MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Chương I: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
I.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của FDI
1. Khái niệm về FDI Đặc điểm của FDI
2. Vai trò của FDI
II.
Tổng quan về thu hút FDI
1. Khái niệm
2. Các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài chính ở Việt Nam hiện nay
III.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI
1. Các yếu tố về môi trường đầu tư
2. Công tác xúc tiến đầu tư
Chương II: Thực trạng thu hút FDI vào thành phố Hà Nội
I.
Quá trình thu hút FDI của thành phố Hà Nội
II.
Kết quả thu hút FDI trong những năm gần đây của thành phố Hà Nội
1. Quy mô và tốc độ tăng nguồn vốn FDI
2. Các đóng góp của nguồn vốn FDI với sự phát triển kinh tế - xã hội của
hưởng của môi trường đầu tư và cơ hội đầu tư, tình hình biến động kinh tế của
khu vực và trên thế giới và đặc biệt là hiệu quả của công tác xúc tiến đầu tư.
Kể từ khi Hà Nội mở rộng địa giới hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài của Thành phố có nhiều vấn đề cần xem xét một cách toàn diện.
Hà Nội mới bao gồm Hà Nội cũ, toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh
Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn Hòa Bình với những đặc thù riêng của
từng địa phương về tự nhiên, dân số, các vấn đề xã hội-kinh tế khác nhau, tạo
nên sự đa dạng phong phú về nguồn lực đồng thời là sự cồng kềnh hơn của bộ
máy quản lý nhà nước đòi hỏi Hà Nội nhìn nhận lại những thành tựu và hạn
chế trong hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của mình để đưa ra
giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Thành phố.
Nhận thức đúng vị trí vai trò của đầu tư nước ngoài là hết sức cần thiết.
Chính phủ cũng đã ban hành chính sách đầu tư nước ngoài vào Hà Nội. Đồng
thời tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng ta
bằng những biện pháp mạnh về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh… để
thu hút đầu tư nước ngoài. Với phương châm của chúng ta là đa thực hiện đa
dạng hoá, đa phương hoá hợp tác đầu tư nước ngoài trên cơ sở hai bên cùng
có lợi và tôn trọng lẫn nhau. Bằng những biện pháp cụ thể để huy động và sử
dụng có hiệu quả vốn ĐTTTNN trong tổng thể chiến lược phát triển và tăng
trưởng kinh tế là một thành công mà ta mong đợi.
Trong bối cảnh mở rộng địa giới và tình hình kinh tế phát triển hiện
nay, em chọn đề tài: “Phân tích ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) với phát triển kinh tế của thành phố Hà Nội giai đoạn năm 2002-2012
và định hướng đến năm 2020” để tìm ra được những nhân tố ảnh hưởng đến
đầu tư trực tiếp nước ngoài; những điểm mạnh, điểm yếu của đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Hà Nội và đưa ra được phương hướng khắc phục được những
quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn đặc biệt là trong nền kinh tế hội nhập như
hiện nay nó lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hinh thức
vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước
khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành tổ chức sản
xuất nhằm tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ và năng lực quản lý để
tối đa hóa lợi ích của mình.
Bản chất của FDI càng thể hiện rõ hơn qua việc xem xét nó dưới góc độ
nhà đầu tư, đối với nước tiếp nhận đầu tư và với tư cách là một dòng vốn quốc
tế. Vai trò của FDI có thể rất khác nhau đối với sự phát triển của các nước
khác nhau, đối với từng giai đoạn phát triển khác nhau của một nước. Do vậy
mỗi quốc gia tiếp nhận FDI thường có chiến lược, sách lược, trọng tâm và lộ
trình riêng cho việc thu hút dòng vốn này.
2. Đặc điểm của FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có các đặc điểm sau:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được thực hiện thông qua các
phương thức: Xây dựng mới, mua lại toàn bộ hay từng phần của một cơ sở
đang hoạt động, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần để thao túng hoặc sát
nhập các doanh nghiệp với nhau.
- Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành dự án mà họ
bỏ vốn đầu tư. Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của
chủ đầu tư trong vốn pháp định của dự án. Nếu doanh nghiệp góp 100% vốn
trong vốn pháp định thì doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài và cũng do họ quản lý toàn bộ.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận mà
có thể cả bí quyết kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý hiện đại, tạo ra
2010
8000000
20112
2012
6000000
4000000
2000000
0
thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước
Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp FDI đã đóng góp 1 lượng tương
đối lớn vào ngân sách nhà nước và liên tục tăng từ 2010 đến 2011 tăng
khoảng 5000000 triệu đồng
b) Giải quyết các vấn đề việc làm cho người lao động
Các doanh nghiệp FDI thường tập trung trong các ngành nghề sử dụng
nhiều vốn và công nghệ hiện đại. Lao động làm việc đòi hỏi có tay nghề và
trình độ chuyên môn cao. Mức đầu tư trên một lao động ở các doanh nghiệp
có vốn FDI thường lớn hơn so với các khu vực kinh tế khác. Lao động trong
các doanh nghiệp có vốn FDI được làm quen với thiết bị công nghệ hiện đại,
học hỏi được các kỹ năng quản lý doanh nghiệp tiên tiến, có mức thu nhập
cao hơn mức thu nhập trung bình. Tuy không giải quyết việc làm trên quy mô
lớn, nhưng các doanh nghiệp FDI là một trong những giải pháp quan trọng
trong nâng cao năng lực lao động của địa phương. Hơn nữa, với tỷ lệ nội địa
vô cùng lớn đối với nền kinh tế quốc dân cũng như Hà Nội nói riêng. Mà
được thể hiện rõ ràng nhất là thông qua quá trình tạo ra nhiều công ăn việc
làm cho người lao động trong nước hay gửi lao động đi lao động ngoại quốc.
Mỗi năm trong khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế của Hà Nội do đầu
tư trực tiếp nước ngoài FDI đã giải quyết được hàng triệu lao động trong các
nghành kinh tế dịch vụ.
%
Biêu đồ thể hiện tỷ trọng lao động của doanh
nghiệp FDI so với cả nước (dv %)
13
12,8
2010; 12,74063068
12,6
2012; 12,4916303
12,4
12,2
12
2011; 11,87221643
11,8
11,6
trường là yếu tố quyết định đến sự sống còn và phát triển của các quốc gia và
các doanh nghiệp. Công nghệ góp phần làm cho các doanh nghiệp tạo được
những ưu thế rất lớn trên thị trường, tạo ra sức mạnh cạnh tranh cho các
doanh nghiệp
Đối với các nước đang phát triển hay kém phát triển, vấn đề công nghệ
lại càng trở nên cấp thiết. Thông qua các dự án đầu tư FDI mà các nước này
có thể nhanh tiếp cận với các công nghệ tiên tiến của các nước phát triển, dần
thu ngắn khoảng cách đối với các nước này tạo ra sức mạnh cạnh tranh mới,
tạo ra thị trường mới cho các doanh nghiệp đầu tư FDI và các nước nhận được
đầu tư FDI.
e) Tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế
Thông qua các chương trình dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI mà
việt nam cũng như thành phố Hà Nội có thể có quan hệ giao lưu, hợp tác với
các nước khác trên thế giới. Đồng thời có thể tiếp nhận, học hỏi một số kĩ
thuật tiên tiến của các nước có nền công nghệ tiên tiến trong các nghành kinh
tế mà Việt Nam còn yếu hay kém phát triển như các ngành về bưu chính viễn
thông, lọc hóa dầu, năng lượng… đồng thời Việt Nam còn có thể tiếp thu
được một số kinh nghiệm quản lý của nước ngoài. Đây là những thứ mà việt
nam đang rất yếu và rất thiếu cần nâng cấp để có một nền kinh tế vững mạnh
hơn.
Từ những vai trò kể trên có thể thấy rằng tầm quan trọng của đầu tư trực
tiếp nước ngoài FDI đến sự phát triển kinh tế nói chung của việt nam và Hà
Nội nói riêng như thế nào. Trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa
ngày nay đây là một hình thức rất tốt trong công cuộc thu hút vốn, đầu tư
nhằm phát triển đất nước. Nó còn góp phần giải quyết một số vấn đề nan giải
của Hà Nội đó là việc làm, khả năng, năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong nước, đa dạng hóa nền kinh tế, hình thức sở hữu…
hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở nước nhận đầu tư trong đó quy
định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà
không cần thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân. Hình thức này
không làm thành một công ty hay một xí nghiệp mới. Mỗi bên vẫn hoạt động
với tư cách pháp nhân độc lập của mình và mỗi bên thực hiện nghĩa vụ theo
quy định trong hợp đồng. Kết quả phụ thuộc vào sự tồn tại và thực hiện nghĩa
vụ của mỗi bên hợp doanh. Hợp đồng hợp tác kinh doanh có thể được kết
thúc trước thời hạn nếu thỏa mãn đủ các điều kiện quy định trong hợp đồng,
hợp đồng cũng có thể được kéo dài khi có sự đồng ý của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư.
b) Doanh nghiệp liên doanh.
Đây là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó pháp nhân mới
được thành lập được gọi là doanh nghiệp liên doanh. Doanh nghiệp mới này
do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng
liên doanh hoặc ký hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và Chính phủ nước ngoài. Doanh nghiệp liên doanh cũng có thể
được thành lập do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên cơ sở liên
doanh. Nhằm tiến hành các hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực của nên
kinh tế quốc dân. Pháp nhân mới được thành lập theo hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn trong đó phần vốn góp của nước ngoài không hạn chế mức tối
đa, nhưng mức tối thiểu theo quy định của luật không dưới 30% vốn pháp
định.
Mỗi bên tham gia vào doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân riêng,
nhưng doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân độc lập với các bên tham
gia. Khi các bên đã đóng góp đủ số vốn đã quy định vào liên doanh thì dù một
bên có phá sản, doanh nghiệp liên doanh vẫn tồn tại.
Số người tham gia hội đồng quản trị lãnh đạo doanh nghiệp của các bên
Nam. Trong hình thức đầu tư này, các nhà đầu tư có toàn quyền tổ chức xây
dựng, kinh doanh công trình trong một thời gian đủ thu hồi vốn đầu tư và có
lợi nhuận hợp lý, sau đó có nghĩa vụ chuyển giao cho nhà nước Việt Nam mà
không thu bất kỳ khoản tiền nào.
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO) là phương thức
đầu tư dựa trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt
Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ
tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển giao công
trình cho nhà nước Việt Nam. Nhà nước Việt Nam sẽ dành cho nhà đầu tư
quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn
đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT) là một phương thức đầu tư
nước ngoài trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của
Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng.
Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho
nhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước
ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
III.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư FDI tại
thành phố Hà Nội
1. Các yếu tố về môi trường đầu tư.
Môi trường đầu tư là các yếu tố như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên,
tình hình chính trị, pháp luật ,văn hóa - xã hội… của quốc gia mà nhà đầu tư
có ý định cần đầu tư. Đây là vấn đề mà nhà đầu tư cần xem xet kĩ các vấn đề
có liên quan bởi lẽ các vấn đề này là những vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến
Nam và từ Tây sang Đông..
Xét về mặt thời gian hình thành lớp phù sa, có thể phân bố thành phố
Hà Nội thành 2 vùng, vùng phù sa cũ (đại bộ phận nằm ở phía tả ngạn sông
Hồng, phía tây quốc lộ 1. Đất được hình thành trên nền trầm tích thuộc thời
kỳ thứ 2, khả năng chịu nén tốt). Vùng phù sa mới (nằm ở phía nam ngoại
thành Hà Nội, phần lớn ở huyện Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm. Đất ở đây chủ
yếu do phù sa mới của sông Hồng hình thành, nền đất yếu hơn vựng trờn)
Trên cơ sở quá trình tạo thành và cấu trúc địa hình hiện đại, có thể phân
bố lãnh thổ thành phố Hà Nội thành 2 vựng chớnh sau:
+ Vùng đồng bằng: địa hình đặc trưng của Hà Nội, chiếm tới 90% diện
tích đất tự nhiên, bao gồm toàn bộ nội thành, các huyện Đông Anh, Gia Lâm,
Từ Liêm, Thanh Trì và một phần phía Nam của huyện Sóc Sơn. Độ cao trung
bình của vùng từ 4-10 m, cao nhất khoảng 20m so với mặt nước biển. Nơi đây
tập trung đông dân cư, với nền văn minh lúa nước, trồng hoa màu, chăn nuôi
gia súc
+Vựng đồi núi: chiếm 10% diện tích đất tự nhiên tập chung chủ yêu ở phía
Tây Bắc huyện Sóc Sơn. Địa hình của vùng này phức tạp, phần lớn là các đồi
núi thấp, độ cao trung bình từ 50-100m. Vùng đất này tầng đất rất mỏng, thích
hợp với việc phát triển các cây trồng lâm nghiệp.
Tài nguyên thiên nhiên
Tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Nội là 3.324,92 km2, trong đó diện
tích đất ngoại thành chiếm 90.86%, nội thành chiếm 9.14%. Trong đó đất
nông nghiệp chiếm tới 47.4%, đất lâm nghiệp chiếm 8.6%, đất chuyên dụng
chiếm 22.3%, đất nhà ở chiếm 12.7%, đất chưa sử dụng chiếm 9%.
Hệ thống đất của Hà Nội gồm các nhóm:
- Đất phù sa thuộc hệ thống sông Hồng vừa có quy mô diện tích lớn
(91.4% diện tích nhóm), phân bố tập trung, vừa ít chua và hầu hết các chỉ tiêu
chủ yếu, số còn lại là sét chịu lửa, sét gốm sứ..
Điều kiện văn hoá xã hội.
Biểu đồ so sánh dân số trung bình của Hà Nội và
đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2003 - 2012
30000
25000
20000
15000
10000
5000
0
1
2
3
4
5
6
7
8
6588,5
6725,7
6844,1
8
9
10
6000
5000
4000
3000
3000,3
3071,4
1
2
3133,4
3184,8
mình. Các doanh nghiệp có thể tập trung phát triển các ngành công nghiệp
dịch vụ như khách sạn, trung tâm vui chơi, giả trí.
Điều kiện kinh tế
Trong 5 năm từ 2008 đến 2012
Đánh giá về tình hình phát triển kinh tế của Hà Nội sau 5 năm thực
hiện Nghị quyết số 15 của Quốc hội về mở rộng địa giới hành chính, ông Ngô
Văn Quý, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cho biết, sau 5 năm Hà
Nội mở rộng địa giới hành chính, kinh tế Thủ đô đã duy trì tăng trưởng với
tốc độ cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, các ngành dịch
vụ, công nghiệp xây dựng, nông lâm thủy sản phát triển toàn diện.
Bảng số liệu thu nhập bình quân theo vùng khu vực ĐBSH giai đoạn
2010-2012 (dv: nghìn đồng)
2010
STT
Địa bàn
1 Hà Nội
2
3
Thái
Nguyên
Bắc
Giang
4 Phú Thọ
5
nhập
nhập
nhập
BQ đầu
BQ hộ
BQ đầu
BQ hộ
BQ đầu
BQ hộ
người
GĐ
người
GĐ
người
GĐ
3245,1
1727
4136
1126
2574,2
1336
3054,3
1638
3744,7
1232
2810,2
1434
3271
1724
3932,5
3445,9
1986
4157,7
2431
5089,3
1306
2649,1
1563
3170,4
1889
3831,7
1150
2289,8
1391
2769,6
0
2008
2009
2010
2011
2012
CẢ
NƯỚC
+
Thành
Thị
+ Nông
thôn
Đồng
bằng
sông
Hồng
995
1.156
1.387
1.676
2.000
1.605
1.018
1.103
1.208
1.285
1.469
Tây
Nguyên
Đông
Nam Bộ
Đồng
bằng
sông
Cửu
Long
795
913
1.088
1.341
1.631
1.773
1.824
2.304
2.683
3.241
25
Hải Phòng
Hưng Yên
20
Thái Bình
Hà Nam
15
Nam Định
10
Ninh Bình
5
0
2010
2011
2012
Theo đó ta có thể thấy rằng Hà Nội luôn là nơi chiếm tỷ trọng GDP
theo giá thực tế cao nhất khu vực ĐBSH, tuy nhiên tỷ trọng này lại có xu
hướng giảm liên tục từ năm 2010 đến 2012. Cụ thể giảm từ 43.7% năm 2010
Trong thời gian qua, thu ngân sách trên địa bàn liên tục đạt và vượt dự
toán, bình quân hàng năm đạt 106.880 tỷ đồng, tăng trung bình 19,2%/năm.
Năm 2012 thu ngân sách đạt 146.331 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần năm 2008.
Cùng với những kết quả trên, Hà Nội cũng đẩy mạnh huy động vốn đầu
tư địa bàn. Năm 2012, tổng đầu tư xã hội đạt 232.659 tỷ đồng, tăng gấp 1,87
lần so với năm 2008. Trong đó, vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,5 lần. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2008-2012 thu hút được 1.474 dự án với số vốn
đăng ký 9.028 triệu USD.
Với những kết quả đã đạt được, kinh tế Thủ vai đô có trò, đóng góp
ngày càng lớn so với cả nước. Năm 2012, TP Hà Nội đã đóng góp 10,06
GDP; 9% kim ngạch xuất khẩu; 13,5% giá trị sản xuất công nghiệp; 23,5%
vốn đầu tư phát triển.
Năm 2013
Kinh tế Hà Nội năm 2013 duy trì tăng trưởng so của cùng kỳ năm
trước: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 8,25% so cùng kỳ năm
trước. Trong đó: Giá trị tăng thêm ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng
2,46%; Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng tăng 7,57%; Giá trị
tăng thêm ngành dịch vụ tăng 9,42%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Mười hai năm 2013 tăng 10,4% so
với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất công nghiệp cộng dồn cả năm 2013