Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở việt nam ( Luận án tiến sĩ) - Pdf 48

Bộ giáo dục và đào tạo

bộ t- pháp

Tr-ờng đại học luật hà Nội

TH DUNG

PHáP LUậT Về quyền QUảN Lý LAO ĐộNG
CủA NGƯờI Sử DụNG LAO ĐộNG ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh

: Lut Kinh t

Mó s

: 62 38 01 07

LUN N TIN S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc:

1. PGS.TS NGUYN HU CH
2. TS. TRN TH THY LM

H NI - 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng

MỞ ĐẦU

1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

9

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài

9

1.2. Những vấn đề đã nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và một số
nhận xét, đánh giá
1.3. Những vấn đề cơ bản cần giải quyết trong luận án

21
26

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO
ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG
CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

30

2.1. Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động

30

2.2. Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động

của người sử dụng lao động
KẾT LUẬN

135
150

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN

154

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

155

PHỤ LỤC


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý lao động là nhu cầu tất yếu khách quan của bất cứ nền sản xuất nào
trong xã hội có giai cấp. Bởi vì, để đạt được mục đích cuối cùng của quá trình sản
xuất, nhất thiết phải có chủ thể đứng ra chỉ đạo các hoạt động chung của con người
và hướng những hoạt động chung đó theo mục đích nhất định nhằm đạt được mục
tiêu đã đặt ra. Xã hội càng phát triển, trình độ phân công, tổ chức lao động càng cao
thì QLLĐ càng quan trọng.
Đối với quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường, ở tầm vĩ mô, quản lý
lao động là quyền của nhà nước, chủ sở hữu lớn nhất trong xã hội. Nhà nước có
quyền ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện và xử lý các hành vi vi phạm của các

lao động của đơn vị khác hoặc cho đơn vị khác thuê lại lao động của mình, quyền cho
NLĐ thôi việc vì lý do kinh tế. Các quyền QLLĐ này của NSDLĐ có ý nghĩa rất lớn,
quyết định sự thành công trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị sử dụng
lao động. Thực hiện tốt quyền QLLĐ là điều kiện quan trọng để NSDLĐ duy trì trật tự,
nền nếp trong đơn vị, từ đó nâng cao hiệu quả, năng suất, chất lượng lao động, tăng sức
canh tranh và tạo được vị trí, uy tín vững mạnh trên thị trường.
Tuy nhiên, hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị sử dụng lao động ở
Việt Nam trong những năm gần đây đang phải đối mặt với thực tế rất khắc nghiệt, đó là
năng suất, hiệu quả lao động rất thấp, phát triển không vững mạnh, khả năng cạnh tranh
trên thị trường trong nước và thế giới không cao. Điều đó có thể xuất phát từ nhiều
nguyên nhân. Song phải thừa nhận một cách khách quan rằng, trong mối tương quan
với pháp luật khác, một số quy định của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ chưa
thực sự phù hợp và thiếu tính khả thi. Nhà nước còn can thiệp sâu vào quan hệ lao
động, làm hạn chế phần nào quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của NSDLĐ trong quan
hệ lao động của nền kinh tế thị trường.
Ngoài ra, với tư cách là một bên của quan hệ lao động, có vai trò quan trọng
trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội cũng như giải quyết việc làm cho NLĐ,
nhưng so với NLĐ, các quyền của NSDLĐ liên quan đến QLLĐ, vẫn chưa được
pháp luật lao động bảo đảm trên cơ sở công bằng, hai bên cùng có lợi.
Trong khi đó, một số quy định về quyền QLLĐ của NSDLĐ được đánh giá là
khá mở rộng và bảo đảm quyền tự quyết của NSDLĐ trong quá trình tuyển chọn, sử
dụng, chấm dứt việc sử dụng lao động thì thực tế NSDLĐ lại có xu hướng lạm
quyền. Tình trạng NSDLĐ phân biệt NLĐ về vùng miền, loại hình đào tạo... đã xâm
phạm đến quyền và lợi ích của NLĐ, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Tình trạng
NSDLĐ điều chuyển NLĐ làm công việc khác, chấm dứt hợp đồng lao động, sa
thải NLĐ, trừ lương NLĐ một cách tùy tiện... không tuân theo quy định của pháp
luật xảy ra khá phổ biến, làm ảnh hưởng đến thu nhập, việc làm của NLĐ và trật tự
xã hội chung.
Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, để thực hiện phương
châm đặt ra của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI là "mở rộng quan hệ hợp tác

Theo đó, nội dung pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ trong các đơn vị sử dụng
lao động bao gồm:
- Quyền thiết lập công cụ QLLĐ;
- Quyền tổ chức, thực hiện QLLĐ.
Để làm sâu sắc vấn đề nghiên cứu, tùy từng nội dung và yêu cầu đặt ra, luận
án tham khảo, so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật lao động và pháp
luật có liên quan của Việt Nam, quy định của pháp luật quốc tế trong các công ước,
khuyến nghị của ILO và pháp luật lao động một số nước trên thế giới có liên quan
đến các nội dung nêu trên.
Luận án không nghiên cứu các vấn đề sau đây:
- Quyền QLLĐ của các chủ thể khác như quyền QLLĐ của nhà nước, quyền
QLLĐ của các tổ chức, đoàn thể trong đơn vị sử dụng lao động.
- Các biện pháp bảo đảm quyền QLLĐ của NSDLĐ. Bởi mặc dù nghiên cứu
dưới góc độ quyền-quyền chủ thể-NSDLĐ, song do vị thế của NSDLĐ trong quan


5
hệ lao động, nên trong quy định của pháp luật lao động, việc bảo đảm thực hiện
quyền QLLĐ của NSDLĐ được thể hiện bằng trách nhiệm mà chủ thể này phải thực
hiện đối với NLĐ và các thủ tục, giới hạn mà pháp luật quy định. Hơn nữa, nếu
NLĐ không tuân theo sự điều hành, QLLĐ của NSDLĐ thì họ phải chịu các trách
nhiệm do NSDLĐ áp dụng trên cơ sở pháp luật. Do mục đích nghiên cứu nên tùy
từng nội dung mà luận án đề cập đến trách nhiệm của NSDLĐ cũng như thủ tục,
giới hạn pháp lý khi phân tích quyền QLLĐ, không nghiên cứu riêng các biện pháp
bảo đảm quyền QLLĐ của NSDLĐ.
- Các quyền khác không phải quyền QLLĐ của NSDLĐ, như: quyền đối thoại
tại nơi làm việc, quyền thương lượng tập thể, quyền tham gia tổ chức đại diện,
quyền khiếu nại, tố cáo, quyền khởi kiện, quyền tham gia giải quyết tranh chấp lao
động, quyền yêu cầu giải quyết đình công…
- Các vấn đề khác có liên quan như: xử phạt vi phạm, giải quyết tranh chấp

NSDLĐ theo mục đích và nhiệm vụ mà luận án đã đặt ra.
- Phương pháp so sánh được sử dụng ở hầu hết các nội dung của luận án
nhằm đối chiếu các quan điểm khác nhau giữa các nhà khoa học trong các công
trình nghiên cứu; giữa quy định của pháp luật lao động hiện hành với quy định của
pháp luật lao động các giai đoạn trước đây; giữa quy định của pháp luật lao động
hiện hành với pháp luật khác có liên quan đến quyền QLLĐ của NSDLĐ; giữa quy
định của pháp luật lao động Việt Nam với quy định của ILO và pháp luật lao động
các quốc gia trên thế giới.
- Phương pháp chứng minh được sử dụng ở hầu hết các nội dung luận án,
nhằm đưa ra các dẫn chứng (các quy định, tài liệu, số liệu, vụ việc thực tiễn...) làm
rõ các luận điểm, luận cứ trong các nội dung về lý luận ở chương 1, chương 2, các
nhận định trong các nội dung ở chương 3 và đặc biệt là các ý kiến, quan điểm về
sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ trong chương 4
của luận án.
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong việc rút ra những nhận
định, ý kiến đánh giá sau quá trình phân tích ở từng ý, từng tiểu mục, đặc biệt được
sử dụng để kết luận các chương và kết luận chung của luận án.
- Phương pháp dự báo khoa học được sử dụng nhằm đoán trước về những ý
kiến, nhận định, đề xuất có nhiều khả năng luận án sẽ đặt ra trên cơ sở những số liệu
tổng kết của Bộ Lao động, thương binh và xã hội, ILO hoặc cơ quan, tổ chức khác;
những ý kiến, nhận định, đánh giá của các nhà khoa học trong các công trình nghiên
cứu. Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài và chủ
yếu được sử dụng trong quá trình phân tích những điểm hợp lý cũng như bất cập
trong các quy định, thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ ở
chương 3, trong việc đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền QLLĐ
của NSDLĐ trong chương 4 của luận án.


7
Việc cụ thể các phương pháp nghiên cứu này chỉ mang tính chất tương đối,

đồng thời vẫn bảo đảm hài hòa lợi ích các bên (nhà nước, NSDLĐ, NLĐ) và phù
hợp với pháp luật quốc tế cũng như điều kiện nền kinh tế thị trường trong bối cảnh
hội nhập hiện nay ở Việt Nam.


8
- Luận án đã đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLLĐ năm 2012
về quyền QLLĐ của NSDLĐ nhằm hoàn thiện các quy định của BLLĐ để nâng cao
hiệu quả thực hiện quyền QLLĐ của NSDLĐ trong các đơn vị sử dụng lao động ở
Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm hệ
thống lý luận cơ bản về quyền QLLĐ của NSDLĐ và pháp luật về quyền QLLĐ của
NSDLĐ trong khoa học luật lao động.
Luận án đặc biệt cần thiết đối với NSDLĐ trong việc nâng cao kiến thức
pháp luật nhằm hiểu đúng, hiểu hết quyền QLLĐ của mình, từ đó thực hiện QLLĐ
trong đơn vị sử dụng lao động đúng, linh hoạt và hiệu quả, tránh trường hợp hiểu
không đúng và/hoặc lạm quyền QLLĐ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của
chính mình, của NLĐ cũng như lợi ích chung của xã hội.
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, tổ chức trong quá trình
thực hiện và sửa đổi, bổ sung pháp luật lao động; cho các cơ sở nghiên cứu khoa
học, giảng dạy, học tập về pháp luật lao động; cho NLĐ và đối tượng khác có mong
muốn tìm hiểu về pháp luật lao động nói chung, pháp luật về quyền QLLĐ của
NSDLĐ nói riêng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình đã được công bố có
nội dung liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận
án được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về quyền QLLĐ và pháp luật về quyền

Việt Nam (Tái bản lần thứ 5) của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012; Giáo
trình Luật lao động của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011;
Giáo trình Luật lao động của Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội
năm 2011; Giáo trình Luật lao động của Trường Đại học Lao động-Xã hội năm
2009; Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Viện Đại học Mở Hà Nội năm 2009;
Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Trung tâm đào tạo từ xa, Đại học Huế năm
2006; Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Khoa Luật, Trường Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1999; Giáo trình Luật lao động
và An ninh xã hội (In lần thứ ba) của tác giả Nguyễn Quang Quýnh năm 1972…
Trong các giáo trình này, vấn đề liên quan đến đề tài luận án được trình bày
trong các chương: Hợp đồng lao động (Khế ước lao động); Thỏa ước lao động tập


10
thể (Cộng đồng hiệp ước); Kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất hoặc Quyền
QLLĐ của NSDLĐ (Xí nghiệp).
Ở chương Hợp đồng lao động, quyền QLLĐ của NSDLĐ được thể hiện trong
quá trình ký kết, thực hiện, thay đổi, tạm hoãn, chấm dứt hợp đồng lao động. Tương
tự, ở chương Thỏa ước lao động tập thể, các giáo trình đề cập đến các vấn đề lý
luận, thương lượng và ký kết thỏa ước, hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể.
Thể hiện rõ nhất vấn đề liên quan đến đề tài luận án là chương Quyền QLLĐ
của NSDLĐ/Kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất/Xí nghiệp. Theo đó, ở chương
"Quyền QLLĐ của NSDLĐ" trong Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Trường
Đại học Luật Hà Nội, lần đầu tiên các vấn đề lý luận về quyền QLLĐ của NSDLĐ
đã được nghiên cứu. Đó là các vấn đề về khái niệm, bản chất, cở sở quy định và nội
dung quyền QLLĐ của NSDLĐ. Từ vấn đề lý luận này, quyền QLLĐ của NSDLĐ
được phân tích trong ba nhóm quy định: quy định về kỷ luật lao động, quy định về
bồi thường thiệt hại vật chất và quy định về tạm đình chỉ công việc của NLĐ.
Ngoài ra, quyền QLLĐ của NSDLĐ được nêu rõ trong chương Xí nghiệp,
Giáo trình Luật lao động và An ninh xã hội của tác giả Nguyễn Quang Quýnh.

giả đã tìm hiểu tất cả các chế định của BLLĐ. Theo đó, vấn đề liên quan đến các nội
dung luận án được giới thiệu trong quá trình phân tích các chế định hợp đồng lao
động, thỏa ước lao động tập thể và kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất.
- "Pháp luật hợp đồng lao động Việt Nam - Thực trạng và phát triển" (2003),
của TS Nguyễn Hữu Chí, Nxb Lao động-Xã hội. Trong cuốn sách này, tác giả đã đề
cập đến đặc trưng quan trọng của hợp đồng lao động chính là yếu tố QLLĐ của
NSDLĐ đối với NLĐ. Đặc biệt, cuốn sách đã phân tích và đánh giá những bất cập
của một số quy định về quyền điều chuyển công việc đối với NLĐ, quyền thỏa
thuận và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ. Ví dụ, việc xác
định quyền QLLĐ trong thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động, trách nhiệm bố trí,
sắp xếp công việc cho NLĐ khi doanh nghiệp sáp nhập, chia tách, hợp nhất, chuyển
quyền sở hữu, quyền quản lý tài sản.
- "Tài liệu nghiên cứu cho thuê lại lao động" (2011) của Vụ pháp chế, Bộ Lao
động, thương binh và xã hội, Nxb Lao động-Xã hội. Cuốn sách này tập hợp các tài
liệu nghiên cứu của chuyên gia nước ngoài (Hàn Quốc, Nhật Bản…), các báo cáo
về tình hình cho thuê lại lao động của Bộ Lao động, thương binh và xã hội, các địa
phương (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ, Đà Nẵng) và
một số tài liệu đã phát hành của ILO trong quá trình soạn thảo BLLĐ (sửa đổi).
Mục đích của công trình này là cung cấp các tài liệu liên quan đến hoạt động cho
thuê lại lao động nhằm nghiên cứu để hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật
về hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam. Kết quả thuyết phục của công trình
là BLLĐ năm 2012 đã điều chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động. Theo đó,
NSDLĐ có quyền thuê lại lao động của đơn vị khác hoặc cho đơn vị khác thuê lại
lao động khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định.
- Bên cạnh đó, còn một số các sách: Hỏi - đáp về BLLĐ, Sổ tay pháp lý, Tìm
hiểu pháp luật, Từ điển thuật ngữ luật học… cũng đã đề cập đến các thuật ngữ hoặc


12
nêu các quy định của pháp luật lao động về tuyển dụng lao động, hợp đồng lao

Nam, tuy được nghiên cứu trước khi BLLĐ năm 2012 ra đời, song là những gợi ý
cho việc nghiên cứu quyền QLLĐ của NSDLĐ trong hoạt động cho thuê lại lao
động của luận án.


13
1.1.1.4. Luận án, luận văn
Trong số các luận án, luận văn đã công bố, có các công trình sau đây liên
quan đến đề tài luận án. Đó là:
- Luận án "Hợp đồng lao động trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam"
(2002) của Nguyễn Hữu Chí. Trong luận án này, tác giả đề cập đến các vấn đề lý
luận về hợp đồng lao động, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng hợp đồng lao
động. Thông qua việc đánh giá những điểm bất cập trong quy định của pháp luật lao
động (theo BLLĐ năm 1994, được sửa đổi, bổ sung năm 2002) và thực tiễn áp
dụng, luận án đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động và
nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng lao động ở Việt Nam. Trong các nội dung trình
bày của công trình này, có một số vấn đề liên quan đến luận án, đó là quyền ký kết hợp
đồng lao động, quyền điều chuyển NLĐ làm công việc khác, quyền thay đổi, tạm hoãn
và chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ.
- Luận án "Pháp luật về kỷ luật lao động ở Việt Nam - thực trạng và phương
hướng hoàn thiện" (2007) của Trần Thị Thúy Lâm. Trong luận án, tác giả nghiên
cứu sâu về một trong các nội dung của quyền QLLĐ của NSDLĐ, đó là vấn đề kỷ
luật lao động. Đây là công trình gần gũi hơn cả với đề tài luận án. Bởi, một trong
những nội dung của quyền QLLĐ của NSDLĐ là quyền ban hành nội quy lao động và
xử lý kỷ luật lao động. Thông qua việc nghiên cứu toàn diện, hệ thống các vấn đề lý
luận về kỷ luật lao động, thực trạng pháp luật về kỷ luật lao động theo quy định của
BLLĐ năm 1994 và được sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007, luận án này đã
đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kỷ luật lao động ở Việt Nam.
- Luận án "Thỏa ước lao động tập thể - Nghiên cứu so sánh giữa pháp luật
lao động Việt Nam và Thụy Điển" (2011) của Hoàng Thị Minh. Đây là công trình

về các vấn đề kỷ luật lao động, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể theo
quy định của BLLĐ trước đây. Cụ thể là các bài viết: "Mấy ý kiến về chế định hợp
đồng lao động" của Nguyễn Thị Kim Phụng đăng trên Tạp chí Luật học số 4 năm
1996; "Hợp đồng lao động - Một trong những chế định chủ yếu của Luật lao động
Việt Nam" của TS Phạm Công Trứ đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7
năm 1996; "Giao kết hợp đồng lao động" của Lưu Bình Nhưỡng đăng trên Tạp chí
Luật học số 6 năm 1996; "Quá trình duy trì và chấm dứt hợp đồng lao động" của
ThS Lưu Bình Nhưỡng đăng trên Tạp chí Luật học số 3 năm 1997; "Một số vấn đề
về kỷ luật lao động trong BLLĐ" của ThS Nguyễn Hữu Chí đăng trên Tạp chí Luật
học số 2 năm 1998; "Về phương hướng hoàn thiện chế độ hợp đồng lao động" của
ThS Lê Thị Hoài Thu đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1 năm 1999;
"Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động" của TS Đào Thị Hằng đăng trên
Tạp chí Luật học số 4 năm 2001; "Chấm dứt hợp đồng lao động" của ThS Nguyễn
Hữu Chí đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9 năm 2002; "Một số vấn đề
về thỏa ước lao động tập thể" của ThS Trần Thị Thúy Lâm đăng trên Tạp chí Luật
học số 2 năm 2002; "Thực trạng pháp luật về kỷ luật sa thải và một số kiến nghị"
của ThS Trần Thị Thúy Lâm đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 6 năm 2006;
"Khái niệm và bản chất pháp lý của kỷ luật lao động" của ThS Trần Thị Thúy Lâm


15
đăng trên Tạp chí Luật học số 9 năm 2006; "Sự phụ thuộc pháp lý - dấu hiệu đặc trưng
nhất trong quan hệ hợp đồng lao động" của Phạm Thị Thúy Nga đăng trên Tạp chí Nhà
nước và pháp luật số 8 năm 2008; "Về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động" của Nguyễn Thị Hoa Tâm đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8 năm
2009; "Những vấn đề cần sửa đổi về hợp đồng lao động trong BLLĐ" của TS Trần Thị
Thúy Lâm đăng trên Tạp chí Luật học số 9 năm 2009; "Hoàn thiện pháp luật về thỏa
ước lao động tập thể ở nước ta trong thời gian tới" của ThS Đỗ Thị Dung đăng trên Tạp
chí Luật học số 9 năm 2009; "Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động" của Nguyễn
Thị Hoa Tâm đăng trên Tạp chí Lao động-Xã hội số 419 năm 2011; "Hoàn thiện quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status