Pháp luật về mua lại và sáp nhập ngân hàng thương mại ở việt nam hiện nay - Pdf 48

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM MINH SƠN

PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành:

Luật kinh tế

Mã số:

62 38 01 07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Thị Thương Huyền

Hà Nội - 2016
0


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án
chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày

M&A

4. Ngân hàng Nhà nước

-

NHNN

5. Ngân hàng thương mại

-

NHTM

6. Ngân hàng thương mại cổ phần

-

NHTMCP

7. Ngân hàng thương mại cổ phần

-

HBB

-

SHB


TNHH

15. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

-

UBCKNN

16. Ủy ban nhân dân

-

UBND

(Mua lại và sáp nhập)

Nhà Hà Nội
8. Ngân hàng thương mại cổ phần
Sài Gòn - Hà Nội
9. Ngân hàng thương mại cổ phần
Xây dựng Việt Nam
10. Ngân hàng thương mại TNHH MTV
Xây dựng Việt Nam

2


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN


................................................................................................................107

CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở
VIỆT
NAM ............................................................................................................................................12
6
4.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

..............................................................126
4.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP
NGÂN


HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

...........................................................................134

KẾT LUẬN...............................................................................................................................149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN
ÁN..................................................................151
TÀI LIỆU THAM KHẢO
..................................................................................................152
PHỤ LỤC....................................................................................................................................163

3


thống ngân hàng nhưng còn có những hạn chế và bất cập. Khung pháp lý về mua
lại, sáp nhập còn sơ khai, chồng chéo và mâu thuẫn, còn có những khoảng trống
pháp lý để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tiễn khi thực hiện mua
lại, sáp nhập và chưa tạo được cơ sở pháp lý vững chắc để thúc đẩy hoạt động này.

1


Trên thực tế đã có nhiều bất cập khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM thời gian
qua, trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến cơ chế pháp lý cần phải giải quyết.
Nghiên cứu về mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp nhập
NHTM trong thời gian gần đây đã trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm không chỉ
đối với giới nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách mà còn cả giới luật gia và doanh
nghiệp. Tuy không phải là vấn đề nghiên cứu mới, nhưng hiện tại chưa có công
trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về pháp luật mua lại và sáp nhập NHTM
ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ và sâu sắc hơn cơ sở lý luận,
giúp đánh giá đúng đắn thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về mua
lại, sáp nhập NHTM, từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn
thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay, góp phần thực
hiện quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước.
Trước thực trạng trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài "Pháp luật về mua
lại và sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay" để nghiên cứu và làm
luận án tiến sĩ luật học, có ý nghĩa không chỉ về khoa học pháp lý mà còn có ý nghĩa
thực tiễn trong hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích nghiên cứu của luận án: Xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt
động mua lại, sáp nhập NHTM và đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp
luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: Với mục đích nghiên cứu như trên, luận

NHTM ở Việt Nam trên các phương diện về tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp
nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp nhập và
giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập. Các vấn đề này là những nội dung
điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM.
Để có cơ sở giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực trạng pháp luật và thực
tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay, luận án
nghiên cứu một số văn bản pháp luật có liên quan mật thiết đến nội dung đề tài luận
án được ban hành từ năm 2004 đến năm 2015 và có hiệu lực thi hành trong khoảng
thời gian từ khi được ban hành đến hết năm 2015; nghiên cứu một số trường hợp
mua lại, sáp nhập NHTM đã thực hiện trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015
phục vụ việc đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này. Luận án
không nghiên cứu tất cả các loại hình NHTM mà chỉ nghiên cứu về ngân hàng
thương mại cổ phần (NHTMCP) do loại hình ngân hàng này mang tính phổ biến, gặp
nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức, hoạt động, ngoài ra các hoạt động mua
lại, sáp nhập ngân hàng trong thời gian gần đây cũng tập trung vào nhóm NHTMCP.
4. Những điểm mới của luận án
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu trước
đây về mua lại, sáp nhập và pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp cũng như
trong lĩnh vực NHTM, đồng thời cùng với quá trình nghiên cứu độc lập, luận án có
những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:


* Về lý luận:
Thứ nhất, NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt bởi chính những
đặc điểm của NHTM. Do đó việc nghiên cứu để phát hiện chính xác và đầy đủ các
đặc điểm của NHTM sẽ giúp xây dựng được một cơ chế pháp lý hiệu quả nhằm giải
quyết những vấn đề phát sinh khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Hoạt động
ngân hàng có những đặc thù mà các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường
không có, đó là được nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán
qua tài khoản liên quan đến lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng cho khách hàng. Việc thành

trong lĩnh vực này. Những đặc điểm chính của pháp luật về mua lại, sáp nhập
NHTM được xác định như: hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM được điều chỉnh
bằng cả hệ thống luật chung và luật chuyên ngành về ngân hàng; việc thành lập,
hoạt động và tổ chức lại NHTM chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về ngân
hàng; khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM, ngoài việc sử dụng khung pháp lý
như các doanh nghiệp thông thường nhưng cần có những điều chỉnh riêng đối với
loại hình này; pháp luật chỉ cho phép NHTM được tiến hành mua lại, sáp nhập đối
với TCTD mà không cho phép TCTD hay các doanh nghiệp mua lại, sáp nhập với
NHTM; để thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM cần phải tuân theo những tiêu
chuẩn, điều kiện chặt chẽ hơn so với các doanh nghiệp khác; trình tự, thủ tục mua
lại, sáp nhập NHTM phải tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật, có mức
độ phức tạp cao hơn so với doanh nghiệp khác; để đảm bảo an toàn hệ thống ngân
hàng, tài chính, tiền tệ quốc gia, đối với các NHTM yếu kém, có nguy cơ mất khả
năng chi trả, mất khả năng thanh toán, cơ quan quản lý ngân hàng có quyền yêu cầu
NHTM đó phải thực hiện tái cơ cấu, buộc sáp nhập, hợp nhất, mua lại.
Thứ năm, những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về mua lại, sáp
nhập NHTM được xác định là: tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ
tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp nhập và giải quyết tranh chấp
khi mua lại, sáp nhập. Ngoài ra, còn có nhiều quan hệ xã hội khác phát sinh khi thực
hiện mua lại, sáp nhập NHTM cần phải có pháp luật điều chỉnh.
* Về đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về mua lại,
sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay:
Thứ nhất, luận án khẳng định pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt
Nam liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Luật các tổ chức tín dụng
(TCTD) là luật chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp đến việc thành lập, hoạt động và
tổ chức lại NHTM, đồng thời được đặt trong mối quan hệ với các luật khác khi giải
quyết các vấn đề liên quan đến việc mua lại, sáp nhập NHTM. Vì vậy để hoàn thiện
pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với việc thành lập,
hoạt động và tổ chức lại NHTM nói chung và việc mua lại, sáp nhập NHTM nói
riêng cần phải hoàn thiện đồng bộ các đạo luật này chứ không chỉ hoàn thiện riêng

bộ quyền, lợi ích và tư cách cổ đông là chưa có cơ sở pháp lý vững chắc.
* Về một số giải pháp sửa đổi, bổ sung pháp luật về mua lại, sáp nhập
ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, luận án đã đề xuất một số giải
pháp mới như sau:
Thứ nhất, luận án kiến nghị thống nhất hình thức pháp lý về tổ chức lại
doanh nghiệp được quy định trong các văn bản pháp luật. Bổ sung mua lại là một
trong những hình thức pháp lý tổ chức lại doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp để
phù hợp với quy định của Luật cạnh tranh. Luật các TCTD quy định cụ thể việc
mua lại, sáp nhập đối với NHTM, thay vì quy định chung là tổ chức lại TCTD dưới


hình thức chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức pháp lý. Luật các
TCTD và các văn bản pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành cần bổ sung
các quy định khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM về: tiêu chuẩn, điều kiện mua
lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp
nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập.
Thứ hai, luận án kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy
định về mua lại, sáp nhập NHTM, cụ thể là: định giá ngân hàng; hợp đồng mua lại,
sáp nhập; thực hiện tiếp tục hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn; chuyển sở hữu tư
nhân thành sở hữu nhà nước ở một số ngân hàng yếu kém; quyền và nghĩa vụ của
các ngân hàng bị mua lại, sáp nhập; quyền lợi của khách hàng (người gửi tiền);
quyền lợi của người lao động tại các ngân hàng bị mua lại, sáp nhập; thủ tục xử lý
các giao dịch với người gửi tiền và người vay trước khi giao dịch mua lại, sáp nhập
được xác lập; thực hiện lãi suất tiền gửi, lãi suất, phí cấp tín dụng; lộ trình thực hiện
quy định về tỷ lệ an toàn, nợ xấu, sở hữu chéo khi thực hiện mua lại, sáp nhập
NHTM, trong cả trường hợp thực hiện tự nguyện và bắt buộc.
Thứ ba, luận án kiến nghị việc cơ quan có thẩm quyền chấp thuận mua lại,
sáp nhập NHTM ở Việt Nam, đồng thời lại tổ chức thanh tra, giám sát trong quá
trình thực hiện là không khách quan, trong khi hoạt động của NHTM có vai trò rất
quan trọng đối với nền kinh tế, cần đảm bảo hoạt động ngân hàng được diễn ra theo

hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính
Trong các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân
hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính có thể kể đến các sách, tài liệu nước ngoài, tài
liệu dịch từ tiếng nước ngoài như: Sách “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter
S.Rose do Nhà xuất bản (Nxb) Tài chính, Hà Nội phát hành năm 2000; sách
“Applied Mergers and Acquitions” của Bruner F. Robert and Perella P. Joseph,
năm 2004; sách “Hướng dẫn cơ bản về mua bán công ty” của Wilbur M. Yegge do
Nxb. Thống kê, Hà Nội phát hành năm 2006; sách “Mergers and Acquisitions” của
J. Fred Weston và Samuel C. Weaver (McGraw-Hill, năm 2007); sách “Cẩm nang
hướng dẫn mua lại và sáp nhập” của Timothy J.Galpin, Mark Herdon do Nxb.
Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh phát hành năm 2009; sách “Mua lại và sáp nhập căn
bản - Các bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư” của
Michael E.S. Frankel do Nxb. Tri Thức, Hà Nội phát hành năm 2009; sách “Mua lại
và sáp nhập thông minh - Kim chỉ nam trên trận đồ sáp nhập và mua lại” của Scott
Moeller, Chis Brady do Nxb. Tri Thức, Hà Nội phát hành năm 2009; sách “Wall
Street Words: An A to Z Guide to Investment Terms for Today’s Investor” của
David L.Scott; sách “Mergers & Acquisition From A to Z” của Andrew J. Sherman,
Milledge A. Hart do Nxb. Amacom phát hành năm 2006; sách “A practical guide to
mergers, acquisitions, and divestitures” do Nxb. Delta Publishing Company phát
hành năm 2009; sách “Merger, Acquisition, and other Restructuring Activities” của


Donal DePamphilis, năm 2010; tài liệu nghiên cứu về mua lại, sáp nhập “Mergers
and Acquisitions” của Alexander Robert, William Wallance, Peter Moles do
Edinburgh Business School, Heriot-Watt University phát hành năm 2012... Các
công trình nghiên cứu này đã cung cấp những lý luận, kiến thức cơ bản về M&A,
nhiều cuốn sách còn được coi là cẩm nang về M&A cho các doanh nghiệp. Trong
các công trình nghiên cứu trên, có một số công trình đáng chú ý như sau:
- Sách “Quản trị ngân hàng thương mại” của tác giả Peter S.Rose, Nxb. Tài
chính, Hà Nội (2000). Đây là cuốn sách có chuyên môn cao về NHTM được dùng

ngân hàng bỏ phiếu.
Thứ ba, về cách thức hoàn tất việc sáp nhập. Thông thường, việc sáp nhập
được tiến hành thông qua việc mua lại cổ phiếu hoặc mua lại tài sản. Với phương
thức mua lại cổ phiếu, ngân hàng bị sáp nhập buộc phải ngừng hoạt động, ngân
hàng sáp nhập sẽ tiếp quản tất cả tài sản và nguồn vốn của ngân hàng bị sáp nhập.
Với phương thức mua lại tài sản, ngân hàng yêu cầu sáp nhập sẽ dùng tiền mặt hoặc
cổ phiếu để mua tất cả hay một phần tài sản của ngân hàng bị sáp nhập.
Thứ tư, về quá trình ra quyết định sáp nhập. Cơ quan quản lý Liên bang Mỹ
phải áp dụng những tiêu chuẩn do Luật sáp nhập ngân hàng và Hướng dẫn của Bộ
Tư pháp quy định cho các yêu cầu sáp nhập. Đạo luật sáp nhập ngân hàng đòi hỏi
Cơ quan Liên bang chịu trách nhiệm giám sát chính đối với ngân hàng yêu cầu sáp
nhập phải tính đến tác động của vụ sáp nhập tới sự thuận lợi cho công chúng, tính
đến nhu cầu của công chúng đối với việc cung cấp các dịch vụ tài chính chất lượng
cao tại mức giá hợp lý.
- Sách sách “Mua lại và sáp nhập từ A đến Z” của Andrew J.Sherman,
Milledge A. Hart, Nxb Tri thức, Hà Nội (2009) và “M&A- Mua lại và sáp nhập căn
bản, các bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư” của tác
giả Michael E.S. Frankel, Nxb Tri thức, Hà Nội (2009). Nội dung chính của hai
cuốn sách này như sau:
Thứ nhất, về thuật ngữ M&A. M&A là một thuật ngữ để mô tả các thương vụ
liên quan đến sự thay đổi, chuyển giao quyền kiểm soát một doanh nghiệp. Các hình
thức M&A bao gồm: mua tài sản của doanh nghiệp, mua cổ phiếu, mua lại doanh
nghiệp dựa trên vốn vay nợ; mua lại doanh nghiệp để giữ quyền quản lý.
Thứ hai, về các bên tham gia M&A. Chủ thể tham gia thương vụ mua lại và
sáp nhập doanh nghiệp cùng với vai trò, động cơ thúc đẩy tham gia M&A, cách thức
quản lý các giao dịch không chỉ giới hạn ở bên bán và bên mua mà còn có sự tham
gia của các chủ thể khác như kiểm toán viên, đội ngũ tư vấn, các nhà đầu tư tài
chính...
Thứ ba, về những công việc cần chuẩn bị khi thực hiện M&A. Một trong
những bước quan trọng của quá trình chuẩn bị là lựa chọn nhà tư vấn. Chính các

doanh nghiệp phải sử dụng các phương pháp định giá theo nguyên tắc nhất định và
phù hợp với giá thị trường. Khi đề cập giá trị của một doanh nghiệp là nói đến cả giá
trị tài sản hữu hình và giá trị tài sản vô hình. Trong M&A, xác định đúng, đủ giá trị
tài sản vô hình giúp bên bán đánh giá đúng giá trị của mình và bên mua cũng nhận
thức được tài sản vô hình mà mình sẽ sở hữu cũng như giá trị của những tài sản này.
Thứ sáu, về kết thúc thương vụ và hậu mua lại, sáp nhập. Một cách đơn giản


nhất được các tác giả đề cập, ký kết thương vụ là ký kết một thỏa thuận để bán một
công ty, trong khi đó kết thúc một thương vụ là hoàn thành quá trình mua bán đó.
Khoảng trống giữa việc ký kết và kết thúc sẽ thay đổi dựa trên những nhân tố bên
ngoài. Nguyên nhân việc trì hoãn phổ biến và kéo dài nhất là việc phê chuẩn theo
pháp luật. Với những doanh nghiệp phải điều chỉnh nhiều, hoặc đôi khi là việc một
doanh nghiệp lớn cần phải được sự chấp thuận từ những cơ quan quản lý. Sau khi
kết thúc giao dịch M&A, các hợp đồng, giấy phép và các quyền, nghĩa vụ cũng cần
được chuyển giao và thay đổi. Bên cạnh đó còn có những thủ tục khác cần được
hoàn thành trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng sau khi hoàn tất thương vụ. Những
thách thức mà bên mua doanh nghiệp cũng phải đối mặt thời kỳ hậu mua lại và sáp
nhập như sự kết hợp nguồn nhân lực, văn hóa doanh nghiệp, hệ thống hoạt động và
quản lý thông tin, hệ thống kế toán...
- Bài viết “Banking M&A: What about the brand?” của Joseph Benson và
Jack Foley trên marketingprofs.com. Theo tác giả, thương hiệu không phải là tất cả
mọi thứ về một ngân hàng, nó chỉ là điều làm cho những ngân hàng tạo ra khác biệt.
Thương hiệu tạo ra sự khác biệt và ưu tiên đối với khách hàng. Đó là lý do tại sao
khách hàng chọn để giao dịch với một ngân hàng này mà không phải là một ngân
hàng khác. Thương hiệu thường đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo nên các giá trị
này. Theo như nhận định trong một nghiên cứu gần đây của hãng nghiên cứu
McKinsey, thì “các tài sản vô hình tạo nên phần lớn giá trị của các thỏa thuận liên
kết và sáp nhập, trong đó thương hiệu chiếm một phần đáng kể trong những dạng
tài sản vô hình này”. Tác giả chỉ ra bốn chiến lược phát triển thương hiệu cơ bản đối

hay cộng đồng khác để có độc quyền trong bất kỳ thành phần thương mại nào giữa
các bang hoặc các quốc gia sẽ được xem là mắc trọng tội. Đạo luật chống độc quyền
Sherman đã cấm những ràng buộc trong thương mại (ví dụ, kết hợp giá cố định và
phân chia thị trường) như trong độc quyền. Đạo luật chống độc quyền Clayton năm
1914 chứa đựng một số các yêu cầu được đưa ra trong Đạo luật chống độc quyền
Sherman, đạo luật cấm thâu tóm cổ phần của những công ty đối thủ cạnh tranh khi
thu nhập ít hơn của đối thủ cạnh tranh. Luật về Ủy ban thương mại Liên bang năm
1914 cho phép Ủy ban thương mại Liên bang (FTC) có quyền hạn trong việc kiểm
ra vấn đề cạnh tranh không công bằng và xem xét yêu cầu của những công ty bị hại.
Nó có thể thu nhận những phản hồi từ phía công cộng và nếu cần thiết nó có thể
chấm dứt các đơn đặt hàng nếu phát hiện ra “có sự không công bằng trong cạnh
tranh thương mại”...
- Sách “Quản trị ngân hàng thương mại” của tác giả Peter S.Rose, Nxb. Tài
chính, Hà Nội (2000). Tác giả đã dành một phần dung lượng cuốn sách để trình bày
các quy định pháp lý đối với hoạt động sáp nhập ngân hàng ở Mỹ.
Thứ nhất, hệ thống quy định điều chỉnh chung hoạt động sáp nhập ngân


hàng. Ở Mỹ về cơ bản có hai hệ thống quy định điều chỉnh chung hoạt động sáp
nhập ngân hàng, đó là các phán quyết của tòa án và các đạo luật được thông qua
trên cơ sở các đặc thù của ngành ngân hàng. Với các đạo luật có thể dẫn chiếu đến
đạo luật chống độc quyền Sherman năm 1890 và đạo luật Clayton năm 1914. Các
đạo luật này cấm các hoạt động sáp nhập nếu chúng dẫn đến độc quyền hay hạn chế
cạnh tranh trong bất kỳ ngành công nghiệp nào và Bộ Tư pháp sẽ thông qua các vụ
sáp nhập nào như vậy. Ngoài hai đạo luật trên, hoạt động sáp nhập còn chịu sự điều
chỉnh của nhiều đạo luật khác. Đạo luật sáp nhập ngân hàng đòi hỏi mỗi ngân hàng
tham gia sáp nhập phải được chuẩn y từ các cơ quan điều hành Liên bang trước khi
sáp nhập. Với các ngân hàng trong nước, việc sáp nhập phải được Cục Quản lý tiền
tệ thông qua. Với các ngân hàng được bảo hiểm và là thành viên của hệ thống Dự
trữ Liên bang thì việc hợp nhất phải có sự thông qua của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ

Luật sư Gregory Crovo là người có kinh nghiệm tư vấn cho rất nhiều thương
vụ M&A thành công. Trong bài viết, tác giả phân tích các vấn đề pháp lý, thủ tục và
thực tế thực hiện giao dịch dựa trên các kinh nghiệm tư vấn của mình cho các nhà
đầu tư nước ngoài trong các giao dịch M&A tại Việt Nam, đồng thời tác giả đề cập
các vấn đề pháp lý tồn tại trong quá trình tiến hành giao dịch cho đến khi hoàn tất
giao dịch và các yếu tố có thể gây trở ngại cho giao dịch. Những nội dung được tác
giả đề cập như các quy định về tài khoản góp vốn, thẩm định pháp lý, quy định của
pháp luật cạnh tranh kiểm soát mua lại và sáp nhập, các vấn đề liên quan đến thủ tục
cấp phép cho nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư ở Việt Nam, quá trình thanh toán và
những khó khăn cho việc thực thi các hợp đồng mua lại và sáp nhập tại Việt Nam.
Tác giả bài viết phân tích một số bất cập trong các quy định pháp luật của Việt Nam
về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp, từ đó khuyến cáo các nhà đầu tư nước ngoài
khi tham gia giao dịch mua lại và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Có nhiều nghiên cứu trong nước được thực hiện thời gian qua đã tập trung
phân tích, phản ảnh về mua lại, sáp nhập; pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp, NHTM và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án. Có thể kể đến
một số nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ kinh tế “Sáp nhập, hợp nhất và mua bán
ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam” của Phan Diên Vỹ, năm 2013; luận án
tiến sĩ luật học “Pháp luật mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam” của Trần Thị Bảo
Ánh, năm 2014... Bên cạnh các nghiên cứu trên, một số đề tài nghiên cứu khoa học
nghiên cứu trong lĩnh vực này như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Hoạt động
sáp nhập và mua lại: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị chính sách
cho Việt Nam” do ThS. Lưu Minh Đức làm chủ nhiệm, năm 2009; đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Ngành “Hoạt động mua bán, sáp nhập các ngân hàng thương mại
Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí


Minh do TS. Nguyễn Thị Loan làm chủ nhiệm, năm 2012; đề tài nghiên cứu khoa

để xử lý ngân hàng yếu kém. Ngoài ra một số nghiên cứu cũng đưa ra các đề xuất,
kiến nghị liên quan đến hoàn thiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, xã
hội và ngân hàng, trong đó có hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh


nghiệp, ngân hàng.
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu đề cập về lý luận mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp, ngân hàng
Một số nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận về mua lại, sáp nhập và pháp
luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, NHTM như nêu khái niệm mua lại, sáp
nhập, đề cập đến các phương thức mua lại, sáp nhập; phân biệt sự khác nhau của
mua lại, sáp nhập; vai trò của mua lại, sáp nhập; các yếu tố và điều kiện thúc đẩy
hoạt động mua lại, sáp nhập chủ yếu ở cả góc độ kinh tế và pháp luật, theo quan
điểm chung của quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và pháp luật Việt Nam. Các
nguyên tắc pháp lý khi tiến hành sáp nhập, hợp nhất NHTM, các bộ phận cấu thành
pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM cũng được nghiên cứu, qua đó cho thấy pháp
luật về mua lại, sáp nhập đối với NHTM có sự liên thông với pháp luật cạnh tranh,
chứng khoán, doanh nghiệp, dân sự, thương mại... [16], [42], [59], [89].
Trong các nghiên cứu, bài viết trên, có quan điểm chưa thống nhất việc sử
dụng thuật ngữ “mua lại và sáp nhập” tại Việt Nam để chỉ khái niệm mua lại, sáp
nhập như theo nội hàm và cách hiểu của quốc tế. Các ý kiến về nhóm vấn đề này cho
rằng trên thực tế hoạt động mua lại, sáp nhập đa dạng hơn nhiều so với khái niệm
như hay dùng, diễn ra ở nhiều hình thức khác nhau và vô cùng phức tạp, nên để đưa
ra định nghĩa chính xác, nhất quán về mua lại, sáp nhập là tương đối khó khăn. Theo
quy định của pháp luật Việt Nam thì chưa có được định nghĩa thống nhất điều chỉnh
hoạt động mua lại, sáp nhập [14], [67]. Có ý kiến trao đổi cần phải làm rõ định nghĩa
để thống nhất về nội dung thâu tóm, hợp nhất, mua lại, sáp nhập, hay cần thống nhất
cách hiểu khi đề cập đến thâu tóm hoặc đơn giản chỉ hiểu đó là sự thay đổi tỷ lệ sở
hữu cổ phần trong tổ chức dẫn đến việc tham gia quản trị điều hành [77]. Một số vấn
đề lý luận cũng được đề cập, bàn luận như hoạt động mua cổ phần trong vốn điều lệ

Một số nghiên cứu đã đề cập, phân tích quy định pháp luật về mua lại, sáp
nhập giữa các TCTD Việt Nam; điều kiện để các TCTD nước ngoài mua cổ phần
của ngân hàng Việt Nam (niêm yết hoặc chưa niêm yết trên thị trường chứng
khoán), trong đó quy định tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài; điều kiện để
ngân hàng Việt Nam bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài; điều kiện chuyển
nhượng cổ phần; điều kiện tham gia quản trị tại ngân hàng Việt Nam; quy định về
tổ chức và hoạt động của các NHTM được NHNN Việt Nam cấp giấy phép thành
lập và hoạt động; các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới WTO... [56], [63], [110]. Mặc dù đã xây dựng được hành lang pháp lý ban đầu
nhưng hoạt động mua lại, sáp nhập vẫn cần phải có một hành lang pháp lý đầy đủ,
đảm bảo cho hoạt động mua lại, sáp nhập được diễn ra trên thực tế, có cơ sở pháp lý
để điều chỉnh, phù hợp mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc hệ thống ngân
hàng, đáp ứng quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.


Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến hoạt động mua lại, sáp nhập
được đề cập, đó là các cam kết trong GATS/WTO, các cam kết trong khu vực
ASEAN, các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các cam kết quốc tế về đầu
tư song phương có yếu tố tự do hóa liên quan đến mua lại, sáp nhập (M&A), Hiệp
định thương mại tự do có cam kết về đầu tư [59]...
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam:
Thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam cũng
được một số công trình và tác giả nghiên cứu, phân tích, bàn luận. Một số trường
hợp nghiên cứu về mua lại, sáp nhập NHTM giai đoạn trước năm 2005 được các
tác giả trích dẫn và phân tích [53], [88]... Trong giai đoạn này có hai hình thức thực
hiện chủ yếu là sáp nhập và hợp nhất. NHTMCP là nhóm ngân hàng có nhiều
thương vụ mua lại, sáp nhập diễn ra nhất trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Trong khoảng thời gian trước năm 2005, phần lớn các giao dịch mua lại, sáp nhập
diễn ra giữa các ngân hàng trong nước với nhau. Nhiều NHTMCP nông thôn với
quy mô vốn nhỏ được mua lại, sáp nhập [8]. Pháp luật áp dụng trong giai đoạn này

chưa theo kịp thực tiễn đang diễn ra nhanh chóng, chưa điều chỉnh kịp thời các quan
hệ xã hội phát sinh. Một số văn bản pháp luật đề cập đến mua lại, sáp nhập nhưng
khái niệm về mua lại, sáp nhập còn chưa thống nhất. Mỗi luật điều chỉnh hoạt động
mua lại, sáp nhập từ một góc độ khác nhau theo chức năng của ngành luật, trong
từng trường hợp cụ thể thì áp dụng luật nào cũng là vấn đề đặt ra cần quan tâm
nghiên cứu [86], [89], [110].
Các luật ban hành có liên quan điều chỉnh chủ yếu về hoạt động mua lại, sáp
nhập đối với doanh nghiệp, chưa đề cập đến trường hợp doanh nghiệp đặc biệt là
ngân hàng. Luật các TCTD là văn bản pháp lý cao nhất của ngành ngân hàng điều
chỉnh đối với các TCTD chưa quy định cụ thể về mua lại, sáp nhập, chỉ gọi chung là
tổ chức lại TCTD dưới hình thức chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình
thức pháp lý nhưng không có quy định cụ thể. Điều chỉnh trực tiếp hoạt động mua
lại, sáp nhập ngân hàng hiện tại là Thông tư 04/2010/TT-NHNN. Các quy định điều
chỉnh việc mua lại, sáp nhập ngân hàng chủ yếu hướng tới việc khuyến khích các
ngân hàng tự nguyện sáp nhập, hợp nhất, quy định những ngân hàng yếu kém phải
bị buộc mua lại, sáp nhập còn chưa đủ mức chế tài [89]. Thông tư 04/2010/TTNHNN chỉ đề cập các nội dung liên quan đến trình tự, thủ tục, điều kiện, hồ sơ sáp
nhập… Những nội dung quan trọng khác như định giá ngân hàng, cách thức phân
chia quyền và nghĩa vụ của các bên, các vấn đề về nhân sự, các vấn đề hậu sáp
nhập… không được đề cập trong Thông tư. Điều này dẫn đến tình trạng là đã có
hành lang pháp lý nhưng khó thực hiện bởi nhiều quy định còn chung và thiếu. Do
đó nếu muốn tiến hành mua lại, sáp nhập, các ngân hàng phải tự tìm hiểu, học hỏi
kinh nghiệm từ các thương vụ mua lại, sáp nhập ngân hàng đã thực hiện ở trong
nước và



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status