Tiểu luận cuối khoá bồi dưỡng ngạch chuyên viên
1. Tính cấp thiết của tiểu luận
Nhằm thực hiện chương trình từng bước hoàn thiện và tiêu chuẩn hoá
Cán bộ công chức nhà nước theo chức danh, vị trí công tác theo kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức năm 2017 của tỉnh ủy và UBND tỉnh Đồng
Nai. Bản thân em cùng những học viên khác trong toàn tỉnh tham gia lớp bồi
dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên năm 2017, được
tổ chức tập trung tại trung tâm giáo dục thường xuyên Tỉnh Đồng Nai từ ngày
14/11/2017 đến ngày 15/12/2017, khoá học được quý Thầy Cô của cơ sở
trường đại học nội vụ Hà Nội tại TP.HCM, truyền đạt cho học viên 03 học
phần, đó là: Kiến thức chung, Quản lý nhà nước theo ngành và lãnh thổ và
các kỹ năng khác.
Quá trình tham dự tại khoá học, với sự đầu tư biên soạn nội dung
chương trình học ngắn gọn nhưng đầy đủ và sự nhiệt tình của quý thầy cô, tất
cả lớp đã được quý Thầy Cô của cơ sở Trường đại học nội vụ Hà Nội tại
TP.HCM tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức, phương pháp quản
lý nhà nước ở tất cả các lĩnh vực, góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng của
cán bộ công chức để thực thi công vụ có hiệu quả trong thời gian tới.
Quá trình liên hệ thực tiễn trong công tác em nhận thấy vấn đề “An
toàn trong sản xuất” và “sản xuất phải an toàn” luôn là khẩu hiệu hành động
của các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Những năm
gần đây quá trình công nghiệp hóa ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu thì
vấn đề an toàn trong lao động không chỉ là vấn đề riêng của khu vực sản xuất
kinh doanh mà trở thành vấn đề đáng quan tâm của mọi người lao động trong
tất cả các cơ quan, đơn vị và mọi thành phần kinh tế.
Đặc biệt, trước yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực, nhất là sau khi
Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì Bộ luật lao
động cần phải được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế 1
Tiểu luận cuối khoá bồi dưỡng ngạch chuyên viên
2. Tình huống của tiểu luận
2.1. Mô tả tình huống
Tháng 10/2015 ngành lao động của Sở lao động thương binh xã hội
tỉnh Đồng Nai nhận được đơn khiếu nại của chị Nguyễn Thị T, 36 tuổi, ngụ tại
xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, đề nghị can thiệp giúp đỡ
cho chị về bồi thường tại nạn lao động, theo nội dung đơn của chị thì gia đình
nghèo, học đến lớp 5 thì nghỉ học phụ việc cho gia đình, lớn lên thì đi làm và
hiện tại chị đang làm công nhân cho một doanh nghiệp sản xuất gạch ngói
Đông Hà đặt tại xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, do ông Lê
Hoàng H làm chủ.
Chủ doanh nghiệp phân công chị T vào tổ chuyên nhào trộn, ép đất
nguyên liệu do ông Nguyễn Thanh N làm tổ trưởng, cùng làm việc với chị T
còn có chị Bùi Thị K, công nhân mới được vào làm việc hơn 6 tháng, công
việc của chị T là đưa đất vào máy ép để nhào trộn, đây là công đoạn đầu tiên
rất quan trọng của quy trình sản xuất gạch ngói nung và đây cũng là công
đoạn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm cho người lao động trực tiếp.
Một số chi tiết quan trọng nghi trong hợp đồng lao động giữa chị T và
doanh nghiệp là: tiền công 200.000 đồng/ngày, mỗi tháng nhận 2 lần vào ngày
5 và ngày 15 hàng tháng, do chị T ở xa nhà nên được bố trí ở tạm trong khu
tập thể của doanh nghiệp.
Qua hơn 1 năm làm việc, chị T nhận được đầy đủ lợi ích ghi trong hợp
đồng, ngoài ra những ngày lễ tết trong năm đều được doanh nghiệp tặng
thưởng quà.
Ngày 02/01/2015, một sự cố nghiêm trong đã xảy ra tại nơi làm việc
của chị T: như thường lệ, sau khi khởi động máy và bắt đầu thao tác gần được
2 giờ đồng hồ thì bộ phận lưới sắt dùng để che chắn, bảo vệ miệng trục lăn
phù hợp với bản thân trong giai đoạn này, vết thương chưa lành hẳn, phải tiếp
tục điều trị thêm, hoàn cảnh chị rơi thêm vào tình huống khó khăn. Chị T đến
gặp chủ doanh nghiệp xin được sự cầu cứu trợ giúp để tiếp tục sống và điều
4
Tiểu luận cuối khoá bồi dưỡng ngạch chuyên viên
trị vết thương, nhưng ông H chủ doanh nghiệp gạch ngói Đông Hà từ chối với
lý do ông đã làm tròn trách nhiệm trong quá thời gian điều trị bệnh cho chị.
2.2. Bình luận tình huống
Chị T gặp khó khăn trong cuộc sống, không có việc làm, không có thu
nhập, không còn người giúp đỡ trong cuộc sống hiện tại, bởi vì chị vẫn đang
cần chăm sóc y tế do đó đã đến gặp chủ doanh nghiệp để được giúp đỡ, nhưng
chị đã bị từ chối, việc chủ doanh nghiệp từ chối là chưa đúng, vi phạm quy
định của Bộ luật lao động, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của chị T.
Nếu trong trường hợp mà chị T đã bình phục vết thương có khả năng
lao động lại như trước thì doanh nghiệp từ chối không giúp đỡ chị T thì chính
đáng, nhưng trong trường hợp trên chị đang trong quá trình điều trị chưa hoàn
toàn bình phục thì chủ doanh nghiệp cũng cần phải co trách nhiệm với người
lao động mới là chính đáng và hợp theo quy định của Luật lao động.
Thứ nhất theo Điều 144 bộ luật lao động năm 2012. Trách nhiệm của
người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm
trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo
hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi
điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.
Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.
Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
bồi thường cho người lao động nếu trong trường hợp tai nạn do lỗi của doanh
nghiệp.
Việc chị T làm đơn khiếu nại là đúng và hoàn toàn chính đáng để bảo
vệ quyền lợi cho mình, theo đơn khiếu nại của chị T ngày 30/10/2015 đoàn
kiểm tra gồm:
Đại diện phòng lao động thương binh xã hội huyện
Đại diện trung tâm y tế huyện
6
Tiểu luận cuối khoá bồi dưỡng ngạch chuyên viên
Đại diện liên đoàn lao động huyện
Đoàn kiểm tra đã trực tiếp đến cơ sở sản xuất gạch ngói Đông Hà để
xác định diễn biến dẫn đến tai nạn lao động và tiến hành các bước điều tra
theo đơn khiếu nại và theo các quy định xác định tình trạng thương tích của
chị T như sau:
Theo giấy ra viện của bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai cấp ngày
10/05/2015 xác nhận: chị T bị tai nạn làm dập nát một phần bàn tay và cả
khủy tay phải, bệnh viện đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm, khâu hở xương
quai trụ, xương cánh tay phải, nắn khớp khủy và khâu vá nhiều vết thương
trên mu và lòng bàn tay phải. Chị T được chuyển qua khoa chấn thương chỉnh
hình của bệnh viện để tiếp tục điều trị vết thương theo chuyên khoa và được
xuất viện, trở về nhà tiếp tục uống thuốc theo toa và tái khám định kỳ 3
tháng/lần.
Kiểm tra nơi làm việc của chị T, đoàn kiểm tra ghi nhận như sau: khu
vực để máy không có bảng chỉ dẫn về an toàn lao động, người lao động vận
hành máy trong điều kiện không đảm bảo an toàn lao động, người sử dụng lao
động (chủ doanh nghiệp) không tiến hành huấn luyện và hướng dẫn các quy
trình, quy phạm, các biện pháp an toàn khi vận hành máy…không cung cấp
động: không khai trình lập sổ lao động, sổ lương, bảo hiểm xã hội, không
đăng ký nội quy lao động với ngành lao động. Ngoài ra chủ doanh nghiệp còn
vi phạm về quy định khai báo, đăng ký và xin cấp giấy phép sử dụng các máy
móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, nơi đặt máy không
treo các chỉ dẫn về an toàn lao động.
Khi tai nạn xảy ra đã không kịp thời khai báo với cơ quan chức năng về
lao động, chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm bồi thường vật chất đối với
người bị tai nạn lao động.
Chị T làm việc ở khâu nhào trộn đất, có vận hành máy điện nhưng chỉ
được hướng dẫn sơ sài về cách vận hành máy, chưa được huấn luyện về an
8
Tiểu luận cuối khoá bồi dưỡng ngạch chuyên viên
toàn vệ sinh lao động, chưa được trang bị đầy đủ bảo hộ lao động theo quy
định của nhà nước.
Đối với người lao động do nhu cầu của việc làm và thu nhập nên khi
được nhận vào làm việc, được giải quyết nơi ở tạm, được hưởng lương theo
chế độ khoán, không có bảo hiểm xã hội, lại là người trình độ văn hóa thấp,
nhận thức về pháp luật lao động chưa đầy đủ, không có tay nghề nên chị T đã
vì quyền lợi trước mắt mà dễ dàng chấp nhận công việc (theo kiểu nghề dạy
nghề, người có thâm niên dạy người mới vào làm việc).
Chị T chủ quan xem thường các quy trình, quy phạm cũng như mối
nguy hiểm khi vận hành máy móc thiết bị, không đủ hiểu biết và bản lĩnh từ
chối khi phải làm việc trong điều kiện không đảm bảo an toàn trong lao động.
2.3. Lựa chọn vần đề giải quyết
Nhằm giải quyết, xử lý thỏa đáng đúng theo quy định của pháp luật lao
động, các vụ tai nạn lao động góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Tiểu luận cuối khoá bồi dưỡng ngạch chuyên viên
3. Phương án giải quyết vấn đề lựa chọn
3.1. Các phương án
Từ thực tế tai nạn lao động của chị T tại doanh nghiệp Đông Hà, căn cứ
biên bản của đoàn kiểm tra tai nạn lao động liên ngành bao gồm Phòng lao
động thương binh xã hội huyện Vĩnh Cửu, liên đoàn lao động huyện Vĩnh
Cửu, em xin đề xuất 3 phương án như sau:
3.1.1. Phương án 1
Xác định tai nạn lao động trên đây là trường hợp khá nghiêm trọng,
Căn cứ Bộ luật lao động ngày 18 tháng 6 năm 2012; Căn cứ Luật An toàn, vệ
sinh lao động ngày 25 tháng 6 năm 2015; cần nhanh chóng thành lập đoàn
kiểm tra tai nạn lao động cấp tỉnh gồm:
Đại diện Sở Lao Động Thương Binh xã Hội tỉnh Đồng Nai
Đại diện sở Y tế
Đại diện liên đoàn lao động tỉnh
Quyết định thành lập đoàn điều tra do giám đốc sở Lao Động Thương
Binh xã Hội ký các bước làm việc gồm:
Đoàn điều tra tiến hành tiếp xúc với chị T tìm hiểu về quá trình chữa trị
vết thương, việc chăm sóc, chi trả các khoản chi phí và các quyền lợi khác của
người lao động.
Đoàn điều tra làm việc trực tiếp với chủ doanh nghiệp để xác minh nội
dung đơn, đồng thời yêu cầu cung cấp hồ sơ về quản lý lao động tại doanh
nghiệp, xác minh hiện trường nơi xảy ra tai nạn lao động, việc thực hiện các
kiến nghị về an toàn lao động của đoàn kiểm tra trước đây, tình hình thực hiện
các quy định của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp, việc
bồi thường tai nạn trước đây (nếu có) và bồi thường cho trường hợp chị T như
thế nào.
11
12
Tiểu luận cuối khoá bồi dưỡng ngạch chuyên viên
3.1.2. Phương án 2
Thành lập đoàn kiểm tra như phương án thứ nhất: đoàn kiểm tra cũng
tiến hành làm việc với chủ doanh nghiệp và người bị tai nạn lao động, nghe
hai bên trình bày ý kiến về từng vụ việc cụ thể, có giải trình chi tiết theo trình
tự thời gian diễn biến của vụ việc.
Đoàn kiểm tra tổng hợp các ý kiến và kết luận từng mức độ sai phạm
của từng bên, từng sự việc cụ thể. Từ đó đưa ra được nguyên nhân để từng
bên nhận ra và cam kết có biện pháp khắc phục hậu quả, sửa chữa khuyết
điểm và thực hiện đúng chế độ, chính sách với các quy định của pháp luật
hiện hành.
Nếu mức độ sai phạm của chủ doanh nghiệp đúng như đơn khiếu nại
của chị T, thì đoàn điều tra sẽ đề nghị xử phạt theo Nghị định 88/NĐ-CP ngày
7/10/2015 của chính phủ về xử phạt hành chính về vi phạm pháp luật lao
động.
Căn cứ theo điều 142, 144, 145 trách nhiệm của người sử dụng lao
động đối với người bị tai nạn lao động của Luật lao động số 10/2012/QH13.
Ưu điểm của phương án
Thời gian giải quyết sẽ nhanh hơn, sớm giải tỏa được mâu thuẫn và tâm
lý căng thẳng giữa hai bên, sớm ổn định kinh doanh sản xuất, người lao động
và người chủ lao động ít tốn thời gian cho hội họp, tiếp đoàn kiểm tra.
Hạn chế của phương án
Do sự việc mỗi bên đưa ra chưa có đủ cơ sở vững chắc, các cứ liệu
chưa chính xác, tham khảo ý kiến của mỗi bên để đưa ra những phân tích xác
đáng mà chỉ được lắng nghe ý kiến của mỗi bên, vừa phân tích vừa tổng hợp
Ưu điểm của phương án
Có khả năng không phải thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp
tỉnh hoặc không mất nhiều thời gian trong quá trình điều tra, tiết kiệm được
thời gian, kinh phí.
14
Tiểu luận cuối khoá bồi dưỡng ngạch chuyên viên
Người sử dụng lao động và người lao động ít thời gian cho hội họp,
tiếp xúc và làm việc với đoàn điều tra.
Hạn chế của phương án
Nếu đoàn kiểm tra cáp huyện không đủ sức giải quyết thì có thể sẽ dẫn
đến những quyết định không công bằng, gây ảnh xấu đến sản xuất kinh
doanh, tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Đoàn điều tra cấp huyện có thể không đủ sức giải quyết vụ việc. Khi đó
phải tiến hành thành lập đoàn điều tra cấp tỉnh. Do đó, sẽ kéo dài thời gian
giải quyết, tạo tâm lý căng thẳng cho 2 bên.
3.2. Lựa chọn phương án giải quyết
Qua các phương án và việc phân tích ưu điểm và những mặt hạn chế
như trên, theo em với trường hợp tai nạn lao động cụ thể của chị T tại doanh
nghiệp Đông Hà thì đây là loại tai nạn nghiêm trọng nên cần chọn theo
phương án thứ nhất bởi vì theo phân tích ở trên thì phương án này có tính
thuyết phục cao, giải quyết thấu tình đạt lý, phương án này nhiều ưu điểm, ít
hạn chế.
4. Tổ chức phương án lựa chọn
Thông qua vụ việc trên có thể xây dựng tổ chức phương án là Sở Lao
Động Thương Binh xã Hội tỉnh Đồng Nai trực tiếp chỉ đạo phòng lao động
thương binh xã hội huyện Vĩnh Cửu phối kết hợp với các ban ngành liên quan
để xử lý vụ việc.
phạm các quy định pháp luật về các chế độ đối với người lao động như trốn
tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, không ký kết thỏa ước tập thể lao
động…
Trong các vi phạm nêu trên, thì vấn đề giải quyết tình trạng vi phạm các
quy định về an toàn vệ sinh lao động là vấn đề bức xúc nhất, quan trọng nhất.
Với định hướng phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần, kinh tế
khu vực tư nhân đang phát triển với tộc độ nhanh, đã góp phần thúc đẩy mạnh
mẽ sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, để sự tăng trưởng đó
16
Tiểu luận cuối khoá bồi dưỡng ngạch chuyên viên
đáp ứng tốt yêu cần chiến lược của Đảng và nhà nước ta về một sự phát triển
bền vững, thì việc giải quyết sự việc một cách hài hòa, tốt đẹp các mối quan
hệ, các lợi ích xã hội là vấn đề cần phải đặt ra và đòi hỏi cần giải quyết tốt
ngay trên từng chặng đường tăng trưởng kinh tế. Xu hướng phát triển trong
những năm gần đây cho thấy cùng với sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo
hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp – dịch vụ thì cũng đồng thời diễn ra quá
trình chuyển dịch mạnh mẽ lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị.
Thực trạng về chất lượng đội ngũ lao động này như đã nêu ở phần trên
đòi hỏi các ngành có liên quan cần tăng cường nhiều hơn nữa sự quan tâm
chăm lo cho vấn đề an toàn vệ sinh lao động và các vấn đề liên quan ở khu
vực này. Bản thân em cũng mạnh dạn xin đề xuất thêm một số đề xuất, kiến
nghị như sau:
Làm tốt các biện pháp đảm bảo có hiệu quả công tác an toàn vệ sinh lao
động chính là thành công ngày từ bước đầu tiên sự “che chắn của xã hội” đối
với sức khỏe người lao động, thể hiện sự chân trọng và bảo vệ vốn quý nhất
của xã hội đó là con người, sức khỏe của con người, con người có ý nghĩa vừa
là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển bền vững.
Tiểu luận cuối khoá bồi dưỡng ngạch chuyên viên
Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 ngày 18/06/2012, bộ luật này đã
được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam khóa xiii, kỳ họp thứ
3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012.
Luật công đoàn số 12/2012/QH13 Luật này đã được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày
20 tháng 6 năm 2012. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2013.
Luật an toàn vệ sinh lao động số: 84/2015/QH13 Luật này đã được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9
thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2015.
Nghị định 39/2016/NĐ-CP hướng dẫn Luật an toàn vệ sinh lao động
năm 2015
luật bảo hiểm xã hội của quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt
nam số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006, luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007.
19