ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC MAI
THùC TR¹NG PH¸P LUËT VÒ QUYÒN QU¶N Lý LAO §éNG
CñA NG¦êI Sö DôNG LAO §éNG ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC MAI
THùC TR¹NG PH¸P LUËT VÒ QUYÒN QU¶N Lý LAO §éNG
CñA NG¦êI Sö DôNG LAO §éNG ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN XUÂN THU
HÀ NỘI - 2015
1.1.1.
Khái niệm quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động............. 7
1.1.2.
Đặc điểm quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ............ 10
1.1.3.
Phân loại quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động............. 12
1.2.
Ph á p l u ậ t v ề q u y ền q u ả n l ý la o độ n g c ủ a n g ư ờ i s ử d ụ ng
lao động ................................................................................................... 16
1.2.1.
Khái niệm pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng
lao động ..................................................................................................... 16
1.2.2.
Vai trò của pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng
lao động ..................................................................................................... 17
1.2.3.
hành............... 54
2.2.3.
Pháp luật về quyền chấm dứt sử dụng lao động và thực tiễn thi
hành......... 71
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ
THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO
ĐỘNG
CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT
NAM.......................74
3.1
Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
.
quả
thực thi pháp luật về quyền quản lý lao động của
người sử
3.2.
dụng lao
động........................................................................................... 74
Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
3.2.1
.
......
......
......
..
87
KẾT
LUẬN ....................................................................................................
93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM
KHẢO..................................................... 94
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLLĐ:
Bộ luật lao động
HĐLĐ:
Hợp đồng lao động
ILO:
Tổ chức lao động quốc tế
NLĐ:
Người lao động
dẫn đến hiệu quả kinh doanh kém, ảnh hưởng đến lợi ích của cả người sử dụng
lao động, người lao động và toàn xã hội nói chung. Mà nguyên nhân chính gây
ra hiện tượng này là do pháp luật lao động hiện hành quy định về quyền quản lý
lao động của NSDLĐ chưa phù hợp và chưa khả thi gây khó khăn cho việc áp
dụng pháp luật. Theo đó việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật
lao động Việt Nam về quyền quản lý của NSDLĐ để thấy được những mặt
hạn chế của pháp luật và có những giải pháp sửa đổi phù hợp với thực tiễn
nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật lao động về vấn đề này là việc làm cấp thiết.
Hơn nữa trên thực tế so với quyền của người lao động thì quyền của
1
người sử dụng lao động ít được khoa học pháp lý nghiên cứu và quan tâm
tương xứng vì pháp luật thường nghiêng về phía bảo vệ quyền và lợi ích của
NLĐ là bên yếu thế hơn, trong khi người sử dụng lao động là một bên chủ thể
trong quan hệ lao động. Vấn đề quyền quản lý lao động của NSDLĐ còn
tương đối mới mẻ, nó chỉ thực sự được quan tâm trong những năm gần đây.
Quy định pháp luật lại chưa có một quy định cụ thể khẳng định hoạt động nào
thuộc quyền quản lý lao động mà chỉ quy định rải rác ở các điều luật khiến cho
việc xem xét đâu là quyền quản lý lao động của NSDLĐ không mấy dễ dàng.
Theo đó việc nghiên cứu vấn đề quyền quản lý lao động của người sử dụng lao
động có ý nghĩa lớn đối với khoa học pháp lý.
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề "Thực trạng pháp luật về
quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam" để làm đề tài
nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến quyền quản lý lao động của NSDLĐ và các quy định
pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ, đã có các đề tài nghiên cứu
của các tác giả khác nhau. Đối với khóa luận tốt nghiệp, đã có nhiều tác giả lựa
giải quyết toàn diện vấn đề quyền quản lý lao động của NSDLĐ. Trong khuôn
khổ đề tài, tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu trên tuy nhiên có các
phân tích, đánh giá sâu hơn về thực trạng quy định pháp luật về quyền quản lý
lao động của NSDLĐ trên cơ sở Bộ luật lao động năm 2012 và các văn bản
hướng dẫn thi hành do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Do đó việc
nghiên cứu đề tài "Thực trạng pháp luật về quyền quản lý lao động của người
sử dụng lao động ở Việt Nam" là cần thiết.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là phân tích, đánh giá các quy định
pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ. Trên cơ sở đó làm sáng tỏ
3
các vần đề thực tiễn thi hành pháp luật về quyền quản lý lao động của
NSDLĐ, rút ra những nhận xét, đánh giá để từ đó đề xuất giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền quản lý lao
động của NSDLĐ ở Việt Nam.
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về quyền quản lý lao động và pháp
luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ.
- Phân tích các quy định pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ. Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng, trên cơ sở đó phân tích những hạn chế,
vướng mắc của pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền
quản lý lao động của NSDLĐ và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quyền quản lý lao động của
NSDLĐ dưới góc độ luật học. Hay nói cụ thể hơn là luận văn nghiên cứu thực
trạng pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ được quy định trong
quá trình nghiên cứu có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn thông qua các ví
dụ thực tế thực hiện quan hệ lao động ở Việt Nam,… từ đó đánh giá bản chất của
hiện tượng trong phạm vi đề tài nghiên cứu.
6. Những đóng góp mới, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu, đề tài có những đóng góp mới sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn các khái niệm quyền quản lý lao động và
pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ, đặc điểm quyền quản lý lao
động, đặc biệt là phân loại quyền quản lý lao động và làm rõ vai trò của pháp
luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ.
- Phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật lao động Việt Nam
về quyền quản lý lao động của NSDLĐ và thực tiễn thi hành các quy định
5
pháp luật đó.
- Tổng kết, rút kinh nghiệm và đưa ra các yêu cầu cũng như các giải pháp
cụ thể để hoàn thiện pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ và tăng
cường hiệu quả thực thi pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ.
Với những đóng góp mới này, Luận văn có ý nghĩa đối với lý luận và
thực tiễn như sau: Đóng góp vào hệ thống lý luận cơ bản về quyền quản lý lao
động và pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ; Làm rõ hơn các
quy định pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ giúp NSDLĐ hiểu rõ
về quyền của mình để áp dụng trong thực tiễn; Góp phần vào việc hoàn thiện
pháp luật lao động cũng như công tác tổ chức thực hiện pháp luật lao động về
quyền quản lý của NSDLĐ; Làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng
dạy cũng như học tập, tìm hiểu pháp luật lao động về quyền quản lý lao động
của NSDLĐ.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn
Là giữ gìn, bảo quản. Quản lý tài sản, quản lý hồ sơ, tài liệu. Còn theo điều khiển học
thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào
những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho một hệ thống hay
quá trình đó vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt mục đích đã
định trước.
Như vậy, các cách hiểu về quản lý như trên đều thể hiện hoạt động
quản lý có các đặc điểm sau:
Một là, quản lý nảy sinh và tồn tại tất yếu khi có hoạt động chung c ủ a
c o n n g ư ờ i . T h e o C . M a c t h ì : "Q u ả n l ý l à m ộ t c h ứ c n ă n g đ ặ c b i ệ t n ả y
7
sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động", nhấn mạnh nội dung này,
ô n g cũ n g v i ết :
T ấ t c ả mọ i l a o đ ộ n g x ã h ộ i t r ự c t i ế p h a y l a o đ ộ n g c h u n g n
à o t i ến h à nh t r ê n qu y mô t ư ơ n g đ ố i l ớn , t h ì ít nh i ề u cũ n g đ ề u c ầ
n đ ế n mộ t s ự c h ỉ đ ạ o đ ể đ i ề u h ò a n h ữ n g h o ạ t đ ộ n g c á n h â n v à t h
ực h i ện nh ữn g c h ức n ă n g ch u ng… M ộ t n g ườ i độ c tấ u v ĩ c ầ m t ự
m ì n h đ i ề u k h i ể n l ấ y m ì n h , c ò n mộ t d à n n h ạ c t h ì c ầ n phải có
nhạc trưởng" [7, tr.34].
Hai là, quản lý là việc tác động lên đối tượng chịu sự quản lý theo đúng ý
chí của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục đích đề ra. Nó trả lời cho câu hỏi
tại sao phải quản lý và quản lý để làm gì.
Ba là, quản lý muốn thực hiện được phải dựa trên cơ sở tổ chức và
quyền uy. Theo đó vấn đề muốn nói đây là chủ thể của quản lý dù là cá nhân hay
tổ chức phải là những đại diện có quyền uy, có quyền hạn liên kết, phối hợp
những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân theo các cách thức, biện pháp và
hình thức nhất định để hướng tới mục tiêu đã đề ra. Trên cơ sở tổ chức và
quyền uy đó, chủ thể chịu sự quản lý phải tuân theo sự quản lý, chỉ đạo của chủ
mục đích của mình bao gồm việc ban hành thiết lập các công cụ quản lý và tổ
chức thực hiện quản lý. Tuy nhiên không phải NSDLĐ được phép làm tất cả
những gì mong muốn, đây là quyền có giới hạn bởi ngoài NSDLĐ thì pháp
luật và Nhà nước còn phải đảm bảo về quyền và lợi ích của NLĐ cũng như của
toàn xã hội. Tất cả đều phải hài hòa trong mối quan hệ và lợi ích chung của tất
cả các bên [8, tr.39].
Dưới góc độ pháp lý, quyền quản lý lao động của NSDLĐ là hệ thống các
quy phạm pháp luật của Nhà nước quy định về quyền của NSDLĐ nhằm tạo
hành lang pháp lý cho họ duy trì được nền nếp của quá trình lao động trong
đơn vị sử dụng lao động [8, tr.39]. Các quy định pháp luật này được ghi nhận
trong luật, các văn bản dưới luật do cơ quan Nhà nước có thẩm
9
quyền ban hành. Quyền quản lý lao động của NSDLĐ theo đó là một chế
định pháp luật được quy định và bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước. NSDLĐ sẽ
thực hiện quyền quản lý của mình trong phạm vi các quy định của pháp luật,
những hành vi sai trái trong quá trình quản lý của NSDLĐ cũng như NLĐ sẽ
bị xử lý theo quy định.
Như vậy, theo nghĩa chung nhất, quyền quản lý lao động của NSDLĐ là
quyền của NSDLĐ chỉ đạo, điều hành NLĐ trong đơn vị của mình trên cơ sở
quy định pháp luật nhằm duy trì trật tự, ổn định và nâng cao hiệu quả lao động.
1.1.2. Đặc điểm quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động
Thứ nhất, quyền quản lý lao động của NSDLĐ mang tính chất đơn
phương. Nói cụ thể hơn là quyền quản lý lao động của NSDLĐ thể hiện ý chí
đơn phương của NSDLĐ, thể hiện ở việc NSDLĐ có quyền áp dụng các biện
pháp quản lý theo ý chí của mình. Khi quan hệ lao động được thiết lập, NLĐ
phải tuân theo mọi chỉ đạo, điều khiển đơn phương từ phía NSDLĐ không trái
phối bởi ý chí của các chủ thể khác.
Thứ ba, quyền quản lý lao động của NSDLĐ là quyền năng có giới hạn.
NSDLĐ có quyền áp dụng ý chí đơn phương của mình để thực hiện quyền
quản lý tuy nhiên không phải là tuyệt đối. Giới hạn dễ dàng nhận thấy là giới
hạn về không gian, thời gian và đối tượng quản lý. NSDLĐ có phạm vi đối
tượng quản lý riêng, có khu vực quản lý riêng, có tài sản riêng… và điều tất
nhiên là chỉ có quyền quản lý đối với NLĐ trong phạm vi của mối quan hệ lao
động, tại đơn vị lao động của mình và trong thời gian lao động. Các vấn đề
bên ngoài mối quan hệ lao động, ngoài thời gian lao động sẽ không thuộc
phạm vi quyền quản lý lao động của NSDLĐ.
Giới hạn quan trọng của quyền quản lý lao động của NSDLĐ là trong
phạm vi quy định của pháp luật. Cùng với việc xác lập và quy định những
hoạt động mà NSDLĐ được quyền thực hiện thì pháp luật cũng giới hạn
những việc mà NSDLĐ không được phép thực hiện khi thực hiện quyền quản
11
lý của mình [8, tr.42]. Bởi lẽ pháp luật phải bảo vệ và duy trì mối quan hệ lao
động, mà muốn như vậy phải quy định ranh giới để đảm bảo lợi ích của tất cả
các bên, tránh việc NSDLĐ lạm quyền của mình xâm phạm đến quyền và lợi
ích chính đáng của NLĐ, một bên của quan hệ lao động mà về pháp pháp lý
bình đẳng với NSDLĐ. Đặc điểm này là lẽ dĩ nhiên bởi không có gì là tuyệt
đối, quan hệ lao động cũng giống như các loại quan hệ xã hội khác tất cả phải
đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật để duy trì trật tự xã hội chung.
Thứ tư, quyền quản lý lao động của NSDLĐ mang tính chất hành
chính. Một hệ thống quản lý bao giờ cũng mang tính chất hành chính, quản lý lao
động cũng không phải là ngoại lệ. Hoạt động quản lý lao động của NSDLĐ
cũng dựa trên các hành vi và thủ tục mang tính chất hành chính. Tuy nhiên tính
hành chính trong quyền quản lý lao động của NSDLĐ không đồng nhất với
nhiệm pháp lý tương ứng với hành vi vi phạm kỷ luật lao động.
Bên cạnh việc thiết lập các công cụ để quản lý, NSDLĐ có quyền triển
khai thực hiện quản lý. Đây là nhóm quyền cơ bản của NSDLĐ bắt đầu phát
sinh từ hoạt động tuyển dụng lao động, ở quá trình này NSDLĐ đã bắt đầu sử
dụng quyền quản lý lao động của mình thể hiện ở việc NSDLĐ có toàn quyền
trong việc nhận hay không nhận NLĐ vào làm việc ở đơn vị mình. Khi nhận
NLĐ vào làm việc tức là khi xác lập quan hệ lao động, NSDLĐ sẽ có quyền
trong việc sử dụng lao động, theo đó sẽ thực hiện các hoạt động quản lý trong
quá trình lao động bao gồm bố trí, sắp xếp công việc đối với NLĐ cho đến
việc điều chuyển công việc, thay đổi, tạm ngừng thực hiện công việc hay
khen thưởng đối với NLĐ có thành tích xuất sắc, xử lý kỷ luật lao động đối
với các hành vi vi phạm kỷ luật lao động… NSDLĐ cũng có quyền trong việc
chấm dứt sử dụng lao động không phụ thuộc vào thời hạn của hợp đồng lao
động đã ký kết trong một số trường hợp và quyền giải quyết khiếu nại đối với các
khiếu nại của NLĐ hay tập thể lao động. Có thể thấy quyền triển khai thực
hiện quản lý lao động đã đảm bảo cho nội dung của các văn bản do NSDLĐ
đơn phương ban hành cũng như các văn bản do ký kết, thỏa thuận từ các bên
chủ thể được thi hành trên thực tế.
13
* Căn cứ vào ý chí của các bên chủ thể trong các hoạt động quản lý thì
có thể phân loại thành: quyền quản lý lao động của NSDLĐ mang tính chất
thỏa thuận và quyền quản lý lao động của NSDLĐ mang tính chất áp đặt. Như
đã phân tích ở trên, quyền quản lý lao động của NSDLĐ là thể hiện ý chí đơn
phương của chủ thể quản lý, tuy nhiên cũng chịu sự chi phối bởi ý chí của các
chủ thể khác, do đó căn cứ vào đặc điểm cũng là một cách để phân loại quyền
quản lý lao động của NSDLĐ.
Quyền quản lý lao động mang tính chất thỏa thuận là quyền của
NSDLĐ thực hiện các hoạt động quản lý lao động trên cơ sở có sự thỏa thuận
việc khác, quyết định tạm đình chỉ công việc của NLĐ, quyết định xử lý kỷ luật
NLĐ,...) Biện pháp này có vai trò rất lớn trong việc giúp NSDLĐ đạt được mục
tiêu của quá trình quản lý và thể hiện được quyền uy và vị thế của NSDLĐ. Tuy
nhiên xuất phát từ các nguyên tắc vận hành quan hệ lao động là bình đẳng, hợp
tác và thương lượng giữa các bên, chủ thể quản lý cần phải thực hiện quyền
quản lý của mình bằng biện pháp hành chính một cách linh hoạt, mềm dẻo để đạt
được hiệu quả quản lý cao nhất.
Quyền sử dụng biện pháp kinh tế để quản lý lao động là khả năng của
NSDLĐ được quyền áp dụng các biện pháp kinh tế để thực hiện quyền quản lý lao
động của mình. Biện pháp kinh tế là cách thức quản lý mà chủ thể quản lý tác
động đến NLĐ bằng công cụ kinh tế như sử dụng hình thức khen thưởng, kỷ
luật bằng vật chất nhằm khuyến khích, động viên NLĐ thực hiện tốt công việc
của mình đồng thời răn đe để hạn chế những sai phạm xảy ra trong quá trình
lao động. Thực tế đã cho thấy nếu NSDLĐ áp dụng tốt quyền quản lý của mình
với biện pháp này, đây sẽ là cách thức quản lý vô cùng hiệu quả để nâng cao
năng lực sản xuất và ý thức chấp hành của NLĐ. Ngược lại nếu sử dụng biện
pháp này tùy tiện sẽ gây mất uy tín của chủ thể quản lý, làm ảnh hưởng lớn đến
mối quan hệ lao động. Bởi suy cho cùng động lực chủ yếu để NLĐ
tham gia vào quan hệ lao động là thu nhập từ việc bán sức lao động của mình.
15
Quyền sử dụng biện pháp pháp lý để quản lý lao động là khả năng của
NSDLĐ được quyền áp dụng các biện pháp pháp lý để thực hiện quyền quản lý
lao động của mình. Các biện pháp pháp lý mà NSDLĐ có thể áp dụng như xử
lý kỷ luật lao động, áp dụng trách nhiệm vật chất, ban hành nội quy, quy chế
đơn vị để buộc NLĐ trong đơn vị phải tuân thủ. Có thể nói biện pháp pháp lý
là biện pháp có tính răn đe và thể hiện quyền uy của chủ thể quản lý nhất bởi với
biện pháp này buộc NLĐ vi phạm các quy tắc pháp lý phải hứng chịu những
định trong một Bộ luật hoặc Luật về lao động.
Pháp luật lao động của các nước không ghi nhận trực tiếp về quyền
quản lý lao động của NSDLĐ. Tuy vậy, thông qua sự ghi nhận và quy định
của pháp luật các nước về các quyền như quyền tuyển lao động, quyền bố trí, sắp
xếp công việc đối với NLĐ, quyền thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập
thể, hợp đồng lao động, quyền ban hành nội quy lao động, quy chế, quyền chấm
dứt hợp đồng lao động… đều là những nội dung thuộc hoạt động quản lý lao động
của NSDLĐ, thì có thể thấy quyền quản lý lao động của NSDLĐ là quyền quan
trọng và được pháp luật các nước điều chỉnh.
Tóm lại từ những hiểu biết về quyền quản lý lao động của NSDLĐ và
các quy định pháp luật của các nước quy định về vấn đề này, có thể hiểu pháp luật
về quyền quản lý lao động của NSDLĐ là tổng hợp các quy phạm pháp luật
của Nhà nước quy định về quyền của NSDLĐ trong việc chỉ đạo, điều hành
NLĐ trong quá trình lao động để duy trì hoạt động và trật tự trong đơn vị lao
động nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả lao động.
1.2.2. Vai trò của pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử
dụng lao động
* Đối với người sử dụng lao động
Pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ đã tạo cơ sở pháp lý
cho NSDLĐ thực hiện quyền quản lý của mình. Hoạt động quản lý lao động
của NSDLĐ chỉ được thực hiện khi được pháp luật ghi nhận, hay nói cách
khác chỉ khi được ghi nhận bởi pháp luật thì hoạt động đó mới được coi là
17
quyền của chủ thể và được nhà nước đảm bảo thực hiện. Sự ghi nhận của
pháp luật đối với quyền quản lý lao động của NSDLĐ thể hiện ở việc pháp luật
quy định và bảo vệ những việc mà chủ thể quản lý được phép thực hiện đồng