Nghiên cứu tình hình hút thuốc lá của nam sinh viên y khoa trường đại học tây nguyên năm 2010 - Pdf 49

1

MỤC LỤC
Số trang

Lời cám ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng biểu
Ký hiệu viết tắt
Đặt vấn đề

1

Chương 1: TỔNG QUAN

4

1.1. Ảnh hưởng của thuốc lá

4

1.1.1. Tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ con người

4

1.1.2. Thuốc lá với môi trường và xã hội

8

1.1.2.1. Thuốc lá và môi trường


Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

21

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

21

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

21

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

21

2.1.3. Thời gian nghiên cứu

21


2

2.2. Phương pháp nghiên cứu

21

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang


2.3.3. Kiến thức, thái độ về tác hại của thuốc lá và thực hành bỏ
thuốc lá

24

2.3.4. Tiếp cận nguồn thông tin về phòng chống tác hại thuốc lá

24

2.3.5. Một số yếu tố liên quan đến hút thuốc lá

24

2.3.6. Thông tin về xây dựng mô hình trường không thuốc lá

25

2.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

25

2.5. Đạo đức nghiên cứu

25

2.6. Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục

26

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU



3

3.2.4 Thời gian thảo luận về tác hại của thuốc lá của sinh viên

31

3.2.5 Kiến thức về tác hại của thuốc lá của sinh viên

32

3.3 Thái độ đối với tác hại thuốc lá của sinh viên

33

3.3.1 Thái độ đối với tác hại thuốc lá của sinh viên

33

3.3.2 Thái độ của SV khi tiếp xúc với người khác hút thuốc lá:

35

3.4 Thực hành của sinh viên đối với tác hại thuốc lá :

36

3.4.1 Thực hành của sinh viên đối với tác hại thuốc lá:



44

3.5.3 Liên quan giữa tình trạng hút thuốc lá của sinh viên với hoạt
động xã hội và yếu tố gia đình

44

3.6 Thông tin mô hình trường học không thuốc lá

45

3.6.1 Phân bố tỷ lệ các ý kiến đề xuất của sinh viên về mô hình
trường học không thuốc lá theo hệ đào tạo

45

Chương 4: BÀN LUẬN

47

4.1. Thực trạng hút thuốc lá của sinh viên

47

4.2. Kiến thức, thái độ của sinh viên về tác hại của thuốc lá và
thực hành bỏ thuốc lá của sinh viên

49


27

Bảng 3.2: Năm đang học của SV.

27

Bảng 3.3: Nghe thông tin về tác hại của thuốc lá trong tháng vừa qua

29

Bảng 3.4: Số lần nhìn nghe thông tin về tác hại của thuốc lá trong tháng vừa qua

30

Bảng 3.5: Tỷ lệ tiếp nhận TT trực tiếp từ gia đình và bạn bè

31

Bảng 3.6: Thời gian thảo luận về tác hại của thuốc lá của SV

31

Bảng 3.7: Kiến thức về tác hại của thuốc lá của SV

32

Bảng 3.8: Thái độ đối với tác hại thuốc lá của SV

33


43

Bảng 3.17: Liên quan giữa tình trạng hút thuốc lá của sinh viên với
mức độ tiếp xúc với người hút thuốc
Bảng 3.18: Liên quan giữa tình trạng hút thuốc lá của sinh viên với hoạt
động xã hội và yếu tố gia đình
Bảng 3.19: Phân bố tỷ lệ các ý kiến đề xuất của SV về mô hình trường
học không thuốc lá theo hệ đào tạo

44

44

45


6

Biểu đồ 3.1: Năm đang học của SV

28

Biểu đồ 3.2: Tuổi lần đầu tiên hút thuốc của SV

37

Biểu đồ 3.3: Thời gian hút thuốc của SV

39



Thông tin

WHO:

Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hút thuốc là tác nhân của rất nhiều loại bệnh khác nhau và chi phí
khám chữa bệnh do nguyên nhân từ thuốc lá là khá cao, Ba bệnh chủ yếu là
ung thư phổi, các bệnh không ung thư và bệnh hô hấp tắc nghẽn mãn tính
(phế quản mãn, khí phế thũng),theo nghiên cứu chi phí cho các bệnh liên
quan đến thuốc lá thì nếu ngừng hút thuốc, Việt Nam có thể tiết kiệm được
804 tỷ cho điều trị bệnh nhân nội trú mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính,
ung thư phổi và nhồi máu cơ tim.


8

Số lượng người hút thuốc chủ yếu ở các nước đang phát triển và chậm
phát triển [6][13][27][28]
Với 47,4% nam giới trưởng thành hút thuốc, Việt Nam là một trong
những nước có tỷ lệ nam giới sử dụng thuốc lá rất cao trên thế giới. Đồng
thời, tỷ lệ hút thuốc lá thụ động ở Việt Nam cũng rất cao với 67,6% người
bị phơi nhiễm với khói thuốc lá tại nhà và 49,0% người bị phơi nhiễm tại
nơi làm việc. Tỷ lệ hút thuốc thụ động cao nhất được tìm thấy ở các quán
rượu, cà phê, trà (92,6%), tiếp đó là các nhà hàng (84,9%), trường đại học
(54,3%).. Đây là thông tin được đưa ra tại Hội thảo công bố kết quả điều tra
toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành tại Việt Nam, do Bộ Y

nam, 1% ở nữ và học sinh, sinh viên xuống dưới 2% [2]. Chương trình này
cũng đã được Bộ giáo dục & Đào tạo đưa vào thí điểm tại 85 trường học, ra
quy định yêu cầu giáo viên và cán bộ nhà trường không hút thuốc lá trong
trường học, giáo dục học sinh về tác hại của thuốc lá....
Sinh viên khoa Y – Đại học Tây Nguyên là những cán bộ y tế trong
tương lai có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng và
cũng là người thực hiện công tác truyền thông giáo dục sức khỏe vận động
mọi người không hút thuốc lá. Việc nhận thức được tác hại của hút thuốc
lá, những thói quen ảnh hưởng đến lối sống của sinh viên từ khi còn ngồi
trong ghế nhà trường là hết sức cần thiết. Vấn đề đặt ra là tỷ lệ hút thuốc lá
trong sinh viên y khoa hiện nay như thế nào? Các yếu tố nào liên quan đến
hành vi hút thuốc lá. Để trả lời cho câu hỏi trên và góp phần đánh giá kiến
thức thái độ thực hành của sinh viên y khoa trong công tác phòng chống tác
hại thuốc lá, tiến tới xây dựng mô hình ngôi trường không thuốc lá, chúng
tôi tiến hành đề tài “ Nghiên cứu tình hình hút thuốc lá của nam sinh viên Y
khoa Trường Đại học Tây Nguyên năm 2010”.
Với các mục tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng hút thuốc lá của nam sinh viên Y khoa


10

2. Mô tả kiến thức, thái độ của sinh viên về tác hại của thuốc lá và
thực hành bỏ thuốc lá của nam sinh viên
3. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc lá của nam
sinh viên.

Chương 1
TỔNG QUAN


hướng như hiện nay vẫn còn tồn tại, thì dự báo hàng năm thuốc lá sẽ giết
chết hơn 8 triệu người trên toàn thế giới vào năm 2030, với 80% trong số
đó là các nước đang và chậm phát triển. Đến cuối thế kỷ này, thuốc lá có
thể giết một tỷ người hoặc nhiều hơn, trừ khi chúng ta cần có những hành
động khẩn cấp [25],[26],[27].
Ở các nước đang phát triển, thuốc lá là nguyên nhân chính gây tử
vong. Khoảng 20% tổng số chết trong thập kỷ 80 ở Trung Quốc là do hút


12

thuốc lá trong đó 1/3 tử vong do ung thư phổi, 1/3 do các loại ung thư khác
và 1/3 còn lại là do các bệnh khác. Dự tính tới năm 2020, khoảng 70% tử
vong do thuốc lá sẽ xảy ra ở các nước đang phát triển so với hiện tại là
50%. WHO dự báo rằng sẽ có khoảng 10% dân số Việt Nam ngày nay sẽ tử
vong sớm do các bệnh liên quan đến sử dụng thuốc lá và một nửa trong số
họ sẽ tử vong ở độ tuổi lao động [25].
Thuốc lá là nguyên nhân quan trọng gây ung thư, đặc biệt là ung thư
phổi. Theo Doll và Hill thì những người hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư
phổi cao gấp 14 lần so với những người không hút thuốc lá [3],[6].
Hút thuốc lá còn là nguyên nhân quan trọng của nhiều loại ung thư
khác nhau như ung thư bàng quang, ung thư thận, ung thư khoang miệng,
ung thư vòm họng, ung thư thanh quản, ung thư cổ tử cung, ung thư dạ
dầy…. Hút thuốc lá cũng là nguyên nhân của rất nhiều bệnh đường hô hấp
như khí phế thũng, hen phế quản, viêm phế quản mạn và bệnh phổi tắc
nghẽn mạn tính. Theo TCYTTG, 80-85% các trường hợp viêm phế quản
mạn và khí phế thũng có liên quan đến hút thuốc lá [3],[6]. Tỷ lệ hiện mắc
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường thấy ở người hút thuốc lá hơn những
người không hút thuốc lá [25]. Khoảng 15-20% những người hút thuốc lá
sẽ bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Hút thuốc lá làm tăng tử vong do bệnh mạch vành. Theo một nghiên
cứu ở Mỹ thì tỷ lệ chết do xơ cứng động mạch vành ở người hút thuốc lá so
với người không hút là 1,61. Nghiên cứu ở Anbani và Birmingham cho
thấy nguy cơ nhồi máu cơ tim ở người hút thuốc lá cao gấp 2,5 lần so với
người không hút thuốc lá. Phụ nữ hút thuốc lá thường xẩy ra phình động
mạch, viêm mạch, xuất huyết màng não hơn so với phụ nữ không hút thuốc
lá [23],[24]. Phụ nữ dùng thuốc tránh thai mà hút thuốc lá thì nguy cơ nhồi
máu cơ tim cao gấp 5 lần so với những phụ nữ dùng thuốc tránh thai nhưng
không hút thuốc lá.


14

Người hút thuốc lá dễ mắc các bệnh loét đường tiêu hoá hơn những
người không hút thuốc. Hút thuốc lá gây suy giảm sự lành vết thương và
làm loét dễ bị tái phát. Người hút thuốc lá cũng dễ bị mắc các bệnh đường
ruột mạn tính, rụng răng tự nhiên, răng dễ bị gẫy và hay mắc các bệnh về
lợi hơn những người không hút thuốc lá. Hút thuốc cũng làm tăng nguy cơ
bị chứng loãng xương. Hút thuốc lá còn gây khó ngủ, ngủ không ngon giấc.
Hút thuốc gây bệnh đục thuỷ tinh thể và mù. Theo một nghiên cứu ở
Mỹ thì hút thuốc lá có thể làm tăng gấp đôi nguy cơ dẫn đến mù loà ở cả
nam và nữ. Nếu hút trên 20 điếu/ngày sẽ có nguy cơ mắc các bệnh từ hạn
chế nhìn tới thoái hoá đốm. Khoảng 1/4 tổng số các trường hợp mắc bệnh
thoái hoá đốm ở phụ nữ có nguyên nhân từ hút thuốc lá. Hút thuốc lá còn
gây các kích thích ở họng, mũi, tai. Hút thuốc lá làm cơ thể kém phát triển
thể chất, giảm thể lực, ảnh hưởng hệ thống miễn dịch và các chức năng tự
bảo vệ khác của cơ thể, do vậy làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm
trùng, nhất là viêm phổi, cúm [23],[24].
Hút thuốc lá không chỉ gây các bệnh ở các tổ chức bên trong cơ thể
mà còn tác động đến hình dạng bên ngoài, đặc biệt là da và tóc. Khói thuốc

người hút giữa những lần hít vào đôi khi được coi như dòng khói phụ.
Dòng khói phụ có thành phần chất độc hại cao hơn dòng khói chính rất
nhiều: nồng độ monoxyt cacbon cao gấp 15 lần, nicotine gấp 21 lần,
fomandehyt gấp 50 lần, dimethylnitrosamin gấp 130 lần… Khói thuốc phụ
còn nguy hiểm hơn khói thuốc chính vì cháy ở nhiệt độ cao và không qua
lọc [3],[6]. Chính vì vậy mà những người không hút thuốc lá nhưng thường
xuyên phải hít thở trong môi trường có khói thuốc lá (hút thuốc thụ động)
cũng bị những tác hại tương tự như những người hút thuốc lá. Tuy nhiên,
dòng khói phụ được pha loãng với không khí nên mức độ bị tác hại của
dòng khói phụ còn phụ thuộc vào diện tích phòng, thể tích không khí nơi
hút thuốc lớn hay nhỏ [20],[25].
1.1.2.2. Thuốc lá gây nghiện
Thuốc lá có chứa nicotine, một chất được các tổ chức y học quốc tế
xác định là chất gây nghiện. Sự phụ thuộc vào thuốc lá đã được liệt kê


16

trong xếp loại bệnh tật quốc tế. Nicotine, là yếu tố mấu chốt của gây nghiện
và sự phụ thuộc, bao gồm sự sử dụng có tính ép buộc, sự thèm muốn và
chống lại các cố gắng bỏ thuốc. Thuốc lá có khả năng làm cho nicotine
chuyển đổi tới não nhanh chóng trong vòng vài giây sau khi hít khói, và
người hút có thể điều chỉnh liều lượng bằng những hơi hít ngắn. Việc gây
nghiện nicotine có thể tạo nên nhanh chóng [3],[6],[20]. Với thanh thiếu
niên đang hút thuốc, nước bọt tập trung nicotine - một sản phẩm phản ánh
nicotine, gia tăng nhanh chóng tới mức của người thường xuyên hút thuốc.
Mức nicotine hít vào trung bình đủ để tạo ra tác động dược lý và giữ vai trò
củng cố hút thuốc. Mặc dù vậy, nhiều người trẻ hút thuốc không tính được
nguy cơ trở thành nghiện ngập.
Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng nicotine cũng gây nghiện

Đông Nam Á – Tây Thái Bình Dương, Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ hút
thuốc ngang với Australia, Thái Lan (18%), chỉ cao hơn so với Singapore
(15%), thấp hơn các quốc gia như Laos, Campuchia, Malaysia, Myanmar,
Indonesia, Japan và China (23% - 31%) [25]. Theo một nghiên cứu năm
2006 ở Trung Quốc thì nam sinh viên có tỷ lệ hút thuốc lá ở nhóm 20-24
tuổi là 57%; và trên 25 tuổi là 62% [27],[28].
Khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới rất cao so với tỷ
lệ nữ giới hút thuốc lá. Ở Indonesia tỷ lệ nam giới hút thuốc lá là 53% trong


18

khi chỉ có 4% nữ giới hút thuốc lá, còn ở Singapore khoảng 40% nam giới
hút thuốc lá và 2,7% nữ giới hút thuốc lá [22],[25].
Hút thuốc lá có xu hướng gia tăng ở các nước đang phát triển. Tiêu thụ thuốc lá
trên toàn thế giới tăng 0,8% trong vòng 20 năm từ 1970-1972 đến 1990 - 1992. Trong
khi tiêu thụ thuốc lá ở châu Âu không thay đổi, tiêu thụ thuốc lá ở khu vực châu Mỹ
giảm thì tiêu thụ thuốc lá ở các khu vực còn lại trên toàn cầu đều tăng. Trong vòng 20
năm, tiêu thụ thuốc lá tăng nhanh ở khu vực Tây Thái Bình Dương (3,0%), tiếp đến là
khu vực Đông nam Á (1,8%), khu vực Địa trung hải (1,4%) và sau cùng là khu vực
châu Phi (1,2%) [16],[17],[25],[27]

Châu Phi
Châu Mỹ
Algeria
14%
Argentina
25%
Cameroon
6%

22%
Myanmar
23%
France
27%
Australia
18%
Trung Đông
Vietnam
18%
Tunisia
32%
Singapore
15%
Pakistan
17%
Malaysia
23%
Jordan
36%
Cambodia
24%
Iraq
11%
Japan
25%
Bahrain
6%
China
31%

đầu hút thuốc trung bình là 19,8 ở nam; 23,6 ở nữ và 19, 9 ở người trưởng
thành nói chung. Cũng theo kết quả phỏng vấn 9.925 người trưởng thành từ
15 tuổi trở lên cho thấy: có 29,3 người từng hút thuốc đã bỏ thuốc, trong
khi 67,5% những người đang hút thuốc có kế hoạch hoặc suy nghĩ đến việc
bỏ thuốc vào một thời điểm nào đó trong tương lai; 71,3% người trưởng
thành ủng hộ việc tăng thuế thuốc lá; 91,6% người để ý thấy có thông tin
phòng chống tác hại thuốc lá trên các phương tiện thông tin đại chúng và
hầu hết trong số họ tin rằng hút thuốc lá gây ra các bệnh nghiêm trọng...[8]
Theo nghiên cứu thực trạng hút thuốc lá của Ths Lê Quang Hùng
2002 tại Bình Định thì Số điếu thuốc trung bình hàng ngày: 11 điếu; có
58,8% hút trung bình 10-20 điếu ngày; 3,2% hút trung bình trên 20
điếu/ngày. Thời gian hút thuốc trên 10 năm chiếm 67,5%. [14]


20

Ở Việt Nam, từ rất lâu, hút thuốc lá đã trở thành một thói quen của
người dân. Thuốc lá được coi như công cụ hỗ trợ trong giao tiếp, điều đó
làm cho thuốc lá ngày càng trở nên phổ biến không chỉ trong các dịp hội
họp, cưới, hỏi, … mà ngay cả trong giao tiếp, sinh hoạt hàng ngày của nhiều
tầng lớp dân cư [3],[6],[10]. Trước đây trong thời kỳ bao cấp, thuốc lá ở Việt
Nam được coi như là một nhu yếu phẩm, phân phối cho mọi người với giá
rẻ. Rất nhiều nhà máy thuốc lá từ cấp trung ương đến địa phương kể cả cấp
quận/huyện sản xuất thuốc lá và đẩy mạnh tiêu dùng thuốc lá.
Khi chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế chuyển từ bao
cấp sang cơ chế thị trường, các công ty thuốc lá quốc tế đầu tư vào Việt
Nam với nhiều hình thức, liên doanh, liên kết, đẩy mạnh quảng cáo tiếp thị
cùng với tệ nạn buôn lậu thuốc lá ồ ạt qua biên giới làm cho mức tiêu thụ
thuốc lá ở Việt Nam đã đến mức báo động [4]. Tiêu thụ thuốc lá ở Việt
Nam (bao gồm thuốc lá do nhà máy sản xuất, thuốc cuộn và thuốc lào) vẫn

[4]. Theo kết quả điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá của Tổ chức Y tế thế
giới năm 2007 [25], tại Việt Nam, những người trưởng thành có độ tuổi
trên 18 hút thuốc lá hàng ngày chiếm 17,5% (nam 34,8% và nữ 1,8%) và tỷ
lệ những người trên 18 tuổi hút thuốc hiện nay là 24,8% (nam 49,4% và nữ
2,3%) [25].
1.2.3. Tình hình sử dụng thuốc lá trong sinh viên y khoa
Tác hại của thuốc lá đã được biết rõ. Đã có rất nhiều nỗ lực can thiệp
mang tính chất quốc gia và quốc tế được áp dụng nhằm giảm tỷ lệ hút
thuốc lá. Một trong những biện pháp có hiệu quả là việc tư vấn, giáo dục
của cán bộ y tế đối với người hút thuốc lá.
Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường những “thầy thuốc tương
lai” này cần có những kiến thức và kỹ năng tư vấn về phòng chống tác hại
của thuốc lá cũng như không hút thuốc lá. Tuy nhiên, có rất nhiều nghiên
cứu trên thế giới đã chứng minh rằng, tình hình hút thuốc lá trong sinh viên
y khoa vẫn còn tương đối phổ biến và những sinh viên này còn thiếu các
kiến thức về tác hại của thuốc lá cũng như kỹ năng tư vấn thúc đẩy việc
ngừng thuốc lá [2],[9],[13].


22

Một nghiên cứu mang tính chất quốc tế do đơn vị phòng chống thuốc
lá của Hiệp hội quốc tế phòng chống lao và bệnh phổi phối hợp với Tổ
chức y tế thế giới, Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ và Hiệp hội quốc tế về phòng
chống ung thư đã được tiến hành trên 9.000 sinh viên trong 51 trường đại
học y thuộc 42 nước đã cho thấy rằng tỷ lệ hút thuốc lá trong sinh viên y
biến động tương đối rộng từ 0 - 56,9% ở nam và 0 - 47% ở nữ. Trong đó, ở
Đại học Y Thượng Hải - Trung Quốc tỷ lệ hút thuốc lá ở nam sinh viên là
21,4%, ở nữ sinh viên là 1,81%, một trường đại học y ở Malaysia tỷ lệ này
18,3% ở nam sinh viên và 0,8% ở nữ sinh viên [9]. Nhìn chung, tỷ lệ hút

thời, việc xây dựng một lối sống lành mạnh từ khi còn ngồi trong ghế nhà
trường của những sinh viên này là hết sức cần thiết. Hơn nữa bỏ thuốc lá
còn mang lại cho chính từng cá nhân những lợi ích về mặt kinh tế, xã hội…
1.2.4. Nguyên nhân của hút thuốc trong học sinh
Theo Bộ Y tế [4], lý do hàng đầu cai thuốc vì hút thuốc lá có hại cho
sức khoẻ chiếm 75%, sau đó là lý do về kinh tế chi trả mua thuốc và cho
thấy lý do muốn cai thuốc của những người đang hút thuốc lá như sau:
- Hại sức khoẻ:

75,1%

- Bất tiện khi hút ở cơ quan:

21,3%

- Không cho hút trong giờ làm việc:

16,7%

- Bỏ theo người khác:

11,1%

- Do vợ khuyên bỏ:

17,4%

- Do vận động bỏ:

8,1%

người được phỏng vấn về tác hại của thuốc lá là rất cao. Trên 85% người
hút thuốc được hỏi trả lời hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ, làm giảm tuổi
thọ và những người khác hít phải có hại cho sức khoẻ. Trong khi đó, tỷ lệ
này ở những người đã cai thuốc là trên 93%. Trong số những người hút
thuốc, khi được hỏi có tới 95,7% công nhân cho rằng hút thuốc lá có hại
cho sức khoẻ; tỷ lệ này ở cán bộ y tế là 94,9%; sinh viên là 91,8% và ở bộ
đội là thấp hơn cả chiếm 90,4%. Những người hút thuốc có trình độ văn
hoá cấp III nhận thức về tác hại thuốc lá cao hơn so với những người có
trình độ văn hoá cấp II trở xuống (87,8% so với 83,8%) [4]
Sinh viên y khoa là đối tượng có kiến thức chuyên môn về y học. Họ
được đào tạo một cách cơ bản để khi ra trường tham gia công tác chăm sóc
và bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng. Vấn đề đặt ra là thuốc lá có hại như
vậy, liệu họ có hút thuốc lá không? tại sao họ hút? có phải do hiểu biết của
họ về tác hại của thuốc lá còn thấp hay do yếu tố nào khác tạo nên... Một
nghiên cứu tiến hành trên 1500 sinh viên trường Đại học Y Hà Nội chỉ ra
rằng, đa số sinh viên có hiểu biết về tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ
và những bệnh do thuốc lá gây ra. 92,6% sinh viên trả lời có ảnh hưởng đến
sức khoẻ; 61,4% ý kiến cho rằng thuốc lá có thể gây ung thư phổi, phế
quản; 56,6% trả lời có thể gây viêm phế quản cấp và mãn tính; 19,2% trả


25

lời có thể gây bệnh hô hấp khác. Tuy nhiên, đáng chú ý là vẫn có 7,4% sinh
viên y khoa trả lời hút thuốc lá không ảnh hưởng đến sức khoẻ [9].
Nhìn chung, hiểu biết về tác hại của thuốc lá tuy có khác nhau trong
các nhóm đối tượng, nhưng đều ở mức khá cao. Hiểu biết thì cao như vậy,
nhưng thái độ của người được hỏi ý kiến lại trái ngược với hiểu biết về tác
hại của thuốc lá. Tại Bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ nam CBYT đang hút thuốc
là 40,7%, còn ở nữ là 0%. 89,8% những CBYT đang hút thuốc dùng loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status