HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN KIấN
THựC HIệN PHáP LUậT Về TRáCH NHIệM
BồI THƯờNG CủA NHà NƯớC DO CÔNG CHứC CƠ QUAN
HàNH CHíNH NHà NƯớC GÂY RA ở VIệT NAM
LUN N TIN S LUT HC
H NI - 2014
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN KIấN
THựC HIệN PHáP LUậT Về TRáCH NHIệM
BồI THƯờNG CủA NHà NƯớC DO CÔNG CHứC CƠ QUAN
HàNH CHíNH NHà NƯớC GÂY RA ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh : Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s
: 62 38 01 01
LUN N TIN S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: 1. TS INH TRUNG TNG
2. TS HONG NGC THNH
H NI - 2014
2.1. Khái niệm, hình thức, vai trò thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra
2.2. Nội dung, yêu cầu và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra
2.3. Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức
cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở một số nước trên thế giới và những
giá trị Việt Nam có thể tham khảo
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM
BỒI THƢỜNG CỦA NHÀ NƢỚC DO CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH
CHÍNH NHÀ NƢỚC GÂY RA Ở VIỆT NAM
3.1. Khái quát tình hình và hệ thống tổ chức thực hiện pháp luật về trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam
3.2. Những kết quả đạt được đối với thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở
Việt Nam và nguyên nhân
3.3. Những hạn chế đối với thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam
và nguyên nhân
Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG CỦA NHÀ NƢỚC DO CÔNG CHỨC CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC GÂY RA Ở VIỆT NAM
4.1. Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam
4.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BLDS
: Bộ luật Dân sự
BTTH
: Bồi thường thiệt hại
CQHCNN : Cơ quan hành chính Nhà nước
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KS
: Kiểm sát
TA
: Tòa án
TAND
: Tòa án nhân dân
TNBT
: Trách nhiệm bồi thường
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi đất nước ta giành được độc lập đến nay, Nhà nước luôn coi việc xây
dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy và hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân hiện nay, việc bảo
đảm lợi ích của Nhà nước và các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cần
được tôn trọng và thực hiện công bằng giữa các chủ thể trong xã hội. Mối quan hệ
giữa Nhà nước với cá nhân và tổ chức trong xã hội là mối quan hệ đặc biệt, trong
đó, vấn đề công bằng giữa một bên chủ thể là Nhà nước và một bên chủ thể là cá
nhân, tổ chức được xác định thông qua các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với
nhau và được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc “Mọi người đều bình đẳng trước pháp
luật” [93, tr.3] và “Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh
thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật” [93, tr.5]. Với nguyên tắc
hiến định trên, Nhà nước Việt Nam đã không ngừng nghiên cứu, xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm bắt buộc khi cơ quan
Nhà nước xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đây không chỉ là
vấn đề dân sự mà còn là vấn đề chính trị - pháp lý - xã hội, phản ánh trình độ phát
triển và dân chủ của chế độ nhà nước, phản ánh một Nhà nước do dân làm chủ. Nhà
nước với tư cách là một chủ thể công quyền trong chế độ chính trị - xã hội, được
hình thành từ nhân dân và được nhân dân uỷ thác cho trách nhiệm điều hành, quản
lý xã hội, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích tập
thể, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quốc gia mình. Với tinh thần
đó, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một trong những yếu tố góp phần nâng
cao tinh thần trách nhiệm, nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ, mở rộng dân chủ
xã hội, tạo lập sự công bằng trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.
Những năm qua, mặc dù trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được ghi
nhận từ rất sớm trong Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959,
Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Những
luật. Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định phạm vi trách nhiệm
bồi thường trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, lĩnh vực thi hành án, hoạt
động tố tụng... Đây là bước phát triển đáng kể trong hoạt động lập pháp, đáp ứng
3
đòi hỏi khách quan trong một xã hội dân chủ, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước
pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam. Luật này có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, vì vậy, vấn đề thực hiện Luật này nói
chung và thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công
chức cơ quan hành chính Nhà nước gây ra nói riêng là vấn đề có tính cấp thiết.
Bồi thường nhà nước là vấn đề hết sức phức tạp, nó thể hiện quan hệ đặc biệt giữa
một bên chủ thể là Nhà nước - với tư cách là chủ thể thực thi và duy trì quyền lực
công theo pháp luật - với một bên là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do chính hành vi
trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Bảo đảm sự bình đẳng trước
pháp luật trong mối quan hệ này là không hề đơn giản. Trong bối cảnh đó, việc
thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính
Nhà nước gây ra đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn, thực hiện nghiêm minh theo
trình tự luật định.
Những vấn đề nêu trên đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu một cách toàn diện,
sâu rộng, có hệ thống đối với thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước do công chức cơ quan hành chính Nhà nước gây ra ở Việt Nam. Đồng
thời, cần nghiên cứu thủ tục tố tụng trong việc xác định trách nhiệm của Nhà nước
và yêu cầu chính đáng của công dân theo những mô hình và pháp luật tố tụng phù
hợp. Do đó, cần tổng kết từ thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước nhằm tìm kiếm các giải pháp bảo đảm cho việc thực hiện và các vấn
đề cần hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Trên cơ sở nhận thức và với mong muốn làm sáng tỏ những vấn đề cấp thiết
về lý luận và thực tiễn việc thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đánh
giá những điểm tích cực và hạn chế nhằm đưa ra quan điểm và giải pháp về lĩnh
- Đánh giá đúng những kết quả đạt được và hạn chế đối với thực trạng thực
hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành
chính Nhà nước gây ra ở Việt Nam, phân tích rõ các nguyên nhân khách quan, chủ
quan của những kết quả đạt được và hạn chế đó.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, xác định những quan điểm và đề xuất
những giải pháp cụ thể, phù hợp, có tính khả thi nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật
về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính Nhà
nước gây ra ở Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn đối với thực hiện pháp
luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính
5
Nhà nước gây ra ở Việt Nam dưới góc độ khoa học lý luận và lịch sử nhà nước và
pháp luật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công
chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam là đề tài rộng, chứa đựng
nhiều vấn đề phức tạp về lý luận và thực tiễn. Luận án nghiên cứu thực hiện
pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong phạm vi các cơ quan
hành chính Nhà nước, công chức của cơ quan này và các cá nhân, tổ chức có liên
quan ở Việt Nam.
Về mặt thời gian, luận án nghiên cứu thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính Nhà nước gây ra từ năm
1945 tới nay. Tình hình và số liệu thống kê liên quan tới vấn đề này được trích dẫn,
viện dẫn từ các báo cáo chính thức từ năm 1997 tới năm 2013 của Chính phủ, Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân
dân các cấp.
hội thảo trao đổi với các chuyên gia về thực trạng để đánh giá, tổng hợp và chọn lọc
tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn có liên quan tới thực hiện pháp luật về
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính Nhà nước
gây ra ở Việt Nam, từ đó, tác giả làm sáng tỏ nội dung của luận án.
- Chương 4, về cơ bản tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để
đưa ra các quan điểm, giải pháp có căn cứ khoa học, góp phần bảo đảm thực hiện
pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành
chính Nhà nước gây ra ở Việt Nam.
5. Những đóng góp về khoa học của luận án
Thông qua việc nghiên cứu toàn diện, có hệ thống đề tài này, nội dung luận
án có một số điểm mới, đó là:
- Xây dựng khái niệm, xác định các đặc điểm và pháp luật về trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính Nhà nước gây ra. Đặc
biệt, luận án đã xây dựng khái niệm, phân tích rõ các hình thức và nội dung thực
hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành
chính Nhà nước gây ra.
7
- Xác định yêu cầu và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về trách nhiệm
bồi thường Nhà nước do công chức cơ quan hành chính Nhà nước gây ra.
- Nghiên cứu thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
do công chức cơ quan hành chính Nhà nước gây ra ở một số nước trên thế giới, luận
án xác định những giá trị Việt Nam có thể tham khảo.
- Đánh giá kết quả, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính Nhà nước gây ra ở Việt
Nam và nguyên nhân của những kết quả, hạn chế đó.
- Đề xuất những quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính Nhà nước gây ra
ở Việt Nam.
lĩnh vực này phải đặt trong mối quan hệ với tổng thể các quy định của pháp luật,
đặc biệt là các quy định của pháp luật có liên quan tới trách nhiệm bồi thường, công
chức, công vụ. Nhiều công trình khoa học nghiên cứu các vấn đề liên quan tới thực
hiện pháp luật về TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra đã được công bố ở
các mức độ và phạm vi khác nhau, điển hình gồm hai nhóm chính sau:
Nhóm thứ nhất, các công trình tiêu biểu liên quan tới trách nhiệm bồi thường:
- Dự án “Nghiên cứu, đánh giá vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố
tụng”, Bộ Tư pháp [14]. Dự án đã nghiên cứu, khảo sát và đánh giá tổng quan thực
trạng thực hiện pháp luật về bồi thường theo nội dung Nghị quyết số 388/2003/NQUBTVQH ngày 17 tháng 3 năm 2003 của UBTVQH, bồi thường theo nội dung
Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ và BTTH ngoài hợp
đồng theo quy định của BLDS. Qua khảo sát, điều tra, phân tích số liệu bồi thường
tại năm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và phỏng vấn trực tiếp các chủ thể
liên quan của các CQHCNN, cơ quan tố tụng, luật sư, người bị thiệt hại, Dự án đã
phân tích làm sáng tỏ những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và đề xuất
việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật về BTTH. Mặc dù số liệu điều tra cơ bản
chỉ trong phạm vi ở năm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với đối tượng
khảo sát chủ yếu là những người có liên quan hoạt động tố tụng, nhưng Dự án đã
khái quát được một số thực trạng của pháp luật BTTH Việt Nam trong giai đoạn
từ năm 1997 đến năm 2007. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của Dự án, một số kiến
9
nghị đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp thu, thể hiện trong nội dung của Luật
TNBTCNN ban hành năm 2009. Với việc thực hiện nội dung quy định của pháp
luật TNBTCNN mới, những kết luận, nhận định của Dự án đã lạc hậu, không còn
phù hợp và chỉ có các số liệu có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu luận án.
- Sách chuyên khảo “Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ
quan tiến hành tố tụng gây ra”, tác giả Lê Mai Anh [1]. Công trình nghiên cứu này
đã phân tích đặc điểm, bản chất của trách nhiệm nhà nước trong việc BTTH do
người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Một số khái niệm, trình
phân loại TNBT và chủ thể bồi thường, những trường hợp không phải bồi thường,
thời hạn hưởng BTTH do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm. Công trình nghiên cứu
này đã phân tích BTTH về tài sản, sức khỏe, tính mạng của cá nhân, tổ chức dưới
góc độ pháp luật dân sự, chưa đề cập sâu ở khía cạnh TNBTCNN do công chức
CQHCNN gây ra thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng đối với cá nhân, tổ chức
trong thi hành công vụ. Do vậy, một số nội dung của công trình nghiên cứu này
cũng có giá trị tham khảo đối với luận án.
- Sách chuyên khảo “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo
pháp luật dân sự Việt Nam”, tác giả Tiến sĩ Trần Thị Huệ chủ biên [70]. Nội dung
cuốn sách đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản, thực trạng quy định của pháp
luật Việt Nam và định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về BTTH do tài sản
gây ra. Cuốn sách cũng trình bày một số nội dung về chế định BTTH ngoài hợp
đồng trong BLDS, với ý nghĩa nhằm bảo vệ tài sản của nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức, giáo dục mọi người nâng cao ý thức pháp luật, đồng
thời sử dụng các biện pháp pháp luật một cách đầy đủ và chặt chẽ để tăng cường
hiệu quả điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực này. Cuốn sách đã đề xuất các giải
pháp nâng cao ý thức pháp luật của cá nhân, tổ chức trong cộng đồng dân cư về
trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra trong bối cảnh nước ta đang trong quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Đây là công trình nghiên cứu về một loại
TNDS được áp dụng cho chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản - những
người có nghĩa vụ trong việc quản lý tài sản, khác với nội dung của TNBTCNN do
công chức CQHCNN gây ra. Do vậy, cuốn sách có nhiều thông tin giá trị, có thể
dùng làm tài liệu nghiên cứu đối với luận án.
- Sách chuyên khảo “Tìm hiểu pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước”, tác giả Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tịnh chủ biên [128]. Cuốn sách đã cung cấp
một số thông tin, kiến thức pháp luật về TNBTCNN dưới góc độ phổ biến để cho
11
cán bộ, công chức nói chung, cán bộ, công chức làm công tác bồi thường nói riêng
12
cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc hướng dẫn áp dụng và hoàn thiện Điều
619, 620 BLDS, qua đó tác giả đã phân biệt TNDS theo quy định của BLDS và
TNBTCNN. Đề tài đã khẳng định Nhà nước và các tổ chức thành viên của mình
thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật phải thông qua hành vi của cán bộ,
công chức. Khi thực thi công vụ, cơ quan nhà nước có thể có nhiều tư cách - tư cách
pháp nhân, tư cách cơ quan nhà nước hoặc với tư cách của cơ quan tiến hành tố
tụng. Đề tài cũng đề cập thực trạng khó khăn trong thi hành án liên quan tới tài sản
của các vụ, việc BTTH, trên cơ sở đó đã đề xuất cơ chế thi hành án đặc thù với
loại vụ việc này. Ngoài ra, các tác giả đã đề xuất, kiến nghị nhiều nội dung quan
trọng trong việc xây dựng Luật TNBTCNN. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của
Đề tài chủ yếu dưới góc độ TNDS, mặc dù đã đánh giá được một phần của thực
trạng việc thực hiện BTTH và đề xuất một số kiến nghị có giá trị trong việc xây
dựng Luật TNBTCNN, nhưng những nội dung đó được đề cập trước khi Việt
Nam ban hành Luật TNBTCNN, do vậy, Đề tài chỉ cung cấp một số thông tin, tài
liệu có thể tham khảo cho luận án.
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước”, tác giả Lê Thái Phương [87]. Luận văn
đã khái quát một số nội dung về TNBT thiệt hại của nhà nước, thực trạng pháp luật
Việt Nam về BTTH, trong đó tác giả đã so sánh một số chế định cụ thể của pháp
luật BTTH Việt Nam với chế định tương ứng của một số nước trên thế giới.
Luận văn thạc sĩ Luật học “Một số vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính”, tác giả Nguyễn Khả Phúc [86]. Luận
văn này chủ yếu nêu, phân tích khái niệm về trách nhiệm BTTH, trách nhiệm BTTH
của nhà nước, cơ quan quản lý hành chính nhà nước, hoạt động quản lý hành chính
nhà nước, căn cứ phát sinh và các đặc điểm của trách nhiệm BTTH của nhà nước
trong hoạt động quản lý hành chính. Tác giả cũng đã nêu khái quát quy định pháp
luật về trách nhiệm BTTH của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, trên cơ
Pháp luật nêu trên mặc dù chưa giải quyết các vấn đề chuyên sâu đối với thực hiện
pháp luật về TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra ở Việt Nam, nhưng cũng
tổng kết một số số liệu chính xác, có giá trị có thể tham khảo cho một số nội dung
liên quan của luận án.
Ngoài ra, vấn đề TNBTCNN cũng được khá nhiều nhà khoa học đăng trên
các tạp chí chuyên ngành luật, tiêu biểu như: “Vấn đề trách nhiệm của Nhà nước
bồi thường thiệt hại trong pháp luật Hoa Kỳ”, tác giả Cao Xuân Phong [85]; “Một
14
số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường Nhà nước”, tác giả Phó Giáo sư Tiến sĩ
Nguyễn Như Phát [82]; “Hai lý thuyết và hai loại trách nhiệm bồi thường Nhà
nước”, tác giả Phó Giáo sư Tiến sĩ Trịnh Đức Thảo [123]; “Bồi thường thiệt hại nhà
nước”, tác giả Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đăng Dung [39]; “Quan điểm về cách
xử lý một số vấn đề cơ bản của dự thảo Luật bồi thường Nhà nước”, tác giả Phó
Giáo sư Tiến sĩ Dương Đăng Huệ [66]; “Một số giải pháp xây dựng Luật bồi
thường Nhà nước”, tác giả Tiến sĩ luật học Phùng Trung Tập [115]; “Cơ sở pháp lý
phát sinh và phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, tác giả Phó Giáo sư
Tiến sĩ Nguyễn Như Phát và Tiến sĩ Luật học Bùi Nguyên Khánh [83]; “Bàn về
trách nhiệm bồi thường của nhà nước khi công chức thi hành công vụ, gây thiệt
hại”, tác giả Trần Thị Hiền [59]; “Bồi thường nhà nước từ quan điểm đến pháp luật
và khả năng thực hiện”, tác giả Nguyễn Minh Đoan [50]; “Một số vấn đề lý luận
trong xây dựng dự án Luật bồi thường nhà nước và xác định phạm vi điều chỉnh”,
tác giả Đinh Dũng Sỹ [114]; “Trách nhiệm bồi thường của nhà nước: nhận diện và
phân biệt với đền bù nhà nước”, tác giả Trần Thái Dương [40]; “Trách nhiệm bồi
thường của nhà nước trong lĩnh vực hành chính”, tác giả Lê Thị Phương Hoa [61];
“Một số vướng mắc trong việc thực thi các quy định về bồi thường nhà nước”, tác
giả Đỗ Văn Nhân [79];...
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về TNBTCNN cũng là chủ đề của nhiều
hội thảo khoa học về lĩnh vực này, nổi bật là hội thảo: “Pháp luật bồi thường nhà
vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận án.
Nhóm thứ hai, các công trình tiêu biểu có liên quan tới thực hiện pháp luật,
công chức, công vụ:
- Luận án tiến sĩ Luật học “Trách nhiệm pháp lý của công chức trong điều
kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam”, tác giả Ngô Hải Phan [81]. Luận
án đã đánh giá thực trạng đội ngũ công chức, phân tích các quan điểm và đưa ra các
khái niệm về TNPL, phản ánh trung thực, khách quan về thực trạng pháp luật điều
chỉnh về TNPL đối với công chức, đồng thời, đã phân tích mối tương quan giữa các
dạng TNPL được áp dụng đối với công chức vi phạm pháp luật. Luận án đã đề xuất
phương hướng, quan điểm và các nhiệm vụ, giải pháp cơ bản để hoàn thiện pháp
luật về công chức, công vụ, nền hành chính công nói chung, pháp luật về TNPL đối
với công chức nói riêng. Mặc dù số liệu, phân tích và nhận định của Luận án này về
cán bộ, công chức, viên chức Việt Nam tương đối đầy đủ nhưng được thực hiện từ
trước năm 2004 nên đã cũ so với thời điểm hiện nay. Do vậy, chỉ có các số liệu của
Luận án có giá trị tham khảo cho luận án.
16
- Luận án Tiến sĩ luật học “Trách nhiệm vật chất đối với công chức theo
pháp luật Việt Nam hiện nay”, tác giả Trần Thị Hiền [60]. Luận án này nghiên cứu
một cách hệ thống, toàn diện và chỉ ra bản chất của trách nhiệm vật chất với tư cách
là dạng trách nhiệm BTTH đặc biệt. Công trình nghiên cứu này đã phân tích một số
quan niệm, các yếu tố pháp lý cần thiết cho sự hình thành, cơ sở thực tế làm phát
sinh trách nhiệm vật chất đối với công chức. Tác giả đã so sánh mối quan hệ giữa
TNBTCNN và trách nhiệm vật chất đối với công chức, trên cơ sở đó, tác giả đề
xuất cần xác định trách nhiệm của Nhà nước và trách nhiệm của công chức theo
hướng Nhà nước chỉ phải chịu trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ra trong hoạt
động công vụ. Nhà nước có trách nhiệm về nội dung thực hiện quyền lực công
trong quản lý nhà nước và chịu trách nhiệm về những hậu quả có thể xảy ra trong
hoạt động thi hành công vụ của công chức, mà Nhà nước và công chức luôn tồn tại
bản từ năm 1998, nhưng nhiều nội dung có giá trị trong việc xây dựng, hoàn thiện
đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong giai đoạn hiện nay và có giá trị tham
khảo đối với đề tài của luận án.
- Sách chuyên khảo “Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về theo dõi thi hành
pháp luật”, do Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật Bộ Tư pháp, tác giả
Tiến sĩ Lê Thành Long chủ biên [29]. Cuốn sách đã phân tích rõ khái niệm “thi
hành pháp luật”, “theo dõi thi hành pháp luật”, vai trò của các cơ quan trong theo
dõi thi hành pháp luật, khái quát việc tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở một số
Bộ, ngành, địa phương và kinh nghiệm quốc tế. Trên cơ sở tham khảo nội dung
cuốn sách, tác giả đã nghiên cứu, tham khảo nội dung của các hình thức thực hiện
pháp luật, thi hành pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật thể hiện trong chương 2
và chương 3 của luận án.
Bên cạnh các công trình trên, một số giáo trình giảng dạy trong các cơ sở đào
tạo luật cũng nghiên cứu về các khía cạnh có liên quan đến thực hiện pháp luật, công
chức, công vụ, tiêu biểu là các giáo trình như: “Lý luận Nhà nước và Pháp luật”,
Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội [41]; “Giáo trình Luật dân sự Việt Nam”,
Trường Đại học Luật Hà Nội [142]; “Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam”, Trường
Đại học Luật Hà Nội [143]; “Lý luận Nhà nước và Pháp luật” của tác giả Giáo sư
Tiến sĩ Phạm Hồng Thái và Phó Giáo sư Tiến sĩ Đinh Văn Mậu [118]; “Giáo trình
Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội [144];
“Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật”, Trường Đại học Luật Hà Nội [145];
“Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội [147];...
18
Ngoài ra, cũng còn một số tác giả bảo vệ luận án thạc sĩ luật học liên quan tới
một hoặc một số nội dung về lĩnh vực “thực hiện pháp luật”, “áp dụng pháp luật”
như: Luận văn thạc sỹ luật học “Đảm bảo quyền của công dân được bồi thường
thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện
nay”, tác giả Lê Minh Thắng [120]; Luận văn thạc sỹ luật học “Áp dụng pháp luật
số nước tiêu biểu như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa liên bang Đức,
Vương quốc Anh để tìm ra điểm ưu việt, những vấn đề còn hạn chế, tồn tại và trên
cơ sở đó kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc sửa đổi, bổ sung,
hoàn thiện pháp luật bồi thường nhà nước. Giá trị quan trọng của công trình nghiên
cứu này chính ở chỗ tác phẩm đã nghiên cứu, so sánh, phân tích việc thực hiện pháp
luật bồi thường của Trung Quốc sau 10 năm Luật bồi thường nhà nước Trung Quốc
có hiệu lực thi hành, trên cơ sở đó tác giả đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp
luật về lĩnh vực này phù hợp với chủ trương phát triển xã hội hài hoà mang đặc sắc
Trung Quốc. Đặc biệt, cuốn sách đã trình bày và phân tích khá kỹ về các khía cạnh
pháp luật, các phương diện lịch sử, chế độ chính trị, các điều kiện về kinh tế - xã hội
để lý giải các luận chứng cho việc xây dựng, hoàn thiện các chế định của pháp luật
bồi thường nhà nước Trung Quốc. Đây là những thông tin có giá trị tham khảo khi
xây dựng Luật TNBTNN Việt Nam và là tài liệu tham khảo quan trọng có liên quan
tới đề tài luận án.
- Sách chuyên khảo “Thực hiện Luật bồi thường nhà nước”, tác giả Cao Gia
Vĩ [188]. Cuốn sách này đã phân tích khái niệm, chủ thể, kết cấu, tính chất, mục
đích của bồi thường nhà nước và thực hiện Luật bồi thường nhà nước của Trung
Quốc. Tác giả đã khẳng định việc thực hiện chế định bồi thường nhà nước của các
quốc gia là quy luật khách quan trong tiến trình dân chủ hóa đời sống xã hội, đặc
biệt, các quốc gia trên thế giới có xu hướng mở rộng phạm vi bồi thường trong lĩnh
vực hành chính là bước đột phá trong quan hệ bồi thường của Nhà nước, qua đó
đánh giá và là thước đo nền dân chủ ở mỗi quốc gia. Ngoài ra, cuốn sách đã khái
quát thực trạng thực hiện pháp luật bồi thường, nêu ra thực tế vướng mắc, khó khăn
đối với quy định về phạm vi, yêu cầu, chủ thể, phương thức, bồi hoàn, kinh phí thực
hiện bồi thường theo quy định của Luật bồi thường nhà nước Trung Quốc. Cách
tiếp cận về trách nhiệm giữa các chủ thể trong mối quan hệ giữa một bên là Nhà
nước, một bên là cá nhân, tổ chức trong xã hội dân chủ, trong đó quyền công dân,
quyền con người được đề cao là một giá trị rất đáng tham khảo của cuốn sách.
- Sách chuyên khảo “Hướng dẫn thực hiện bồi thường nhà nước”, chủ biên
Giang Tâm Tân [189]. Cuốn sách gồm nhiều nội dung chủ yếu trình bày các văn
kinh doanh như thế nào được gọi là “thỏa đáng” là rất quan trọng. Những nội dung
của cuốn sách là thông tin cần tham khảo cho đề tài luận án.
- Cuốn “Kỷ yếu các toạ đàm về Luật bồi thường Nhà nước” do Bộ Tư pháp
phối hợp với Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản [13]. Các chuyên gia Nhật Bản và