Thiết kế và sử dụng một số trò chơi toán học nhằm phát huy tính tích cực chủ động cho học sinh lớp 1 (2014) - Pdf 48

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

ĐỖ THỊ LÝ

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI
TOÁN HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CHỦ ĐỘNG CHO HỌC SINH LỚP 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Toán

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THỊ HƢƠNG

HÀ NỘI, 2014


LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Nguyễn Thị Hương - Thạc sĩ,
giáo viên khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn
thành tốt khóa luận. Những ý kiến của cô đã giúp em tìm ra cách tốt nhất để
giải quyết những vấn đề khó khăn.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới ban giám hiệu cùng các giáo viên
trường Tiểu học Thị trấn Sóc Sơn - huyện Sóc Sơn - thành phố Hà Nội đã
giúp em thực hiện đề tài.
Do thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế và thiếu
sót. Em rất mong tiếp tục nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn để
khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014

1.1.1.2. Đặc điểm về phát triển nhận thức ...................................................... 12
1.1.2. Định hướng dạy học môn Toán lớp 1 ................................................... 14
1.1.2.1. Mục tiêu môn Toán ở lớp 1 ................................................................ 14
1.1.2.2. Nội dung chương trình môn Toán lớp 1............................................. 15
1.1.2.3. Phương pháp dạy học môn Toán ở lớp 1 ........................................... 16
1.1.2.4. Hình thức tổ chức dạy học môn Toán lớp 1 ....................................... 19
1.1.3. Một số vấn đề lí luận về trò chơi toán học cho trẻ ................................ 21
1.1.3.1. Trò chơi .............................................................................................. 21
1.1.3.2. Trò chơi học tập .............................................................................. 27
1.1.3.3. Trò chơi toán học ............................................................................... 31
1.1.3.4. Một số yêu cầu khi thiết kế các trò chơi toán học ............................. 35
1.2. Cơ sở thực tiễn thực trạng việc tổ chức trò chơi trong dạy học toán ở lớp
1 ....................................................................................................................... 37
1.2.1. Mục đích điều tra .................................................................................. 37


1.2.2. Nội dung điều tra ................................................................................... 37
1.2.2.1. Nhận thức của giáo viên về trò chơi toán học ................................... 37
1.2.2.2. Thực trạng sử dụng trò chơi toán học ............................................... 37
1.2.3. Phương pháp điều tra ............................................................................ 37
1.2.4. Kết quả điều tra ..................................................................................... 38
1.2.4.1. Nhận thức của giáo viên về trò chơi toán học ................................... 38
1.2.4.2. Thực trạng sử dụng trò chơi toán học ............................................... 39
CHƢƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI TOÁN
HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHỦ ĐỘNG CHO HỌC
SINH LỚP 1 ................................................................................................... 49
2.1. Nguyên tắc thiết kế và sử dụng trò chơi toán học trong dạy học toán..... 49
2.1.1. Nguyên tắc thiết kế trò chơi toán học trong dạy học toán .................... 49
2.1.2. Nguyên tắc sử dụng trò chơi trong dạy học môn Toán ......................... 50
2.2. Thiết kế trò chơi toán học lớp 1 ............................................................... 50

em. Những thay đổi này tạo cho trẻ em những cơ hội phát triển mới đồng thời
cũng gây cho các em nhiều khó khăn trong học tập. Để giúp trẻ thích nghi dần
với cuộc sống mới ở trường Tiểu học, người giáo viên cần tìm ra những cách
thức, những con đường thích hợp mang lại cho trẻ cảm nhận “Mỗi ngày đến
trường là một ngày vui”. Làm cho các em thích học, không sợ học là việc làm
cần thiết trong dạy học ở Tiểu học, nhất là ở các lớp đầu cấp Tiểu học.
Toán học là môn học chiếm thời lượng đáng kể trong chương trình dạy
học Tiểu học; là môn học được đặc trưng bởi tính chính xác, tường minh,
logic chặt chẽ... nên toán học dễ mang lại cho học sinh (nhất là học sinh nhỏ)
những căng thẳng tâm lý. Làm thế nào để giảm bớt những căng thẳng này?
Làm thế nào để môn toán trở nên sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn các em? Trò
chơi với tính hấp dẫn tự thân của nó có tiềm năng lớn để trở thành phương
tiện dạy học hiệu quả, kích thích hứng thú nhận thức, tạo sự tích cực, sáng
tạo, niềm say mê học tập ở học sinh. Việc sử dụng trò chơi trong dạy học toán
ở Tiểu học sẽ góp phần giải quyết tốt vấn đề nêu trên.
Đổi mới phương pháp dạy học là cần thiết để nâng cao chất lượng dạy
học. Giúp trẻ học toán qua các trò chơi là một trong những hướng đổi mới
phương pháp dạy học toán ở Tiểu học. Những năm gần đây đã có những
nghiên cứu về trò chơi học tập nói chung và trò chơi toán học nói riêng. Tuy
nhiên, việc lựa chọn, thiết kế làm phong phú các trò chơi đó và tìm cách sử
dụng chúng sao cho phù hợp với đối tượng học sinh, với điều kiện thực tế

7


giảng dạy, với năng lực của giáo viên ... để dạy học toán có hiệu quả vẫn luôn
luôn là một việc làm cần thiết.
Trong thực tế dạy học Tiểu học, có những giáo viên tâm huyết đã sử
dụng trò chơi toán học trong dạy học toán. Tuy nhiên, họ gặp khó khăn trong
việc tìm chỗ dựa về lí thuyết hướng dẫn sử dụng và tài liệu tham khảo về trò

- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp thống kê toán học
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận
gồm 2 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Đặc điểm phát triển tâm sinh lý và nhận thức lứa tuổi lứa tuổi học
sinh tiểu học và học sinh lớp 1.
1.1.2. Định hướng dạy học môn Toán lớp 1
1.1.3. Một số vấn đề lí luận về trò chơi toán học cho trẻ
1.2. Thực trạng việc tổ chức trò chơi trong dạy học toán ở lớp 1
1.2.1. Mục đích điều tra
12.2. Nội dung điều tra
1.2.3. Phương pháp điều tra
1.2.4. Kết quả điều tra
Chƣơng 2: Thiết kế và sử dụng một số trò chơi toán học nhằm phát
huy tính tích cực chủ động cho học sinh lớp 1
2.1. Nguyên tắc thiết kế và sử dụng trò chơi toán học
2.1.1. Nguyên tắc thiết kế trò chơi toán học
2.1.2. Nguyên tắc sử dụng trò chơi toán học
2.2. Thiết kế trò chơi toán học lớp 1
2.2.1. Trò chơi trong các tiết học về số học
2.2.2. Trò chơi trong các tiết học về phép tính
2.2.3. Trò chơi trong các tiết học về đại lượng và đo đại lượng

9


2.2.4. Trò chơi trong các tiết học về hình học

quanh. Các em dễ vui, dễ buồn, dễ rung cảm… Sự nảy sinh tình cảm ở học
sinh gắn liền với những tình huống cụ thể với những hoạt động của trẻ. Trạng
thái tình cảm được bộc lộ khá rõ ràng qua ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, hành vi
của các em. Tình cảm trí tuệ đang hình thành và phát triển, các em dần biết
chăm lo cho kết quả học tập, biết thể hiện sự hài lòng hay không hài lòng với
kết quả của mình. Ở lứa tuổi này trẻ rất ham hiểu biết, thích khám phá để tìm
11


cái mới lạ trong thế giới tự nhiên và xã hội gần gũi xung quanh. Tình cảm đạo
đức và tình cảm thẩm mĩ cũng được thể hiện khá rõ nét thông qua tình cảm
bạn bè, tình cảm thầy trò, tình cảm tập thể, tình cảm ham thích cái đẹp... Việc
tổ chức tốt đời sống và hoạt động tập thể cho học sinh lớp 1 là điều kiện quan
trọng để hình thành và phát triển nhân cách cho các em.
Ý chí của các em cũng đang hình thành và phát triển. Tuy nhiên những
phẩm chất ý chí của các em như tính kiềm chế, độc lập, tự chủ, tính kiên trì
còn yếu. Các em chưa đủ khả năng theo đuổi lâu dài mục đích đã đề ra, chưa
kiên trì khắc phục khó khăn và trở ngại. Khi gặp thất bại cho các em có thể
mất lòng tin vào sức lực và khả năng của mình.
Tính cách của học sinh mới chỉ được hình thành. Điểm nổi bật nhất
trong tính cách của các em là tính xung đột - khuynh hướng hành động ngay
tức khắc do ảnh hưởng của các kích thích trực tiếp trong tính cách của các em
có nhiều mâu thuẫn và chưa bền vững.
Tóm lại, ở lứa tuổi này dưới ảnh hưởng chủ đạo của việc giảng dạy, việc
giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội và tổ chức đoàn - đội, sự phát triển tâm
lí, nhân cách của các em đang diễn ra mạnh mẽ. Việc tổ chức các trò chơi học
tập cho trẻ cũng là con đường hình thành và phát triển nhân cách của các em.
1.1.1.2. Đặc điểm về phát triển nhận thức
Lứa tuổi học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng đây là
giai đoạn đang diễn ra sự phát triển toàn diện về các quá trình nhận thức,

thực, dựa vào mô hình, tranh vẽ, lời mô tả của giáo viên. Việc tổ chức trò chơi
học tập là một trong những cách thức kích thích trí tưởng tượng của các em.
Trong khi chơi, tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo của các em đều
được phát triển tốt.
Tư duy của các em cũng có sự phát triển. Việc nắm vững kiến thức mẹ
đẻ như đọc, viết cũng như việc nắm các chữ số và các phép tính số học đó có
một vai trò rất to lớn. Các em học sinh lớp 1 làm quen với các ký hiệu, các

13


tượng trưng, các qui ước: chữ cái - kí hiệu của âm, chữ số - kí hiệu của số và số
lượng những cái gì đó. Tất cả mọi thao tác với các loại ký hiệu ấy đòi hỏi sự
trừu tượng hóa, sự lập luận và khái quát. Trong quá trình lĩnh hội các qui tắc
chính tả và số học luôn luôn diễn ra sự cụ thể hóa các qui tắc đó trong các ví dụ
và các bài tập. Ví dụ: để thực hiện phép cộng, trừ, trẻ làm bằng cách cho đếm
đi đếm lại số que tính, bằng cách thêm bớt một hai chiếc, bằng cách lấy đi một
số vật nào đó đã đưa ra, học sinh lớp 1 tìm thấy sự phụ thuộc tồn tại giữa các
số. Bằng hoạt động của mình, trẻ học cách thay đổi các số lượng này trên cơ sở
thấy trước được kết quả của nó. Qua các thao tác trên, tư duy của học sinh lớp
1 được phát triển nhanh chóng. Các em học cách tư duy trừu tượng bằng khái
niệm "sự bằng nhau", "sự không bằng nhau", "cộng thêm", "trừ đi"... Tuy vậy,
tư duy của học sinh đầu Tiểu học vẫn mang nặng tính trực quan cụ thể.
1.1.2. Định hƣớng dạy học môn Toán lớp 1
1.1.2.1. Mục tiêu môn Toán ở lớp 1
Dạy toán ở lớp 1 nhằm giúp học sinh:
* Kiến thức:
Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép
đếm; về các số tự nhiên trong phạm vi 100. Phép cộng, phép trừ không nhớ
trong phạm 100.

- Lược bỏ một số nội dung ở chương trình lớp 1 không cần thiết.
- Tăng thời lượng thực hành cho học sinh, mở rộng kênh hình thêm
phong phú, đa dạng, xây dựng các bài toán mở.
- Chương trình môn Toán ở lớp 1 dạy cho học sinh những kiến thức sơ
giản, đơn giản ban đầu về các phép toán phổ thông. Có thể tổng hợp toàn bộ
nội dung môn Toán ở lớp 1 theo 4 mạch kiến thức sau đây:
 Số học
- Nhận biết quan hệ số lượng (nhiều hơn, ít hơn, bằng nhau).
- Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 100; giới thiệu hàng chục, hàng
đơn vị; giới thiệu tia số.

15


- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phép cộng, phép trừ và mối quan hệ
giữa chúng; dạy bảng cộng, bảng trừ trong phạm vi 10; sử dụng bảng cộng,
trừ trong phạm vi 10 để thực hành cộng, trừ không nhớ trong phạm vi 100
(tính nhẩm và tính viết).
- Tính giá trị biểu thức số có đến hai dấu phép tính cộng, trừ (các trường
hợp đơn giản).
 Đại lượng và phép đo đại lượng
- Giới thiệu đơn vị đo độ dài xăng - ti - mét. Đọc, viết, thực hiện phép
tính với các số đo theo đơn vị xăng - ti - mét. Tập đo và ước lượng độ dài.
- Giới thiệu đơn vị đo thời gian: Tuần lễ , ngày trong tuần. Làm quen
với đọc lịch (lịch hàng ngày), đọc giờ đúng trên đồng hồ.
 Yếu tố hình học
- Nhận dạng bước đầu về hình vuông, hình tam giác, hình tròn. Giới
thiệu về điểm; điểm ở trong, ở ngoài của 1 hình; đoạn thẳng. Thực hành vẽ
đoạn thẳng, vẽ hình trên giấy ô vuông, gấp, gộp…hình.
 Giải toán có lời văn

Hoạt động thực hành luyện tập trong môn Toán ở Tiểu học chiếm tới
70% - 80% tổng thời gian dạy học Toán. Vì vậy, phương pháp thực hành luyện tập được sử dụng thường xuyên trong dạy học Toán.
Khi dạy kiến thức mới, bằng cách hướng dẫn học sinh sử dụng các đồ
dùng học tập của từng học sinh hoặc giải các bài toán có mục đích dẫn tới
việc nhận biết, phát hiện ra kiến thức mới, giáo viên có thể sử dụng phương
pháp thực hành - luyện tập để giúp học sinh học bài mới một cách tích cực.
Tiếp đó, giáo viên có thể cho học sinh thực hành, luyện tập để vận dụng kiến
thức mới học trong các trường hợp đơn giản đến phức tạp, qua thực hành luyện tập, học sinh càng hiểu và nắm vững kiến thức mới.
Trong các tiết luyện tập và thực hành toán học (ở trong và ngoài lớp)
phương pháp dạy học chủ yếu là phương pháp thực hành - luyện tập. Sử dụng

17


phương pháp thực hành - luyện tập trong dạy học Toán ở Tiểu học chủ yếu để
tăng cường hoạt động thực hành luyện tập, tăng cường thời gian thực hành
luyện tập cho học sinh. Vì vậy, cần tạo điều kiện để cho học sinh được thực
hành - luyện tập nhiều và đặc biệt là cần tổ chức hướng dẫn học sinh chủ
động, tích cực, sáng tạo trong thực hành, luyện tập, tránh làm thay hoặc áp đặt
cho học sinh.
+ Phương pháp gợi mở - vấn đáp
Phương pháp gợi mở - vấn đáp là phương pháp dạy học không trực tiếp
đưa ra những kiến thức hoàn chỉnh mà sử dụng một hệ thống các câu hỏi để
hướng dẫn học sinh suy nghĩ và lần lượt trả lời từng câu hỏi, từng bước tiến
dần đến kết luận cần thiết, giúp học sinh tự mình làm ra kiến thức mới.
Phương pháp gợi mở - vấn đáp tạo điều kiện cho học sinh tích cực, chủ động,
độc lập suy nghĩ trong học tập để tìm ra kiến thức mới.
Sử dụng phương pháp này sẽ góp phần làm cho học sinh học toán ở
lớp sôi nổi, nảy sinh, gây hứng thú học tập, tạo niềm tin vào khả năng học tập,
rèn luyện cho học sinh cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời, làm cho kết quả

thể chia như sau:
Nhóm hỗn hợp: Loại nhóm này thường gọi là “nhóm học tập” và
thường hoạt động trong các tiết học toán để giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết.
Nhóm theo trình độ: Loại nhóm này thường hoạt động trong một số tiết
thực hành, luyện tập toán theo phiếu giáo viên, phiếu bài tập toán phù hợp với
năng lực của học sinh.
Nhóm theo sở trường: Loại nhóm này chỉ dành cho đối tượng đặc biệt
trong các hoạt động ngoại khóa, tự chọn về toán: Chẳng hạn, nhóm học sinh
tham gia các lớp bồi dưỡng học sinh giỏi toán, hoặc nhóm học sinh tự chọn
toán theo trình độ nâng cao…
Việc chia nhóm có thể cố định hoặc không cố định. Tùy thuộc theo yêu
cầu của tiết học, khả năng tổ chức của giáo viên và sự tiến bộ cũng như
nguyện vọng của học sinh. Mỗi nhóm nên có nhóm trưởng để giúp giáo viên
điều hành hoạt động của nhóm.

19


+ Học theo lớp
Hoạt động chủ yếu: Thực hiện một số hoạt động chung của toàn lớp
như: Nghe giáo viên hướng dẫn cá nhân, học theo nhóm; trao đổi ý kiến đánh
giá kết quả, chữa bài chung của toàn lớp.
Nội dung hoạt động chung của lớp cần được giáo viên, học sinh (hoặc
nhóm học sinh) chuẩn bị chu đáo để tiết kiệm thời gian hoạt động của cả lớp.
+ Trò chơi học tập
Trò chơi học tập bao gồm các trò chơi có mục đích học tập rõ rệt.
Trong dạy học Toán ở Tiểu học đặc biệt là lớp 1 các trò chơi học tập toán có
nhiều tác dụng gây hứng thú học tập, góp phần làm cho tiết học trở nên sinh
động, kích thích trí tượng tưởng, trí nhớ… của học sinh. Hoạt động chủ yếu là
tổ chức chơi theo từng nhóm từng cá nhân hoặc cả lớp. Khi chơi học sinh phải

được phát huy quyền làm chủ quá trình học tập, giáo dục. Học sinh có điều
kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩ
năng lãnh đạo, kĩ năng tham gia, hợp tác trong các hoạt động.
1.1.3. Một số vấn đề lí luận về trò chơi toán học cho trẻ
1.1.3.1. Trò chơi
a, Khái niệm
Trước đây và hiện nay có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về trò chơi
đưa ra những quan niệm khác nhau về trò chơi.
Theo nhà tâm lí học Đức Karin Eden thì: “Cũng như cuộc sống và tình
yêu, vui chơi là một khái niệm không thể định nghĩa được vì nó là một quá
trình, mà đã là một quá trình thì nó luôn sống động, luôn thay đổi và phát
triển”. Tuy nhiên, người ta có thể miêu tả vui chơi là những gì trẻ em làm và
cái trẻ em thích chơi.
Tinna Bruce (1991) thì mô tả hoạt động chơi như là trung tâm của toàn
bộ quá trình học tập của trẻ em, nó không chỉ là một hoạt động giải trí sau
thời gian học tập còn là một sự chuẩn bị để bước vào thế giới người lớn. Trò
chơi tích cực hóa hoạt động của trẻ em, làm cho những kiến thức mà trẻ em

21


học được trở nên sâu sắc, rộng rãi, trọn vẹn và sáng tạo hơn. Trò chơi là
những kinh nghiệm đầu tiên giúp trẻ trở nên thành thạo và nhanh nhẹn hơn.
Thông qua hoạt động vui chơi, trẻ em hiểu và biết cách diễn đạt thể hiện
những suy nghĩ và cảm nhận của mình về thế giới xung quanh một cách rõ
ràng mạch lạc. Hoạt động vui chơi cũng là một hoạt động sáng tạo, thông qua
trò chơi trẻ em có thể nắm bắt và vận dụng những kiến thức chúng đã học
được. Vui chơi cho phép trẻ em phát triển và thể hiện những hiểu biết về kiến
thức của mình mà không cần phải thông qua việc tạo ra những sản phẩm thực.
Vui chơi là tư duy, là tưởng tượng, là sáng tạo.

trò chơi, người chơi được rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan, tạo cơ
hội giao lưu với mọi người, cùng hợp tác với bạn bè trong nhóm.
b, Bản chất
Trò chơi của các em rất đa dạng và phong phú về nội dung, tính chất cũng
như cách thức tổ chức chơi. Mỗi loại trò chơi đều mang tính chất riêng biệt của
mình. Nhiều công trình khoa học trong nước và ngoài nước đã nghiên cứu và cho
thấy hoạt động trò chơi ở trẻ em thường mang một số bản chất sau:
- Động cơ của trò chơi không nằm ở kết quả mà nằm ở ngay trong bản
thân hành động chơi. Trong trò chơi, trẻ em không bị phụ thuộc vào nhu cầu
thực tiễn, trẻ chơi xuất phát từ nhu cầu và hứng thú trực tiếp của bản thân.
“Trẻ chơi chỉ cốt cho vui, có vui thì mới chơi và đã chơi là phải vui”.
- Trò chơi là một hoạt động tự nguyện, một hoạt động mang tính tự do.
Trẻ chơi xuất phát từ nguyện vọng và hứng thú cá nhân không có sự ép buộc
nào cả. Nếu thích trẻ sẽ chơi và sẽ thôi không chơi khi đã chán. Tính tự do đó
giúp trẻ có được sự thoải mái, vui vẻ, đó chính là điều kiện để trẻ hăng say
tìm tòi, khám phá và làm nảy sinh nhiều sáng kiến.
- Trong trò chơi luôn mang lại cảm xúc chân thực, mạnh mẽ, đa dạng.
Trẻ tham gia vào cuộc chơi với tất cả sự say mê và lòng nhiệt tình vốn có của
nó. Nhờ có sự tạo ra nhiều hoàn cảnh chơi nên cảm xúc của trẻ được biểu hiện
với nhiều sắc thái. Trò chơi thâm nhập vào thế giới tình cảm của trẻ một cách

23


dễ dàng, nó tác động mạnh mẽ đến tình cảm của các em làm cho đứa trẻ bị
hấp dẫn bởi trò chơi.
- Trẻ hoạt động độc lập và tự điều khiển trò chơi trong quá trình chơi.
Trong khi chơi trẻ hoạt động rất tích cực và bộc lộ hết mình, chúng tự làm lấy
mọi việc. Trong cuộc chơi, mỗi cá nhân trẻ đều có trách nhiệm làm tròn công
việc được phân công, nếu không trò chơi sẽ bị thất bại hoặc đứa trẻ đó bị loại

đáp ứng được mục đích, yêu cầu đề ra vừa đảm bảo được kế hoạch chung của
hoạt động.
Thứ ba, trò chơi là một hoạt động sáng tạo.
Đây là đặc trưng quan trọng tạo nên sự hấp dẫn, thu hút học sinh tham
gia chơi, người xem, người tổ chức, người hướng dẫn trò chơi. Bởi lẽ, trong
suốt quá trình chơi cho đến khi kết thúc, trò chơi luôn là một ẩn số và đầy
những yếu tố bất ngờ mà không ai biết trước, đó cũng chính là thời gian dành
cho sự sáng tạo của người tham gia trò chơi.
Thứ tư, trò chơi là một hoạt động có quy tắc.
Trò chơi nào cũng vậy, dù đơn giản hay phức tạp thì những người tham
gia chơi đều phải tuân thủ các quy tắc nhất định. Điều đó làm hấp dẫn thêm
trò chơi vì người chơi đều bình đẳng với nhau và cùng tuân theo những quy
định mới mà không bị ràng buộc hay bị chi phối bởi bất kì điều kiện khách
quan, chủ quan nào.
Thứ năm, trò chơi là một hành động giả định.
Dù trò chơi có nguồn gốc từ đâu và từ lúc nào nhưng bao giờ trò chơi
cũng tạo ra cuộc sống khác hẳn với cuộc sống bình thường đang diễn ra. Do
đó, mỗi trò chơi luôn tạo nên cho người chơi một nhận thức, một cảm giác
khác thực tại.
d, Phân loại trò chơi
Có nhiều cách phân loại trò chơi:
- Phân loại theo địa điểm: Trò chơi được tổ chức trong phòng học, sân
tập, dưới nước, trên bãi cát...

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status