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các thành viên trong gia đình, bên cạnh những mặt đã đạt được trong quá trình giải quyết
án hôn nhân và gia đình vẫn còn những thiếu sót, như có vụ án trong quá trình giải quyết
còn để tồn đọng, dây dưa kéo dài, có vụ án còn bị sửa, huỷ gây ảnh hưởng đến quyền lợi
của các bên đương sự.
Với các đường lối chính sách hiện nay của đảng và pháp luật ta của nhà nước ta đã
nói tới vấn đề như vậy, tuy nhiên trong thực tế xã hội hiện nay các vụ án về hôn nhân và
gia đình vẫn phát sinh rất nhiều và có chiều hướng gia tăng theo thời gian , đòi hỏi cục thi

Chương 3: kết luận và kiến nghị.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN.................................................................................................................. iii
LỜI CAM ĐOAN............................................................................................................. iv
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...............................................................................2
3.1. Đối tượng nghiên cứu..........................................................................................2
3.2. Phạm vi nghiên cứu..............................................................................................2
4. Kết cấu chuyên đề.......................................................................................................2
CHƯƠNG 1....................................................................................................................... 6
LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN.........................6
1.1. Khái niệm hoạt động thi hành án.............................................................................6
1.1.1. Khái niệm..........................................................................................................6
6


1.1.2 Đặc trưng của thi hành án dân sự.......................................................................6
1.1.3 Những nguyên tắc trong thi hành án dân sự.......................................................7
1.2 Những yêu cầu đặt ra đối với thi hành án..................................................................9
1.3 Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động thi hành án.......................................................9
1.4. Đặc trưng của công tác thi hành án đối với các vụ án hôn nhân gia đình...............12
CHƯƠNG 2..................................................................................................................... 15
THỰC TIỄN CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC....................................15
2.1. Tổng quan công tác thi hành án đối với các vụ hôn nhân và gia đình....................15
2.2. Vướng mắc trong quá trình thi hành án từ thực tiễn thi hành án............................17
2.2.1. Thi hành án đối với các yêu cầu cấp dưỡng....................................................17
2.2.2. Thi hành án đối với các yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng........................23

quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình thi hành án không do luật tố tụng điều chỉnh
như: kê biên tài sản, hoãn thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án,… thì thi hành án còn có
những quan hệ pháp luật tố tụng phát sinh do luật tố tụng điều chỉnh và chi phối khác.
1.1.2 Đặc trưng của thi hành án dân sự
Thads là một dạng hoạt động mang tính chất hành chính – tư pháp của nhà nước
nhằm thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, bảo đảm hiệu lực thực tế của
bản án, quyết định của tòa án. Hoạt động này do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (bao
gồm các cơ quan quản lý nhà nước về thi hành án và cơ quan trực tiếp thi hành án) thực
hiện. - hoạt động thi hành án được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp
luật quy định từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, trên một cơ sở pháp lý đầy đủ, rõ ràng,
đảm bảo sự công bằng trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong thi hành án.

8


Thi hành án chỉ nhằm thực hiện các bản án, quyết định của cơ quan tài phán. Nó có
tính chất bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức, cơ quan có liên quan đến bản án, quyết định
của tòa án. Việc không chấp hành, chấp hành không nghiêm chỉnh bản án, quyết định của
tòa án dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định và có thể bị xử lý bằng chế tài.
Trong quá trình thi hành án, những người phải thi hành án và những người được thi
hành án vẫn có thể tự thỏa thuận với nhau để tự thi hành án phù hợp với pháp luật và đạo
đức xã hội. Cơ quan thads có trách nhiệm theo dõi, giám sát và ghi nhận việc tự thỏa
thuận thi hành của các bên đương sự. Đây là một hành lang pháp lý “mở” nhằm tiếp tục
đảm bảo nguyên tắc tự định đoạt của các đương sự trong tố tụng dân sự ở giai đoạn thi
hành án. Chính tính “mở” này tạo ra những điều kiện quan trọng cho chủ trương xã hội
hóa một số mặt của hoạt động thads, giảm thiểu can thiệp, hỗ trợ từ phía nhà nước, tăng
tính chủ động của các đương sự, phù hợp với những yêu cầu của nhà nước về nâng cao
tính tích cực của công dân.
Tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan thads được lựa chọn biện pháp thích hợp, chủ
động giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình thi hành án (cưỡng chế, kê biên tài

thads là một yếu tố rất quan trọng để thi hành án có hiệu quả, ít tốn kém nhất. Trường hợp
sau một khoảng thời gian luật định, các cơ quan thads mới áp dụng các biện pháp cưỡng
chế như kê biên tài sản, cưỡng chế trả nhà…
Nguyên tắc phối hợp hành động giữa các cơ quan thads với các cấp chính quền,
các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong thads. Thi hành án là hoạt động mang tính
hành chính – tư pháp phức tạp mà hiệu quả của nó không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của
các cơ quan thads chuyên trách mà còn phụ thuộc vào sự tham gia của chính quyền địa
phương, của các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội và công dân.
Trong quá trình thi hành án, ngoài việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và quyền
hạn của mình, các cơ quan thads một mặt phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, mặt khác
phải phối hợp với cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể xã hội. Sự chỉ đạo của chính
quyền địa phương đối với việc tổ chức thi hành án đang tạo điều kiện cho công tác thi
hành án có hiệu quả. Trong công tác thads, chính quyền cơ sở có nhiệm vụ giúp chấp
hành viên xác minh hoàn cảnh kinh tế của người phải thi hành án, giúp đỡ lực lượng,
phương tiện để cưỡng chế thi hành án. Lực lượng cảnh sát nhân dân có nhiệm vụ giữ gìn
trật tự, ngăn chặn những hành vi cản trở, chống đối. Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế xã
hội có nhiệm vụ thực hiện những yêu cầu của chấp hành viên liên quan đến việc thi hành

10


án. Mối quan hệ phối hợp giữa ba cơ quan: cơ quan thads, tòa án, viện kiểm sát đảm bảo
hoạt động thi hành án được tiến hành hiệu quả, đúng pháp luật.
1.2 Những yêu cầu đặt ra đối với thi hành án
Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người
được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có
thẩm quyền ra quyết định thi hành án.
Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì
thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp

khai các văn bản liên quan như Luật Đấu giá tài sản năm 2016 (có hiệu lực từ 01/7/2017),
Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của
các tổ chức tín dụng, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017. Tiếp tục rà
soát, tổng hợp khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức thi hành Luật THADS (sửa đổi,
bổ sung năm 2014) và các văn bản hướng dẫn thi hành, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc
trong thực tiễn THADS.
Tổng cục cũng yêu cầu các đơn vị và địa phương thực hiện nghiêm Quy trình tổ
chức thi hành án trong Hệ thống THADS; rà soát, giải quyết đối với những vụ việc đấu
giá thành nhưng chưa giao được tài sản cho người trúng đấu giá. Thực hiện nghiêm quy
định về tiếp công dân và các chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ tại các buổi tiếp công dân. Tổ chức
thi hành nghiêm túc các quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo đã có
hiệu lực pháp luật.
Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, bảo đảm thực hiện
kiểm tra theo đúng quy trình; tập trung kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ về
THADS; kiểm tra việc thực hiện trình tự, thủ tục thi hành án, xác minh điều kiện thi hành
án, cưỡng chế thi hành án; công tác tổ chức cán bộ, kế hoạch tài chính; tăng cường kiểm
tra đột xuất, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh, xử lý nghiêm đối với những sai phạm, thiếu
sót; chú trọng công tác phúc tra việc thực hiện các kết luận kiểm tra.
Cũng theo Tổng cục THADS, các cơ quan thuộc Tổng cục và địa phương cần tổ
chức quán triệt nghiêm túc việc thực hiện Nghị quyết Trung ương IV khóa XII về tăng
cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Chuẩn
mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp và Chuẩn
mực đạo đức chấp hành viên.
12


Đồng thời, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong công tác, kiên quyết xử
lý nghiêm đối với những cán bộ vi phạm đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ. Tổ
chức thực hiện có hiệu quả các Quy chế phối hợp liên ngành trong công tác THADS, các

CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
2.1. Tổng quan công tác thi hành án đối với các vụ hôn nhân và gia đình
Tại Bình Phước hiện nay, số lượng các vụ án về hôn nhân và gia đình ngày càng
gia tăng theo hướng tiêu cực. Đối với loại án này mỗi vụ án có rất nhiều nội dung đa dạng
và tính phức tạp khác nhau về từng sự việc , nên việc giải quyết loại án này gặp rất nhiều
những khó khăn trong tòa á, trong nhận thức vận dụng pháp luật cũng như khó khăn từ
khách quan mang lại. Tuy vậy, quá trình giải quyết án hôn nhân và gia đình của toà án
nhân dân bình phước trong những năm qua đạt những kết quả nhất định, đạt những kết
quả cao, góp phần giải quyết các mâu thuẫn bất hoà trong hôn nhân, bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự và thống nhất các vụ việc. . Đồng thời, hoạt động thi hành
án trong giải quyết án hôn nhân và gia đình, ngoài việc đấu tranh với các hành vi trái pháp
luật nảy sinh trong lĩnh vực về hôn nhân, còn phổ biến tuyên truyền giáo dục ý thức pháp
luật cho nhân dân, từ sự hiểu biết pháp luật, nhân dân sẽ tham gia thực hiện pháp luật, bảo
vệ pháp luật, tố giác những hành vi vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân, đồng thời
qua thực tiễn thi hành án trong giải quyết án hôn nhân và gia đình sẽ phát hiện ra những
thiếu sót trong pháp luật để có những đề xuất sửa đổi các điều khoản của pháp luật cho
phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong từng giai đoạn cụ thể. Thông qua việc thi hành án
trong việc giải quyết án hôn nhân và gia đình góp phần làm ổn định quan hệ trong hôn
nhân, giữ gìn kỷ cương pháp luật, giữ ổn định chính trị, trật tự trị an toàn xã hội, góp phần
tăng cường nền pháp chế xã hội chủ nghĩa trên địa bàn
Bên cạnh những mặt đã đạt được về công tác sử án trên của tỉnh, qua quá trình
kiểm tra giám đốc án và xét xử phúc thẩm của tand bình phước đã phát hiện có những
thiếu sót trong việc thi hành án trong quá trình giải quyết, nên dẫn đến một số vụ án bị
sửa, bị huỷ; và một số ít vụ án còn bị dây dưa kéo dài theo thời gian Đặc biệt, một số vụ
án do thi hành án không chuẩn xác, nên còn bị sửa, huỷ nhiều lần, kéo dài nhiều năm gây
ảnh hưởng đến đời sống, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đây là một trong
những nguyên nhân dẫn đến việc nhân dân khiếu kiện vượt cấp đến các cơ quan trung
ương., làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự gây mất thời gian. Trong hoạt động


138

2010

1381

1242

139

2011

1582

1464

118

2012

089

1809

280

2013

2075

2010
2011
2012
2013
Tổng

Sơ thẩm ta giải
quyết phúc thẩm
55
44
45
42
35
221

Rút kháng cáo
kháng nghị(vụ)
28
19
15
13
17
92

Sửa án (vụ)

Hủy án (vụ)

24
23

2014

Số vụ li hôn (vụ)
1120
850
1120

Số vụ giải quyết(vụ)
932
780
932

2 Tòa án tỉnh Bình Phước

16

Đạt ( %)
92
90.7
92


Nghĩa vụ cấp dưỡng không phải lúc nào cũng phát sinh mà nó chỉ phát sinh trong
những điều kiện nhất định, chỉ khi những điều kiện đó xảy ra thì nghĩa vụ đó mới phát
sinh. Vậy nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ phát sinh trong những điều kiện sau:
* Người được cấp dưỡng và người cấp dưỡng không sống chung với nhau.
Khi người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng sống chung với nhau thì người cấp
dưỡng đã trực tiếp thực hiện hành vi chăm sóc, nuôi dưỡng người được nuôi dưỡng bằng
tài sản của mình, do đó việc cấp dưỡng không đặt ra. Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh
khi người có nghĩa vụ cấp dưỡng vì hoàn cảnh không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng

nhập thường xuyên và tài sản hiện có hoặc một người tuy không có thu nhập thường
xuyên nhưng lại còn tài sản sau khi đã trừ đi chi phi cần thiết cho bản thân thì cũng được
coi là có khả năng để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Theo Điều 56 và Điều 92 Luật
HN&GĐ năm 2000 thì khi li hôn cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng
cho con và theo Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số
02/2000/NQ - HĐTP ngày23/01/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 (Sau đây gọi là Nghị quyết số 02/2000/NQ – HĐTP) quy
định: “Đây là nghĩa vụ của cha mẹ do đó không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả
năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng
cho con. Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp
nuôi con cấp dưỡng vì lí do nào đó thì Tòa án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu
cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con.
Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy, khi xem xét, giải quyết sự việc Toà án
nên căn cứ vào tình hình thực tế của các bên đặc biệt quan tâm đến quyền lợi của con cái
để đưa ra các phán quyết “ thấu tình đạt lí hơn”. Biết rằng mọi phán quyết đều phải dựa
trên các quy định của pháp luật, làm đúng theo pháp luật nhưng trong một số trường hợp
có thể áp dụng linh hoạt các quy định đó, “biến hoá” các quy định đó để xet xử hợp tình
hợp lí hơn, thuyết phục được các bên qua đó đề cao truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt
NamVấn đề cấp dưỡng được quy định khá cụ thể và đầy đủ trong Luật HN&GĐ năm
2000 và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định các vấn đề liên quan đến cấp dưỡng
cho con khi vợ chồng li hôn, cấp dưỡng giữa vợ và chồng.
Tuy nhiên, cùng với sự vận động và phát triển của nền kinh tế đã tác động vào các
quan hệ xã hội nói chung và quan hệ cấp dưỡng nói riêng. Một số quy định của pháp luật
đã không còn phù hợp với thực tế, một số vấn đề còn chưa được quy định hoặc quy định
chưa đầy đủ, đòi hỏi pháp luật về cấp dưỡng cần phải sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng các
18


yêu cầu của thực tế. Cùng với đó, chúng ta cần tiến hành công tác kiểm tra, thanh tra,
giám sát về cấp dưỡng trên thực tế và nâng cao trách nhiệm, năng lực chuyên môn của


đơn yêu cầu ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.
Năm 2013 và Năm 2014 tiếp nhân 46 đơn kháng cáo của các vợ chồng xin li hôn.
Trong đó có 32 đơn kháng cáo yêu cầu Toà án xem xét lại phần chia tài sản của bản án sơ
thẩm. Và được phúc thẩm 46 vụ trong đó có 20 vụ
Năm 2015 Toà án nhân dân tỉnh nhận được 50 đơn kháng cáo của các vợ chồng
trong các vụ án xin ly hôn, trong đó có 38 đơn kháng cáo yêu cầu xem xét lại phần chia
tài sản . Toà án nhân dân tỉnh đã ra quyết định phúc thẩm trong 28 trường hợp. Việc chia
tài sản của vợ chồng khi ly hôn là vấn đề phức tạp, thường có nhiều tranh chấp xảy ra
giữa vợ chồng khi ly hôn và gặp nhiều vướng mắc khi xét xử những năm qua, cùng với sự
phát triển đi lên của xã hội, kéo theo những quan niệm về lối sống dẫn tới mô thuẫn trong
cuộc sống gia đình là một trong những nguyên nhân về số vụ án ly hôn trong thời gian
vưa qua tăng nhanh. Cũng tại toà án nhân dân tỉnh Bình phước trong những năm qua các
vụ án ly hôn ngày càng tăng.
Riêng quan hệ tài sản trong các án kiện ly hôn quá trình giải quyết tại toà án đang
gặp rất nhiều khó khăn trong việc phân định công bằng đâu là tài sản riêng của mỗi bên
vợ chồng những tài sản nào thuộc khối tài sản chung. Khi chia tài sản là tài sản riêng của
mỗi bên vợ chồng đã có sự trộn lẫn ẩn chứa giữa các loại tài sản chung và tài sản riêng
trong thời kì hôn nhân. Việc xác định tài sản riêng Điều 32 có ghi “ người có tài sản riêng
phải chứng minh được tài sản đó là tài sản của mình” .
2.2.3. Thi hành án đối với các yêu cầu về quyền nhân thân trong các vụ án HN-GĐ
Theo quy định hiện hành tại Bộ Luật dân sự 2015 thì quyền nhân thân trong hôn
nhân và gia đình được quy định như sau:
- Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định
cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân
thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên
gia đình.
Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và
nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.

21


CHƯƠNG 3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Những hạn chế đối với thực hiện thi hành án đối với các vụ hôn nhân và gia
đình
Những hạn chế về thi hành án trong các trường hợp đình chỉ, tạm đình chỉ, công
nhận hòa giải thành, công nhận thuận tình ly hôn. - những hạn chế trong thi hành án đối
với những trường hợp đưa vụ án ra xét xử bằng bản án.
Thứ nhất, vi phạm các quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử thứ hai, hạn chế trong
việc thu thập chứng cứ vụ án chưa đầy đủ, còn vi phạm thủ tục tố tụng trong hoạt động
điều tra. Thứ ba, hạn chế trong điều hành phiên tòa xét xử sơ thẩm, quá trình thẩm vấn tại
phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa và nghị án. Từ thực trạng hoạt động thi hành án của
tand trong giải quyết án hngđ vừa phân tích trên, có thể xác định những tồn tại, hạn chế
là do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân cơ bản sau: nguyên nhân khách
quan thứ nhất, hệ thống pháp luật để giải quyết các vụ án hn&gđ chưa đầy đủ, đồng bộ,
các văn bản hướng dẫn thi hành án còn chậm và thiếu
Thứ hai, sự phối kết hợp giữa tòa án và các cơ quan liên quan trong quá trình giải
quyết án hn&gđ chưa thực sự chặt chẽ và đạt kết quả tốt.
Thứ ba, cơ sở vật chất của tòa án phục vụ cho công tác thi hành án trong giải quyết
án hn&gđ còn nhiều thiếu thốn. công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho
nhân dân chưa được chú trọng. nguyên nhân chủ quan thứ nhất, do trình độ chuyên môn
của thẩm phán, htnd, thư ký trong quá trình thi hành án để giải quyết án hn&gđ chưa đáp
ứng được yêu cầu công việc.thứ hai, những hiện tượng tiêu cực trong hoạt động của
ngành tand ở tỉnh cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động thi hành án trong
giải quyết án hn&gđ.
Thứ ba, việc hoạch định chính sách phát triển ngành tand, công tác quản lý, sử
dụng cán bộ chưa tốt, chưa kịp thời kiểm tra thường xuyên, uốn nắn những sai sót trong
nghiệp vụ.

đào tạo khác nhau, nhưng tối thiểu cũng phải là người có trình độ trung cấp pháp lý.
Trong quá trình xét xử, nếu vụ án xảy ra ở địa bàn thuộc đơn vị hành chính nào thì chánh
án tòa án sơ thẩm khu vực nên cơ cấu vào thành phần hđxx các htnd ở địa bàn hành chính

23


đó để đảm bảo kết quả hoạt động xét xử thật phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương,
cũng như nguyện vọng của nhân dân địa phương nơi xảy ra vụ án.
Tăng cường phương tiện và điều kiện cơ sở vật chất cho các tand trên địa bàn tỉnh
và hoàn thiện chế độ chính sách đối với thẩm phán, cán bộ tòa án để đảm bảo hiệu quả
cho hoạt động thi hành án của tand trong giải quyết án hn&gđ ở tỉnh bình phước thì vấn
đề tăng cường điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện làm việc là một yêu cầu cấp thiết.
Vì vậy, cần tăng cường điều kiện về phương tiện cơ sở vật chất cho các tand trên
địa tỉnh bình phước, cụ thể như sau:
- hiện đại hóa các phương tiện làm việc và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác xét
xử, tăng cường việc cấp tài liệu, sách báo về khoa học pháp lý cho các thẩm phán và cán
bộ tòa án, trang bị cơ sở vật chất và hiện đại hóa phòng xét xử của các tand. Nghề thẩm
phán là một nghề có tính đặc thù riêng, vất vả, khó khăn, phức tạp và chịu nhiều áp lực.
Đặc biệt có khi còn nguy hiểm cho bản thân và gia đình. Do vậy, cần xây dựng cơ chế bảo
vệ đối với thẩm phán và gia đình họ, xây dựng quy định về chế độ bảo hiểm để họ được
hưởng bồi thường khi gặp rủi ro trong cuộc sống và trong sự nghiệp.
Tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật để nâng cao ý thức pháp luật và tăng
cường sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của tand trong giải quyết án
hn&gđ ở tỉnh bình phước muốn pháp luật thực sự đi vào cuộc sống và các quy định của
pháp luật được hiện thực hóa thì công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, giải thích pháp
luật nói chung và pháp luật về hn&gđ nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng. Trong thời gian
qua, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đã được được đảng, nhà nước
quan tâm, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong việc tăng cường quản lý
xã hội bằng pháp luật. Với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, công tác tuyên truyền, phổ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status