BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KH&CN CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG THƯ VIỆN PHIM ẢNH,
PHÓNG SỰ VỀ MÔI TRƯỜNG PHỤC VỤ CÔNG TÁC
GIẢNG DẠY VÀ TRUYỀN THÔNG MÔI TRƯỜNG
S
K
C
0
0
3
9
5
9
MÃ SỐ: T2011- 93
S KC 0 0 3 3 4 5
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--- * ---
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KH&CN CẤP TRƢỜNG
“Nghiên cứu và xây dựng thư viê ̣n phim ảnh,
phóng sự về môi trường phục vụ công tác giảng dạy
và truyền thông môi trường”
Mã số: T2011-93
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Tịnh Ấu
TP. HCM, 12/2011
-2-
Nghiên cứu khoa học
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
Lý do chọn đề tài
1
22
I. Hình ảnh
23
II. Clip
43
III. Phim về môi trường
44
Chƣơng 3. Ứng dụng thƣ viện phim ảnh về môi trƣờng trong giáo dục và
truyền thông
I. Hướng dẫn sử dụng thư viện
45
II. Một số phần mềm ứng dụng
45
Kết luận và kiến nghị
55
Tài liệu tham khảo
Tp. HCM, ngày 25 tháng 11 năm 2011
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Thông tin chung:
- Tên đề tài: Nghiên cứu và xây dựng thư viê ̣n phim ảnh, phóng sự về môi
trường phục vụ công tác giảng dạy và truyền thông môi trường
- Mã số: T2011-93
- Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Tịnh Ấu
- Cơ quan chủ trì: Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
- Thời gian thực hiện: 1/2011-12/2011
2. Mục tiêu:
Xây dựng bộ tư liệu phim, hình ảnh, clip, phóng sự về môi trường
3. Tính mới và sáng tạo:
Ứng dụng
4. Kết quả nghiên cứu:
Thư viện phim ảnh và phóng sự về môi trường phục vụ công tác giảng dạy
và truyền thông môi trường
5. Sản phẩm:
Đĩa CD tổng hợp các tài liệu về phim ảnh và phóng sự về môi trường
6. Hiệu quả, phƣơng thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp
dụng:
- Nâng cao hiệu quả giảng dạy
- Nâng cao công tác truyền thông môi trường trong Sinh viên
Trƣởng Đơn vị
(ký, họ và tên, đóng dấu)
Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ và tên)
-5-
Hiện nay, tư liệu về môi trường như các hình ảnh, phóng sự, video clip mô
phỏng các qui trình công nghệ, các chu trình trong sinh quyển…dành cho giảng
-6-
Nghiên cứu khoa học
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
dạy vẫn còn thiếu và chưa được thống kê đồng bộ. Bên cạnh đó, vấn đề giáo dục
và truyền thông môi trường trong trường ĐHSPKT nói riêng vẫn chưa hiệu quả.
Vì thế việc xây dựng đề tài “Nghiên cứu và xây dựng thư viê ̣n phim ảnh, phóng
sự về môi trường phục vụ công tác giảng dạy và truyền thông môi trường ” là rất
cần thiết để việc giảng dạy cũng như truyền thông được hiệu quả hơn
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là xây dựng thư viện các phim, hình
ảnh, clip, phóng sự về môi trường để phục vụ công tác giảng dạy và truyền thông
về môi trường
3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục và truyền thông môi trường.
- Nghiên cứu kiến thức cơ bản về môi trường và ô nhiễm môi trường
- Xây dựng thư viện phim ảnh về môi trường.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
a) Phương pháp thực hiện đề tài:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Đọc tài liệu, phân tích, khái quát và tổng hợp kiến thức liên quan đến giáo
dục về truyền thông môi trường. Chọn lọc các kiến thức về giáo dục về truyền
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I. Môi trƣờng và các vấn đề môi trƣờng
I.1. Khái niệm môi trƣờng.
a. Môi trường là gì?
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005
quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao
quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của
con người và sinh vật”.
b. Cấu trúc của môi trường tự nhiên:
Môi trường tự nhiên có 2 thành phần cơ bản: môi trường vật lý và môi
trường trường sinh vật.
- Môi trường vật lý là thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên, bao gồm đất,
nước, không khí, nhiệt độ, nguyên tố hoá học…
- Môi trường sinh vật là thành phần hữu sinh của môi trường tự nhiên, bao gồm
động vật, thực vật, vi sinh vật, vi khuẩn…
c. Những chức năng cơ bản của môi trường:
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
- Là không gian sống của con người và các loài sinh vật;
- Là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của
con người;
- Là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt
động sản xuất của mình;
- Là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật
trên trái đất;
- Là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
-9-
lý và gắn kết với phát triển. Vào thời điểm định nghĩa này được phát biểu, người ta
thường chỉ xem xét môi trường và các vấn đề về môi ttrường ở khía cạnh lý sinh.
Thuật ngữ “GDMT” cũng đã được sử dụng trong Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất
về Môi trường nhân văn tại Stokholm năm 1972, nhưng chỉ đến Hội nghị ở
- 10 -
Nghiên cứu khoa học
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Belgrade, GDMT mới được định nghĩa trên quy mô toàn cầu. Kể từ đó, cộng đồng
quốc tế thừa nhận định nghĩa về GDMT là “quá trình nhằm phát triển một cộng
đồng dân cư có nhận thức rõ ràng và quan tâm đến môi trường cũng như các vấn
đề liên quan, có kiến thức, kỹ năng, động cơ và sẵn sàng làm việc độc lập hoặc
phối hợp nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề hiện tại và phòng chống các vấn
đề có thể nảy sinh trong tương lai”.
Từ đó đến nay, ý nghĩa và khái niệm GDMT đã có nhiều thay đổi. Ban đầu,
nội dung của GDMT rất hạn chế, chỉ tập trung vào dạy và học các vấn đề môi
trường địa phương, kể cả môi trường tự nhiên và nhân tạo. Nội dung giáo dục
cũng chỉ tập trung vào những mặt sinh học và địa lý khi nghiên cứu môi trường.
Hội nghị Liên chính phủ lần thứ nhất về GDMT tại Tbilisi (Liên Xô cũ) năm 1977
đã kêu gọi đại biểu đưa ra một cách tiếp cận mới mang tính toàn diện và liên
ngành hơn. Tại hội nghị này, cộng đồng quốc tế đã khẳng định và nhất trí với định
nghĩa về GDMT ở trên, đồng thời nhất trí về các mục tiêu của GDMT như hiện
nay.
Những khuynh hướng mới trong GDMT thừa nhận rằng các hành vi môi
trường không chỉ bị ảnh hưởng bởi kiến thức mà còn bị chi phối bởi cách nhìn
nhận về giá trị môi trường, phương án lựa chọn, kỹ năng và những nhân tố thúc
đẩy khác. GDMT hiện đại, như định nghĩa của Hiệp hội GDMT Bắc Mỹ năm 1993
là “một quá trình giúp người học tiếp thu kiến thức, kỹ năng và những kinh
giáo dục nhân cách, giáo dục nhân quyền, giáo dục hòa bình và giáo dục để phát
triển bền vững. Trừ khái niệm GDMT và giáo dục để phát triển bền vững, những
khái niệm “giáo dục” khác có rất ít điểm chung và chỉ tập trung vào một lĩnh vực
hẹp, cụ thể. Những người làm GDMT nhận thấy khi trọng tâm giáo dục được mở
rộng, các khái niệm cơ bản như phát triển, môi trường, nhân quyền, hòa bình sẽ bổ
sung cho nhau.
Ý tưởng về mở rộng trọng tâm của từng lĩnh vực ngày càng được quan tâm
hơn. Điều này thể hiện bằng việc chuyển hướng từ một quan điểm có tính chia
tách thực tế thành một quan điểm chấp nhận gắn kết tất cả những lĩnh vực này lại
với nhau. Như vậy, ý nghĩa và trọng tâm của GDMT đã được mở rộng rất nhiều
khi mục tiêu chính của GDMT là hướng tới phát triển bền vững.
Với quan điểm và cách nhìn như vậy, một định nghĩa tương đối mới về
GDMT được đưa ra là: “GDMT là một quá trình phát triển những tình huống dạy /
học hiệu quả giúp người dạy và người học tham gia giải quyết những vấn đề môi
- 12 -
Nghiên cứu khoa học
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
trường liên quan, đồng thời tìm ra một lối sống có trách nhiệm và được thông tin
đầy đủ” (Jonathon Wigley, 2000).
Điều quan trọng là tất cả những định nghĩa khác nhau này đều có một số
điểm cơ bản chung sau:
* GDMT là một quá trình diễn ra trong một khoảng thời gian ở nhiều địa điểm
khác nhau, thông qua những kinh nghiệm khác nhau và bằng những phương thức
khác nhau.
* GDMT nhằm thay đổi hành vi.
* Môi trường học tập là chính môi trường và các vấn đề có trong thực tế.
* GDMT liên quan đến việc giải quyết vấn đề và ra quyết định về cách sống.
* Kỹ năng: GDMT cung cấp các kỹ năng cho việc xác định, dự đoán, ngăn ngừa
và giải quyết các vấn đề môi trường.
* Sự tham gia: GDMT cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng cơ hội tham gia
tích cực vào giải quyết các vấn đề môi trường cũng như đưa ra các quyết định môi
trường đúng đắn.
II.3. Những vấn đề mà giáo dục môi trường nhằm phát triển ở người học:
a) Về kiến thức và hiểu biết
Các hoạt động giáo dục môi trường sẽ được thiết kế và thực hiện nhằm giúp
người học làm quen với các khái niệm : bảo vệ và bảo tồn, giảm tiêu thụ, tái sử
dụng và tái chế; các chu trình khép kín, cái cần có và cái muốn có; sự phụ thuộc
lẫn nhau; chi phí và lợi ích thu được; tăng trưởng và suy thoái; kiểm toán về tác
động và sử dụng các nguồn cung cấp; hình thành và duy trì quan hệ đối tác, các
kiểu liên kết, nguyên nhân-hậu quả, chuỗi-mạng, tư duy một cách toàn cầu và
hành động một cách cục bộ.
Trong thực tiễn sư phạm, mỗi ngôi trường cụ thể thuộc về một vùng địa lý
cụ thể, nằm trong một bối cảnh văn hóa cụ thể, sẽ có một nhu cầu GDMT tương
ứng. Điều này quyết định đến việc lựa chọn những nội dung và phương thức thực
hiện phù hợp. Việc xác định và lựa chọn đúng các vấn đề môi trường có liên quan
trực tiếp đến người học sẽ giúp người học tham gia một cách tự nhiên và quá trình
giải quyết vấn đề bằng một thái độ tự nguyện và bằng những hành động có trách
nhiệm.
b) Về thái độ và hành vi
Các hoạt động GDMT sẽ được thiết kế và thực hiện nhằm giúp người học
hiểu biết các giá trị của môi trường và vai trò cá nhân của mình trong việc giữ gìn
- 14 -
Nghiên cứu khoa học
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Nghiên cứu khoa học
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Cũng vì thế ngày 5/6 hàng năm trở thành Ngày môi trường thế giới
Hội nghị tuyên bố: GDMT là rất cần thiết để làm cơ sở cho nhận thức và
hành vi có trách nhiệm của cá nhân và tổ chức trong việc bảo vệ và cải thiện môi
trường. Điều 96 của hội nghị yêu cầu sự phát triển của GDMT như là một yếu tố
quyết định nhất để tấn công vào cuộc khủng hoảng môi trường trên toàn cầu.
Sau hội nghị họp tại Stockholm, ở nhiều nước, GDMT đã được đưa vào các
trường học. Đến năm 1973, người ta thấy có khoảng 1000 chương trình được
giảng dạy tại 750 trường và viện thuộc 70 nước khác nhau. Tuy nhiên, mục đích
và nội dung của GDMT lúc đó chưa được xác định rõ ràng, phải đợi đến các hội
nghị quốc tế sau, vấn đề này mới được giải quyết và hoàn thiện.
Tháng 10 năm 1975, tại hội nghị quốc tế và GDMT họp tại Bengrat (Nam
Tư), lần đầu tiên UNESCO (Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục của LHQ) đã
khởi thảo một chương trình GDMT quốc tế (IEEP). Tiếp sau đó, nhiều hội thảo
khu vực về GDMT được tổ chức. Hội thảo của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương
được tổ chức vào tháng 10 năm 1976 tại Bangkok (Thái Lan). Hội thảo đã đưa ra
15 kiến nghị thuộc bốn vấn đề: chương trình GDMT, đào tạo bồi dưỡng giáo viên,
GDMT phi chính qui và vấn đề soạn thảo các tài liệu, xây dựng các phương tiện
phục vụ GDMT.
Đầu tháng 8 năm 1987, UNESCO và UNEP(Chương trình môi trường
LHQ) lại phối hợp tổ chức hội nghị quốc tế về GDMT tại Maxcova, có đại diện
của 100 nước và nhiều tổ chức quốc tế tham dự về chương trình hành động GDMT
cho thập kỷ 90. Hội nghị quyết định đặt tên cho thập kỷ 90 là Thập kỷ toàn thế
giới cho GDMT
Với tinh thần trên, tháng 10 năm 1990 tại Paris, UNESCO và UNEP tổ
chức ở hội nghị quốc tế với sự tham gia của nhiều tổ chức quốc tế thuộc LHQ. Hội
Tăng cường năng lực của Bộ GD&ĐT trong việc truyền đạt những nội
dung và phương pháp GDMT vào các chương trình đào tạo giáo viên.
Xây dựng các hoạt động GDMT cụ thể để thực hiện ở cấp tiểu học và trung
học
Các mục tiêu trên được thực hiện ở mức chi tiết và cụ thể trong thực tiễn
thông qua dự án VIE98/018
Ở các trường đại học, GDMT được coi như một nội dung quan trọng trong
các giáo trình: Con người và môi trường, Dân số, tài nguyên môi trường ở các
khoa của tất cả các trường đại học đã có các môn học về môi trường.
- 17 -
Nghiên cứu khoa học
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
III. Truyền thông môi trƣờng
Cho dù không nhắc đến cụm từ “Truyền thông môi trường”, song nội dung
của giải pháp cho thấy công tác truyền thông môi trường đã được ưu tiên như một
trong những hành động cần phải thực hiện để bảo vệ môi trường trong thời gian
tới.
Nói cách khác, bảo vệ môi trường là trách nhiện của mọi công dân, của
toàn xã hội. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để mọi người có thể hiểu được
trách nhiệm của mình để cùng tham gia vào sự nghiệp chung - Bảo vệ môi trường.
Đó là một trong những vấn đề đầy thách thức đối với những người làm
công tác quản lý môi trường, các nhà giáo dục và nâng cao nhận thức về bảo vệ
môi trường, đặc biệt đối với những ai có tâm huyết với công tác truyền thông môi
trường, trong bối cảnh quốc gia đang đối mặt với nhiều vấn đề nan giải – Tăng
trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường – Tăng dân số nhanh với xoá đói giảm
nghèo.
Khái niệm “Truyền thông” mới được du nhập vào nước ta trong vài ba thập
wiýời
gửi
Người nhận
Ý tưởng
Suy nghĩ
Tình cảm
Mã hoá
nh
tải thông điệp
cảmChuyển iải
mã
Chấp nhận thông điệp
Giải mã
iải
mã
* Khái niệm về truyền thông môi trường
Khái niệm truyền thông môi trường được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn
cầu từ năm 1972. Trong báo cáo về Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường Con
người – Stockholm, 5-16 tháng 6 năm 1972, Chương trình Hành động về Giáo
dục, Đào tạo và thông tin Cộng đồng, lúc đó được xác định là một trong các biện
pháp hỗ trợ cho các ưu tiên chính của công tác bảo vệ môi trường toàn cầu – đánh
giá và quản lý môi trường.
Truyền thông môi trường “sinh sau đẻ muộn” hơn so với truyền thông dân số
- kế hoạch hoá gia đình. Tuy vậy truyền thông môi trường lại được thụ hưởng rất
nhiều kinh nghiệm rút ra từ các quá trình truyền thông khác, nhất là những đột phá
của nền khoa học kỹ thuật thê giới, trong đó có công nghệ thông tin trong những
chủ động chia se hành vi trách nhiệm, không dừng lại tiếp thu thụ động các thông
tin.
Bất cứ một chương trình bảo vệ môi trường nào mà có ý đồ “bỏ qua” hay
“rút ngắn” quá trình truyền thông môi trường, bằng cách đưa ra những thông điệp
rồi “hô hào” mọi người tham gia, cũng chỉ tạo ra các ảnh hưởng rất hạn chế, thậm
chí gây ra các tác động tiêu cực đối với các đối tượng truyền thông.
Các đối tượng truyền thông môi trường có những cách tư duy khác nhau, có
vốn từ vựng khác nhau, thậm chí có những cách diễn giải khác nhau về một bức
tranh áp phích hay một cuốn phim được đưa ra áp đặt cho các chương trình truyền
thông môi trường. Vì vậy, những ai - sẽ là các cán bộ truyền thông môi trường
tương lai - phải hết sức chú ý đến các thái độ, các khuynh hướng và thậm chí cả
các quá trình suy tư của các nhóm đối tượng truyền thông cụ thể, nhằm thiết kế
- 20 -
Nghiên cứu khoa học
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
các chương trình truyền thông sao cho giải quyết được các vấn đề đặc biệt quan
tâm.
Nội dung của các chương trình truyền thông phải: (1) dựa vào các thông tin
của bản thân các thành viên trong nhóm đối tượng truyền thông; (2) được tiền trắc
nghiệm với chính các đối tượng truyền thông để đảm bảo chương trình truyền
thông môi trường được thiết kế chuẩn mực.
* Tại sao lại cần truyền thông môi trường
Các dự án/ chương trình môi trường thường đem lại kết quả hạn chế, vì
những sự đổi mới và giải pháp của dự án hay chương trình đưa ra không được
những người có liên quan hiểu rõ và cùng tham gia.
Những người thực hiện các dự án hay chương trình môi trường thường nghĩ
Là mắt xích để gắn kết các vấn đề môi trường với quá trình hoạch định chính
sách và sự tham gia của người dân.
Quan tâm tới lợi ích của đối tượng truyền thông /cộng đồng.
Cách thức truyền thông cần phù hợp với đối tượng truyền thông, có nghĩa là
cần phải đơn giản, cụ thể và phù hợp về văn hoá - xã hội.
Truyền thông có định hướng tới các vấn đề cần được giải quyết, hay các nhu
cầu của cộng đồng.
Tính tới chi phí - hiệu quả và có tính sáng tạo bằng cách sử dụng các cơ sở
vật chất, nguồn nhân lực, phương tiện truyền thông sẵn có ở địa phương, hơn là dựa
vào các sản phẩm truyền thông đắt tiền.
Trao quyền cho cộng đồng.
Có sự hợp tác giữa những người có trình độ khác nhau, chức năng khác nhau
(giữa các cấp chính quyền, các tổ chức cộng đồng, khu vực tư nhân, các cơ quan
nghiên cứu…).
Kết hợp các kênh, phương tiện, sản phẩm truyền thông khác nhau.
Thử nghiệm trước sản phẩm truyền thông.
Có sự hoà hợp giữa người truyền thông và cộng đồng
Nhấn mạnh vào tính bền vững.
III.4. Về nội dung của truyền thông
- Tập trung vào một chủ đề cụ thể nào đó (ví dụ: những ảnh hưởng tới môi
trường do việc khai thác dầu khí ở vùng biển Đông Nam Việt Nam).
- Có những chương trình truyền thông đưa ra nhiều chủ đề, nhiều nội dung
nhưng đều gây tác động như nhau hoặc đều gây ra hiệu quả xấu cho một khu vực.
- 22 -
Nghiên cứu khoa học
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
- 23 -
Nghiên cứu khoa học
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
vấn đề sâu hơn cuộc họp thông thường. Đặc điểm quan trọng là hình thức họp. Hình
thức có sự tham gia của mọi người mang lại hiệu quả cao hơn hình thức khác. Trong
các cuộc họp - hội thảo này, nhà truyền thông phải giữ thái độ trung lập, cố gắng khai
thác tất cả các ý kiến và phải có phương pháp thu thập ý kiến của những người ngại
phát biểu nhất. Với những người ngại nói hay nói nhiều, tốt nhất là tạo cho họ cơ hội
trình bày ý kiến theo cách riêng.
c) Thông tin đại chúng
Các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, báo chí, phát thanh) có
khả năng tiếp cận một phạm vi đối tượng rất rộng và có uy tín cao trong việc phổ
biến, tuyên truyền các nội dung của chiến dịch truyền thông môi trường.
Trước khi làm việc với các cơ quan thông tin đại chúng, nhà tổ chức chiến
dịch truyền thông môi trường phải xem xét:
- Các thông tin cần lặp lại bao nhiêu lần trong thời gian chiến dịch.
- Tính phù hợp của thông điệp với cộng đồng địa phương (chú ý đến văn hoá,
ngôn ngữ)
- Sử dụng phương tiện thông tin đại chúng nào là phù hợp với nhóm đối tượng
cần tiếp cận, nếu là phương tiện nghe nhìn thì nên phát vào lúc nào trong ngày.
- Làm sao để các phương tiện thông tin đại chúng chấp nhận phát tin hoặc
thông cáo báo chí của chiến dịch, đặc biệt là bằng tiếng dân tộc ít người.
Các thông tin đưa trên các phương tiện thông tin đại chúng phải có hình
thức phù hợp với mục tiêu của các phương tiện này. Đó là sự cuốn hút đối tượng
một cách rộng rãi.
d) Triển lãm