VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI & TÀI NGUYÊN SINH VẬT
----------
ĐỖ THỊ THỤC
NGHIÊN CỨU CHUYỂN GEN TĂNG CHIỀU DÀI SỢI GỖ
(EcHB1)VÀO BACHJ ĐÀN LAI PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP CHẾ
BIẾN GIẤY
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60420114
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội, 2014
MỞ ĐẦU
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Các loài Bạch đàn được nhập vào Việt Nam từ những năm 1930 và đến nay đã trở
thành nhóm cây trồng chủ lực trong các chương trình trồng rừng tập trung và phân tán ở
nước ta. Đến năm 2011, tổng diện tích rừng trồng Bạch đàn ở Việt Nam là 353,000 ha,
chiếm 32% diện tích rừng trồng cả nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011).
Bạch đàn là loài cây sinh trưởng nhanh, thích nghi tốt. Tại Việt Nam, Bạch đàn
được trồng tại các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, Đông Bắc, vùng trung tâm, đồng bằng sông
Hồng, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Gỗ Bạch đàn được dùng làm nguyên liệu giấy
(hiệu suất bột giấy 49.5%), ván dăm, ván sợi ép, trụ mỏ, gỗ lớn được dùng trong xây
Trong lĩnh vực Lâm nghiệp, cây biến đổi gen cũng đã được quan tâm nghiên cứu.
Trong những năm gần đây một số kết quả nghiên cứu chuyển gen cho một số loài cây
rừng như Bạch dương, Thông radiata, Liễu và Bạch đàn đã được tiến hành và thử nghiệm
thành công ở một số nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Brasil, Chi Lê và Trung Quốc. Mục
đích chính cho nghiên cứu chuyển gen cây lâm nghiệp ở đây là chuyển một số gen liên
quan đến tăng sinh khối, chống chịu sâu bệnh và điều kiện khô hạn, giảm hàm lượng
lignin, tăng hàm lượng và độ dài sợi cellulose, mang lại lợi ích to lớn cho ngành công
nghiệp giấy cũng như cải tạo môi trường tại những vùng đất suy thoái thiếu chất dinh
dưỡng…
Chuyển gen gián tiếp thông qua vi khuẩn A. tumefaciens được sử dụng rộng rãi hơn
cả, vì phương pháp này dễ sử dụng, ít tốn kém nhưng lại mang lại hiệu quả cao (lượng
bản sao gen biến nạp ít tạo thuận lợi cho việc phân tích cây chuyển gen và không gây tổn
thương tế bào). Hầu hết các nghiên cứu chuyển gen vào cây lâm nghiệp đã công bố đều
sử dụng vector trung gian là vi khuẩn A. tumefaciens (Chen và cs, 2001; Han và cs, 2000;
Vengadesan và cs, 2006;…) [17].
Ở cây rừng, một số tính trạng có giá trị kinh tế như tính chất gỗ (hàm lượng
cellulose, hàm lượng lignin, chiều dài sợi gỗ ...) và khả năng ra rễ... do nhiều gen
(polygene) quy định. Những gen này tùy từng giai đoạn phát triển của cây mà có ảnh
hưởng nhất định, tuy nhiên, trong đó có những gen chính (major genes) có ảnh hưởng lớn
đến biểu hiện tính trạng của cây.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
3
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Đối với tính trạng chiều dài sợi gỗ, các nhà khoa học đã xác định được một số gen
chính có ảnh hưởng đến tính trạng này, trong đó có gen EcHB1 (accession number:
AB458829). Gen EcHB1 được xác định là mã hóa cho nhân tố phiên mã HD-Zip class II
ở Bạch đàn trắng (E. camaldulensis) và thường biểu hiện ở thân trưởng thành và tế bào
vệ nhờ một cơ quan dưới mặt đất gọi là “củ gỗ” và cơ chế phát triển nhanh nhờ chồi bất
định và búp phụ, do đó cây có khẳ năng thích nghi cao với nhiều loại lập địa và khí hậu
lại cho năng suất tương đối cao (18-20m3/ha/năm).
Trên thế giới Bạch đàn là cây trồng rừng sản xuất chính với diện tích ngày càng
được mở rộng. Theo số liệu công bố năm 2009, rừng trồng Bạch đàn năm 2009 đã đạt
khoảng 19,5 triệu ha tại 3 châu lục lớn là Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á-Thái Bình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
5
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Dương, Ấn Độ là nước có diện tích rừng trồng Bạch đàn lớn nhất thế giới, năm 2009 ước
tính có khoảng 3,9 triệu ha (Nguồn www.git-forestry.com).
Ở Việt Nam, cây Bạch đàn được người Pháp đưa vào gây trồng từ trước năm 1945,
song việc gây trồng Bạch đàn trên quy mô lớn mới chỉ được bắt đầu từ năm 1960 (Bùi
Thị Huế). Trong một thời gian ngắn, cây Bạch đàn đã phát triển mạnh mẽ và trở thành
một trong số các loài cây lâm nghiệp trồng rừng quan trọng của nước ta hiện nay.
Bạch đàn là nhóm cây được trồng rộng rãi ở nước ta, đặc biệt là các tỉnh miền
Trung và miền Nam. Đây cũng là cây trồng chủ yếu trên các đường nông thôn, các bờ
vùng, bờ thửa ở đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu và
gây trồng nhiều năm qua cho thấy nhiều loài Bạch đàn được nhập vào nước ta chỉ một số
loài sinh trưởng nhanh và có khả năng thích ứng lớn. Trong đó, đáng chú ý là các loài
Bạch đàn urô (E. urophylla), Bạch đàn tere (E. tereticornis) và Bạch đàn trắng (E.
camaldulensis), Bạch đàn liễu (E. exserta). Ở những nơi thấp Bạch đàn urô (E.
urophylla) có thể mọc lẫn với Bạch đàn trắng (E. alba) (Martin and Cossalater, 1975 1976). Bạch đàn urô là cây thích hợp với các lập địa có vùng đất sâu ẩm ở các tỉnh miền
Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Các xuất xứ có triển vọng nhất cho vùng trung tâm
miền Bắc là Lewotobi và Egor Flores (Lê Đình Khả, 1996). Egor Flores cũng là một
trong những xuất xứ có triển vọng nhất ở Mang Linh và Hang Hanh của vùng Đà Lạt (Lê
Đình Khả, 1996; Phạm Văn Tuấn và cs, 2000) [7][14].
rất nhiều so với giống bố mẹ (Lê Đình Khả, 1970) [5]. Từ năm 1994, những nghiên cứu
về lai nhân tạo cho một số loài Bạch đàn đã được tiến hành tại Trung tâm Nghiên cứu
Giống cây rừng và đã tạo được hàng chục tổ hợp lai thuận nghịch trong loài và khác loài
ở 3 loài Bạch đàn chính của nước ta là Bạch đàn urô (E. urophylla), Bạch đàn trắng (E.
camaldulensis) và Bạch đàn liễu (E. exserta). Qua khảo nghiệm đã chọn được 31 cây trội
trong 8 tổ hợp lai Bạch đàn có năng suất cao hơn giống sản xuất tốt nhất trên 30%.
Những giống này đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống
tiến bộ kỹ thuật và cho phép triển khai khảo nghiệm trên các vùng sinh thái khác nhau.
Nghiên cứu lai giống Bạch đàn cũng cho thấy một số tổ hợp lai có hiệu suất bột giấy cao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
7
http://www.lrc.tnu.edu.vn
hơn, trong lúc độ bền của giấy tương đương với các loài bố mẹ (Lê Đình Khả và Nguyễn
Việt Cường, 2001) [4].
Ở Việt Nam từ các năm 1996 – 2000, Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng thuộc
Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tạo được gần 80 tổ hợp lai trong loài và lai khác
loài giữa các loài Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla), Bạch đàn trắng (E.
camaldulensis) và Bạch đàn liễu (E.exserta).
Giai đoạn 2001-2010 nghiên cứu lai giống cho các loài bạch đàn đã tạo được trên
100 tổ hợp lai đôi, ba cho các loài cho 7 loài bạch đàn là Bạch đàn urô, Bạch đàn tere
(E.tereticornis), Bạch đàn trắng (E. camaldulensis) , Bạch đàn grandis (E. grandis), Bạch
đàn saligna (E. saligna), Bạch đàn microcorys (E.microcorys), Bạch đàn pellita
(E.pellita). Sau 2 năm tại đất đồi trọc nghèo dinh dưỡng ở Cẩm Quỳ- Ba Vì- Hà Nội,
năng suất của các tổ hợp lai P18U29 đạt 17,3dm3/cây vượt mẹ (P18) là 316%, vượt bố
của chúng (U29) là 363% về thể tích, còn vượt giống lai đối chứng nhập từ Brasin GU8
là 160%. Tổ hợp lai U29S6 có thể tích thân cây đạt 16,62dm3/cây vượt thể tích của mẹ
(U29) là 349% và vượt giống lai đối chứng GU8 là 153%. Tại hiện trường Minh ĐứcBình Phước sau 2 năm tổ hợp lai T1P17, C18P17, P18U29C3, P18U29 và C9G15 đạt thể
Bảng 1.1. Sinh trưởng dòng Bạch đàn lai cự vĩ và vĩ hệ ở Quảng Ninh (2007-2009)
Kí hiệu
IG01
IG02
IG03
IG04
U6
Tên KH
UxG
GxU
UxG
UxT
Uro
(BĐ cự vĩ)
(BĐ cự vĩ)
(BĐ cự vĩ)
Hải Hà- QN
Hải Hà- QN
Hải Hà- QN
Hải Hà- QN
D.tích (ha)
246
1,2
1,7
1
3,6
Mật độ
1500
1500
1500
1500
10
http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.3. Kỹ thuật chuyển gen thực vật
1.3.1 Khái niệm chuyển gen
Kỹ thuật chuyển gen là kỹ thuật đưa một hay nhiều gen lạ đã được thiết kế ở dạng
DNA tái tổ hợp vào tế bào chủ của cây trồng nói riêng và của các sinh vật nói chung (vi
sinh vật, động vật,..) làm cho gen lạ có thể tồn tại ở dạng plasmit tái tổ hợp hoặc gắn vào
bộ gen tế bào chủ. Trong tế bào chủ, các gen này hoạt động tổng hợp nên các protein đặc
trưng dẫn tới việc xuất hiện các đặc tính mới của cơ thể chuyển gen (Nguyễn Quang
Thạch và cs, 2005) [10].
Chuyển gen ở thực vật có ý nghĩa lớn về mặt khoa học, nó khẳ ng đinh
̣ tn
́ h khách
quan tự nhiên của vâ ̣t chấ t di truyề n: khả năng mã hóa cho các t n
̣ khả
́ h tra ̣ng nhấ t đinh,
năng phiên ma,̃ dich
̣ mã và khả năng di truyề n. Thông qua chuyể n gen, cách nhà sinh lý,
hóa sinh và di truyề n có thể nghiên cứu các quá tr n
̀ h điề u khiể n, thể hiê ̣n và ảnh hưởng
của các yế u tố di truyề n và ngoa ̣i cảnh lên hoa ̣t đô ̣ng của gen.
Các phương pháp chuyển gen cho cây trồng
Có nhiều phương pháp chuyển gen vào thực vật nhưng có thể phân loại thành hai
nhóm phương pháp chính: phương pháp chuyển gen gián tiếp và phương pháp chuyển
gen trực tiếp.
Phương pháp chuyển gen trực tiếp
- Phương pháp chuyển gen nhờ kỹ thuật xung điện
chọn của các nhà khoa học và các nhà chọn tạo giống trên thế giới.
* Đặc điểm chung của vi khuẩn A. tumefaciens
Agrobacterium là các vi khuẩn đất nhuộm gram (-) gây ra các triệu chứng bệnh ở
cây khi xâm nhiễm qua vết thương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
12
http://www.lrc.tnu.edu.vn
A. tumerfaciens có khả năng chèn gen của mình vào thực vật và sau đó sử dụng bộ
máy thực vật để biểu hiện các gen này dưới dạng hợp chất dinh dưỡng cho chúng. A.
tumerfaciens sẽ tạo ra các khối u thực vật gần điểm tiếp nối giữa rễ và thân, gây ra những
nốt sần ở cây (bệnh mụn cây - crown gall disease), khi đó các tế bào khối u ở thực vật có
gắn một đoạn DNA từ vi khuẩn. Khi phân tích khối u cho thấy trong khối u có sự hình
thành một số vật chất như: nopaline, octopine gọi chung là opine. Các chất này không hề
có trước đó và không hề có ở cây trồng thông thường. Như vậy vi khuẩn đã truyền vào
cây qua vết thương một tác nhân gây bệnh cho cây và tác nhận này có bản chất là vật chất
di truyền.
Hình 1.1. Sơ đồ Ti-Plasmit
(Nguồn: http://www.wikipedia.org)
Qua nghiên cứu người ta kết luận rằng tác nhân gây u này chính là Ti-plasmit có
trong vi khuẩn A.tumerfaciens.
Đây là một plasmit được cấu tạo bao gồm một phân tử DNA kép, vòng tròn lớn có
kích thước 200kb, có khả năng tái bản độc lập với sự tái bản của DNA nhiễm sắc thể của
vi khuẩn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
14
http://www.lrc.tnu.edu.vn
photphoryl hóa (Jin và cs., 2001) và kích hoạt sao mã của các gen vir B, C, E, F, G, H
(Ziemienowcz, 2001).
Hình 1.2. Quá trình chuyển T-DNA từ A. tumefaciens sang tế bào thực vật
Tiếp đó các protein được mã hóa bởi vir D, vir E thực hiện chức năng giải phóng
sợi T-DNA, protein D2 cắt T-DNA tại vị trí 5' của bờ phải và 3' của bờ trái và giải phóng
sợi T-DNA, protein E2 bảo vệ T-DNA khỏi sự phân giải của enzyme nuclease trong cây
(Deng và cs,. 1998). Đồng thời thực hiện chức năng này có các protein vir C1, vir C2 có
tác dụng tăng cường việc giải phóng T-DNA.
Sự chuyển phức hợp T-DNA do operon vir B đảm nhiệm. Vir B có chức năng tạo
kênh xuyên qua màng tế bào giúp chuyển sợi đơn T-DNA vào nhân tế bào. Đồng thời
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
15
http://www.lrc.tnu.edu.vn
protein vir B4, vir B11 có hoạt tính ATPase cung cấp năng lượng cho vận chuyển TDNA (Zhu và cs, 2000).
Như vậy thực chất đã có một hệ thống chuyển gen của vi khuẩn đất vào cây trồng
tồn tại trong tự nhiên.
1.3.2. Nghiên cứu tạo giống Bạch đàn chuyển gen
Đến nay trên thế giới, phương pháp chuyển gen vào Bạch đàn phổ biến nhất được
sử dụng là chuyển gen thông qua vi khuẩn A. tumefaciens (Chirqui và cs, 1992;
Spokevicius và cs, 2005; Mullins và cs, 1997; Machado và cs, 1997; Spokevicius, 2005)..
nghiên cứu khác của Kwasu và cs được tiến hành vào năm 2003 trên đối tượng E.grandis
x E.urophyllac thử nghiệm chuyển gen mtCS từ Cà rốt đã thu được những dòng chuyển
gen thích ứng được với điều kiện đất bị chua do cải thiện kênh dẫn truyền photphat vô cơ
trên loại lập địa này. Năm 2003- 2004, Shani và cs đã đã tạo thành công 25 dòng cây
Bạch đàn camal và grandis chuyển gen Cbd và cel1 là 2 gen mã hoá cho cellulose trong
chu trình sinh tổng hợp cellulose. Kết quả nghiên cứu cho thấy 2 gen này biểu hiện hoạt
động mạnh hơn và dẫn đến việc phân chia tế bào trong cây nhanh hơn và các thành tế bào
được kéo dài hơn. Họ tiến hành chuyển gen này vào E. camaldulensis, E. grandis và các
dòng lai của nó.
Để tăng cường cho Bạch đàn chống chịu với các điều kiện bất lợi như khả năng
chịu lạnh, mặn, chua, khô hạn. Năm 2003, Yamada- Watanabe và cs đã chuyển gen chịu
mặn cod A từ Arthrobacter globiformis vào Bạch đàn. Công ty giấy Nhật Bản Oji paper
đã chuyển gen ti thể citrate synthetase vào Bạch đàn lai E. grandis x E. urophylla nhằm
tăng cường khả năng hấp thu phosphate vô cơ trong môi trường đất chua. Theo Kondo và
cs, 2003 [31]; Ishige và cs, 2004 đã chuyển gen dreb1 vào Bạch đàn nhằm tăng khả năng
chịu hạn hán cũng như chịu mặn.
Tại Việt Nam, nghiên cứu tạo giống Bạch đàn chuyển gen vẫn còn khá mới mẻ và
phát triển chậm. Một số thử nghiệm bước đầu đang được tiến hành, tuy nhiên tính cho
đến nay vẫn chưa có kết quả nào được công bố.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
17
http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.4. Gen mục tiêu EcHB1
1.4.1. Vai trò của nhân tố phiên mã trong sinh trưởng của thực vật
Nhân tố phiên mã (transcription factors) là những protein được gắn vào điểm đặc
biệt của trình tự ADN và kiểm soát sự phiên mã của gen. Nhân tố phiên mã thực hiện
chức năng của mình bằng cách tăng cường hoạt hóa hoặc kìm hãm tốc độ phiên mã của
quan đến chất lượng ánh sáng (Carabelli và cs, 1996), ATHB8 thuộc phân nhóm III có
chức năng kiểm soát sự phát triển của tượng tầng trong quá trình biệt hóa tế bào (Baima
và cs, 1995), ATHB10/GLABRA 2 thuộc phân nhóm IV có chức năng kiểm soát sự biệt
hóa các dạng khác nhau của tế bào trichomes trên lá và thân, và tế bào lông rễ (Di
Cristina và cs, 1996) [21].
Nhiều nhân tố phiên mã chỉ hoạt động khi có sự thay đổi của điều kiện sống.
Nghiên cứu trên cây Arabidopsis cho thấy nhóm nhân tố phiên mã CBF/DREB1 chỉ hoạt
động trong điều kiện lạnh, nhân tố phiên mã CBF4 hoạt động trong điều kiện hạn và các
nhân tố phiên mã này hoạt động để thúc đẩy sự biểu hiện của các gen liên quan đến tính
chống chịu với điều kiện bất lợi này (Haake và cs, 2002) [25].
1.4.2. Nhân tố phiên mã EcHB1
Năm 2009, Sonoda và cộng sự đã phân tích biểu hiện của các gen nhân tố phiên mã
trong mô gỗ Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis) bằng kỹ thuật microsarray và đã
phân lập được 21 gen nhân tố phiên mã liên quan đến quá trình sinh tổng hợp lignin và
cellulose và các gen này thuộc nhóm HD-Zip phân nhóm II.
Gen EcHB1 – nhân tố phiên mã liên quan đến việc hình thành và phát triển sợi gỗ
đã được phân lập từ các nhóm gen nhân tố phiên mã trên Bạch đàn trắng (Eucalyptus
camaldulensis) và vai trò của gen này đã được đánh giá thông qua việc phân tích biểu
hiện của gen
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
19
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Hình 1.3. Trình tự gen EcHB1 được tách dòng từ Bạch đàn E. Camaldulensis
Bằng phương pháp phân tích RT-PCR cho thấy gen EcHB1 này biểu hiện ở thân
thành thục 5 tuổi (mature stem) và mô rễ (1 tuổi) của Bạch đàn trắng.
Sử dụng kỹ thuật microarray cho thấy ở Bạch đàn biến nạp gen E. camaldulensis
http://www.lrc.tnu.edu.vn
CHƯƠNG 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu
Tạo được dòng Bạch đàn lai mang gen tăng chiều dài sợi gỗ ( EcHB1)
2.2. Đối tượng
Cây Bạch đàn lai trội UU dòng 89 được Viện Giống và Công nghệ sinh học Lâm
nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cung cấp.
Chủng vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens (GV3101) có chứa vector nhị thể
(pGWB2) mang gen làm tăng chiều dài sợi gỗ (EcHB1) được phòng thí nghiệm tại Viện
Nghiên cứu RIKEN (Nhật Bản) cung cấp.
2.3. Nội dung
- Xác định các điều kiện phù hợp cho tái sinh từ nguồn vật liệu được tuyển chọn
- Nghiên cứu chuyển gen EcHB1
- Xác định sự có mặt của gen EcHB1 trong cây chuyển gen (chọn lọc kháng sinh,
Kỹ thuật PCR).
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Vật liệu nghiên cứu
2.4.1.1. Mẫu nghiên cứu
Vật liệu sử dụng trong nghiên cứu là đoạn thân, cây Bạch đàn invitro từ cây Bạch
đàn lai trội UU89
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
22
http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.4.4.1. Xác định các điều kiện phù hợp cho tái sinh từ nguồn vật liệu được tuyển
chọn
Ø
Tạo mẫu Bạch đàn invitro
Đoạn thân của các dòng Bạch đàn lai UU89 được thu thập, cắt bỏ lá, được rửa dưới
vòi nước chảy khoảng 5 phút, sau đó được rửa sạch lại bằng nước cất đã khử trùng và
được khử trùng bằng HgCl2 0,1% với thời gian khử trùng là 3 phút, 5 phút, 7 phút, 9
phút, 11 phút. Cuối cùng là rửa sạch mẫu bằng nước cất đã khử trùng. Sau đó được nuôi
trong môi trường MS cơ bản bổ sung thêm đường 8g/l, pH= 5.8, nuôi dưới ánh đèn Neon,
có cường độ sáng 2500 lux với thời gian 12 giờ sáng/12 giờ tối.
Ø
Ảnh hưởng của BAP và NAA đến khả năng nhân nhanh chồi
Chồi Bạch đàn invitro được cắt thành các đoạn nhỏ có chiều dài 1-1,5cm với 2-4
nách lá. Mẫu được cấy trên môi trường tạo đa chồi có thành phần:
Bảng 2.1. Thành phần môi trường nhân nhanh chồi
CT TN
BAP (mg/l)
NAA (mg/l)
ĐC
0
0
CT6
1
0.5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
24
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Các đoạn chồi được nuôi trong tối với thời gian 1 tuần, sau đó được nuôi trong điều
kiện chiếu sáng 16giờ/ngày, nhiệt độ phòng nuôi 25 oC ± 2oC. Cường độ chiếu sáng 2500
lux.
Chỉ tiêu đánh giá: HSNC, chất lượng chồi.
Ø
Ảnh hưởng của BAP và NAA đến khả năng tái sinh chồi
Đoạn thân cây in-vitro được cắt thành các đoạn nhỏ có chiều dài 5-10mm (không
có mắt ngủ). Mẫu được cấy trên các công thức môi trường tái sinh (CT1 – CT16):
Bảng 2.2. Thành phần môi trường tái sinh
CT TN
BAP (mg/l)
K (mg/l)
CT6
1.5
CT7
0.3
0.2
CT8
0.5
0.2
CT9
0.7
0.2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
25
http://www.lrc.tnu.edu.vn