Giải pháp hữu ích Rèn kĩ năng sử dụng từ trong môn tập làm văn lớp 5 - Pdf 48

Giải pháp hữu ích

RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG TỪ TRONG PHÂN MÔN
TẬP LÀM VĂN
CHO HỌC SINH LỚP 5
I/ MỞ ĐẦU:
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học là hình
thành và phát triển ở học sinh các kó năng sử dụng
Tiếng Việt (kó năng đọc – viết – nghe – nói ) để học tập
và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa
tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần
rèn luyện các thao tác của tư duy. Môn Tiếng Việt cung
cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt
và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con
người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước
ngoài. Môn học này bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và
hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của
tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghóa.
lớp 5, môn Tiếng Việt được chia theo các phân
môn: Tập đọc; Kể chuyện; Luyện từ và câu; Chính tả;
Tập làm văn. Trong các phân môn đó, Tập làm văn là
phân môn có tính chất tổng hợp, toàn diện, sáng tạo.
Để làm được một bài văn đúng và hay, đòi hỏi học sinh
phải biết vận dụng các kiến thức liên môn như: tập đọc,
tập viết, chính tả, kể chuyện, luyện từ và câu... Vì các
kiến thức liên môn này sẽ giúp cho học sinh có được tư
liệu để viết một bài văn và biết sử dụng ngôn từ thế
nào để trình bày suy nghó của mình một cách chính xác,
rõ ràng, có hình ảnh và trong sáng.
Mỗi bài tập làm văn học sinh phải thể hiện được tình

thành công bài văn của học sinh. Là giáo viên dạy lớp 5
tôi mạnh dạn suy nghó và tiến hành tìm giải pháp để “
Rèn kó năng sử dụng từ trong phân môn Tập làm
văn cho học sinh lớp 5”.
II/ THỰC TRẠNG:
Trong năm học 2012 – 2013, tôi được phân công dạy
lớp 5C, qua khảo sát đầu năm và qua trực tiếp giảng dạy
tôi nhận thấy kó năng sử dụng từ của học sinh trong
phân môn Tập làm văn còn nhiều hạn chế và sai sót.
Những hạn chế đó do các nguyên nhân sau:
1.Vốn từ của các em tổng hợp từ các lớp dưới
cũng như tiếp thu từ các phân môn khác để vận dụng
vào phân môn Tập làm văn còn nghèo nàn.
2. Học sinh chưa biết giải nghóa của từ trong một văn
cảnh cụ thể.
3. Sử dụng từ còn tùy tiện dẫn đến việc lựa chọn từ
ngữ sử dụng trong phân môn Tập làm văn còn nhiều hạn
chế. Đặc biệt trong các bài văn, các em thường chỉ liệt
kê sự vật, sự việc, chưa biệt chọn lọc từ ngữ trong sáng,
có hình ảnh.
Sau khi nắm bắt được tình hình của lớp, tôi tiến hành
khảo sát và kết quả đầu năm đạt được như sau:
- Biết lựa chọn và sử dụng từ ngữ tương đối sát thực
trong văn viết: 2 em
- Sử dụng từ còn hạn chế : 12 em.
- Kó năng sử dụng từ quá yếu trong văn viết:14 em
Xuất phát từ tình hình chung của lớp, để học sinh có
kó năng sử dụng từ ngữ thích hợp trong phân môn Tập
làm văn, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm
giúp học sinh biết sử dụng và lựa chọn những từ ngữ

Tập làm văn trả bài viết tập trung vào việc dạy cách
học và nhu cầu tự học.
Ngoài ra, giáo viên phải đầu tư – nghiên cứu nội dung
bài dạy, tìm tòi, sưu tầm các tư liệu cần thiết như: Ca dao,
thành ngữ-tục ngữ ,từ điển Tiếng Việt, tranh, ảnh,…để
trong khi dạy có những từ thuần Việt hoặc Hán Việt giáo
viên có thể tra từ điển khi cần thiết, có thể giải nghóa
các thành ngữ, tục ngữ cho học sinh một cách dễ hiểu
nhất.
Ví dụ: Cần giải nghóa một số thành ngữ , tục ngữ như
“Kề vai sát cánh” : sự đồng tâm hợp lực, cùng chia sẻ
gian nan giữa những người cùng chung sức gánh vác một
công việc quan trọng; “Danh bất hư truyền, ” Danh: tên
tuổi, tiếng tăm; Bất: không – tiếng tăm, danh tiếng được
truyền đi không sai khác sự thật.
Hay khi cần giải nghóa một số từ Hán Việt như phúc
đức: điều tốt lành để lại cho con cháu; phúc hậu:
nhân từ, có lòng thương người, hay làm điều tốt cho
người khác,…
-3-


Giải pháp hữu ích

Nếu học sinh đã giải được nghóa của từ chắc chắn trong
văn viết thì học sinh sẽ biết lựa chọn từ phù hợp với văn
cảnh giao tiếp.
Tham khảo các bài văn hay, các bài tập đọc, học
thuộc lòng mà cách sử dụng từ của tác giả nói lên
được cái hay – cái đẹp của nội dung cần diễn đạt để trong

Đứng đắn, nhút nhát, nghiêm nghò, dè dặt, thận trọng,
nóng nảy, ôn hòa,…
Diễn tả thái độ: Vui sướng, hớn hở, hân hoan, hể hả, vui
mừng, sảng khoái,…
Tả phẩm chất:
Tốt, xấu, hiền, dữ, ngoan, hư, khiêm tốn, kiêu căng, dũng
cảm, hèn nhát, cao thượng, hèn hạ, tế nhò, trung thành,
thật thà,…
-4-


Giải pháp hữu ích

2.Rèn kó năng giải nghóa từ trong văn cảnh cụ
thể:
Trong từng tiết dạy giáo viên cần chú ý đến việc xây
dựng thói quen chủ động trong việc dùng từ sát hợp với
nội dung cần thể hiện nhằm tăng thêm sức biểu cảm
sao cho phù hợp với thái độ, cảm xúc mà mình muốn
thể hiện. Để thực hiện tốt vấn đề này, trong từng từ
ngữ, giáo viên cần dạy cho học sinh hiểu được nghóa của
từ (nghóa chính, nghóa phụ, nghóa gốc, nghóa chuyển) để
tránh trong khi sử dụng từ các em sẽ diễn đạt những câu
văn dùng từ sai, không sát nghóa.
Ví dụ 1 :Nghóa của từ “xuân” trong câu thơ:
Mùa xuân (1) là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân (2).
Xuân (1): Nghóa chính – mùa đầu tiên trong năm.
Xuân (2): Nghóa chuyển: càng ngày càng tươi đẹp.
Ví dụ 2: Nghóa của từ “chín” trong các câu sau:

biết lựa chọn từ ngữ thích hợp, giáo viên sẽ đưa ra một
số câu văn dùng từ không sát như:
-5-


Giải pháp hữu ích

Ngày ông tôi chết, cả làng đi đưa đám ma, ông tôi
được chôn ở nghóa đòa trên đồi thông.
Chim hót nhiều trong vườn nhà em.
Bà đang đổ nước vào gốc rau…
Yêu cầu học sinh nhận xét về cách sử dụng các từ
ngữ được gạch chân, em có thể dùng các từ ngữ khác
hoặc cách diễn đạt khác sửa lại nhằm biểu lộ cảm xúc,
thái độ của mình. Gợi ý, hướng để học sinh có thể sửa
như sau:
Ngày ông tôi qua đời, dân làng vô cùng thương tiếc
và tiễn đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng trên đồi
thông lộng gió.
Chim hót líu lo trong vườn nhà em.
Bà lom khom tưới rau…
* Trong tiết Tập làm văn trả bài, giáo viên chuẩn bò
một số bài văn hay; phiếu bài tập ghi ra một số lỗi của
học sinh trong cách sử dụng từ ngữ trong bài viết của các
em. Phân tích ưu – khuyết điểm về cách dùng từ trong bài
Tập làm văn của học sinh, hướng dẫn các em rút kinh
nghiệm bằng cách trực tiếp sửa lỗi về cách dùng từ
mà giáo viên phát cho từng bàn. Yêu cầu học sinh hoạt
động cá nhân hoặc theo nhóm để sửa về cách dùng từ
trong bài làm của các bạn. Đại diện nhóm thực hành

sinh nhận xét về ngôi thứ trong giao tiếp (với ông bà,
cha mẹ, thầy cô và người lớn tuổi cần xưng hô lễ phép
như thế nào; đối với bạn bè cần xưng hô thân mật ra
sao…). Hướng dẫn để học sinh nhận ra sự lủng củng của
đoạn văn vì lặp quá nhiều từ bạn và một số từ dùng
đúng như chưa chau chuốt, chưa gợi hình ảnh để học sinh có
thể sửa lại là:
Bạn Giang có dáng người nhỏ nhắn. Đôi mắt đen láy và
vầng trán cao thông minh. Em rất thích mái tóc dài đen
óng ả luôn cột cao gọn gàng của Giang. lớp cũng như
ở nhà, bạn ấy luôn giữ quần áo sạch sẽ. Đặc biệt,
Giang học rất giỏi. Em và bạn ấy chơi thân với nhau từ
nhỏ.
Ví dụ 3: Dạng bài văn tả người thân, bài văn tả ông.
Da ông sần sùi với những chấm nâu…
Ông tôi đã già và rất khó tính và cũng thương con,
cháu…
Với cách miêu tả như trên, cần hướng dẫn để học sinh
nhận ra sự lủng củng của việc lặp từ và khuyến khích,
gợi ý để các em có ý thức tìm từ gửi gắm tình cảm
của mình vào từng câu văn.
Da ông đã có nhiều nếp nhăn với những chấm đồi
mồi …
Ông tôi tuổi đã cao, ông rất nghiêm khắc nhưng luôn
thương yêu con, cháu…
4.Thường xuyên chấm – trả bài để kòp thời:
Chấm bài kó và trả bài kòp thời giúp giáo viên phát
hiện những ưu – khuyết điểm trong từng bài làm của học
sinh để từ đó khuyến khích động viên và có biện pháp
cụ thể đến từng đối tượng học sinh. Đối với bài văn viết

tiết tưởng tượng phong phú, phù hợp theo đề bài.
Muốn giỏi văn phải tích lũy được vốn văn học mà ở lứa
tuổi nhỏ, điều này thật không dễ. Nếu không có “vốn
từ” thì bài văn sẽ trở nên nghèo ý và khô khan. Vì vậy
phải làm sao để học sinh phát huy được tính độc lập, sáng
tạo của bản thân. Muốn vậy học sinh phải có khả năng
quan sát tinh tế, giàu trí tưởng tượng, có vốn từ phong
phú và điều quan trọng là các em phải được nói, được
viết, được nhận xét, đánh giá kết quả.
Để có một bài văn hay, với mỗi đề bài, tôi yêu cầu
học sinh phải tìm hiểu đề qua các việc sau:
Đọc kó đề bài.
Xác đònh nội dung bài, gạch dưới ý chính của
bài.
Xác đònh trọng tâm ý chính, cần tập trung trong
bài.
Xác đònh tư tưởng, tình cảm cần thể hiện trong
bài.
Khuyến khích các em sử dụng từ ngữ không lặp, dùng
hình ảnh liên tưởng, so sánh. Nhờ vậy, nội dung bài của
học sinh vừa đủ ý chính vừa phong phú và đảm bảo
đúng trọng tâm.
V/ KẾT QUẢ
Qua thời gian thực hiện các giải pháp nêu trên, tôi
nhận thấy kó năng sử dụng từ trong phân môn Tập làm
văn của học sinh trong lớp có tiến bộ rõ rệt. Các bài
văn viết của các em dùng từ tương đối đúng nghóa, ít
-8-



- Cần trang bò cho học sinh những phương pháp, cách thức
làm bài cơ bản; đưa các em vào nội dung bài một cách
tự nhiên, diễn đạt có nghệ thuật và giúp học sinh bộc lộ
cảm xúc qua các bài học nhằm xây dựng mầm non văn
học trỗi dậy và mãi mãi vươn lên.
2.Đối với học sinh:
- Thường xuyên tham khảo các bài văn hay.
- Phát huy tối đa tính tích cực, tự giác trong học tập.
-Phải có lòng kiên nhẫn, kiên trì, biết lắng nghe, quan
sát, vận dụng các giác quan.
Trên đây là một số giải pháp tôi đã áp dụng và
bước đầu thấy có hiệu quả tương đối tốt. Tôi xin mạnh
dạn chia sẻ và mong nhận được sự góp ý chân thành
của Ban giám hiệu nhà trường, của các anh chò và các
bạn đồng nghiệp.
-9-


Giải pháp hữu ích

R’lơm,
tháng 11 năm 2012
Người viết

NGUYỄN VĂN SƠN
Ý kiến đánh giá của Hội đồng thẩm đònh

-10-



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status