skkn khai thác bài tập đọc để nâng cao hiệu quả dạy tập làm văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 - Pdf 49

1. Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài:
Môn Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng trong chương trình
giáo dục ở tiểu học. Qua việc học môn Tiếng Việt giúp học sinh rèn được các kĩ
năng nghe, nói, đọc, viết, giao tiếp,…Trong môn Tiếng Việt ở lớp 5 lại có nhiều
phân môn: Tập đọc, Tập làm văn, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện. Theo
quan điểm biên soạn chương trình sách giáo khoa hiện nay có sự tích hợp, liên hệ,
bổ trợ lẫn nhau về kiến thức và kĩ năng giữa các phân môn trong cùng một chủ
điểm. Tuy nhiên trong thực tế dạy học, nhiều giáo viên hoặc là quên, hoặc là ngại,
hoặc là chưa nhận thức đầy đủ, rõ ràng vấn đề này. Chẳng hạn khi dạy các bài tập
đọc thể loại miêu tả, một số giáo viên chỉ chú trọng rèn kĩ năng đọc và tìm hiểu nội
dung bài mà chưa khai thác thêm về cách quan sát tinh tế, cách dùng các từ ngữ gợi
tả, gợi cảm,... để giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong bài qua các
biện pháp nghệ thuật của tác giả. Do đó học sinh chưa nhận thấy và học hỏi được
những biện pháp nghệ thuật, sẽ gặp khó khăn khi học các giờ Tập làm văn miêu tả.
Vì vậy các bài văn miêu tả của học sinh thường khô khan, ít hình ảnh.
Xuất phát từ những lí do trên, qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy khối 5 đặc
biệt là dạy môn Tiếng Việt, nhằm góp phần bồi dưỡng năng khiếu Tập làm văn cho
học sinh, tôi quyết định chọn sáng kiến với tiêu đề: “Khai thác bài Tập đọc để
nâng cao hiệu quả dạy làm văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 ”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực trạng dạy học phân môn Tập làm văn, tìm hiểu nguyên nhân
dẫn đến những hạn chế của học sinh khi làm văn tả cảnh. Từ đó tìm ra giải pháp
giúp học sinh có khả năng làm văn tả cảnh tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng
dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 5.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Các bài Tập đọc thể loại tả cảnh, các bài Tập làm văn tả cảnh và phương
pháp dạy học những bài này trong môn Tiếng Việt ở khối lớp 5 nói chung và lớp
5A nói riêng tại Trường Tiểu học Trung Tiến, năm học 2017 - 2018
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra

thấy. Vậy nên việc cung cấp cho các em hiểu và biết được vấn đề đó thông qua các
bài Tập đọc để làm bài Tập làm văn là một việc làm hết sức cần thiết. Đây quả là
một vấn đề mà những giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt ở lớp 5 luôn
quan tâm trăn trở.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Cùng với yêu cầu đổi mới hiện nay, giáo viên phải tạo môi trường khuyến
khích học sinh chủ động và tích cực học tập, thể hiện năng lực từng cá nhân nhằm
khơi dậy trong học sinh tính tò mò, tự khám phá để tìm ra những kiến thức mới.
Học sinh là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, còn giáo viên có quyền lựa
chọn phương pháp cho từng bài học. Giáo viên tránh nói nhiều, tránh làm thay học
sinh, cần tổ chức cho học sinh cùng làm việc dưới sự hướng dẫn của mình đó là xu
hướng chung của đổi mới phương pháp dạy học.


Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy cũng như qua dự giờ đồng nghiệp, bản thân
tôi nhận thấy có những khó khăn nhất định so với yêu cầu đổi mới hiện nay trong
môn Tiếng Việt. Nguyên nhân chủ yếu là:
* Về phía giáo viên:
- Tiếng Việt là môn học khó, nhất là phân môn Tập làm văn đòi hỏi người
giáo viên phải có kiến thức sâu rộng, phong phú, phải có vốn sống thực tế.
- Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5, giữa Tập đọc và Tập làm văn có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Cụ thể trong cùng một tuần, cứ sau hai tiết Tập đọc
là đến các tiết Tập làm văn. Các bài Tập làm văn thường gắn với chủ điểm đang
học ở các bài Tập đọc. Trong những bài văn, bài thơ, đoạn văn mẫu trong phân môn
Tập đọc, phân môn Tập làm văn, tác giả đã sử dụng nhiều biện pháp tu từ như: so
sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, liên tưởng, đảo ngữ, điệp ngữ, điệp từ,… nhưng
một số giáo viên chưa hiểu hết tác dụng của nó.
- Và thực tế ở trường Tiểu học Trung Tiến hầu hết giáo viên dạy Tập đọc chỉ
dừng lại ở mục tiêu cơ bản của tiết dạy là luyện đọc và trả lời câu hỏi theo yêu cầu
sách giáo khoa mà chưa đi sâu vào hướng dẫn các em cảm thụ hết cái hay cái đẹp

một số bài văn tả cảnh và thống kê thực trạng bài làm học sinh để tìm ra hạn chế,
tìm giải pháp khắc phục.
Kết quả như sau:
Tổng số
Bài làm hay
Bài làm nhiều từ ngữ
Trình tự miêu tả
HS
giàu cảm xúc
gợi tả, gợi cảm có
chưa hợp lí
hình ảnh phù hợp
SL
TL %
SL
TL%
SL
TL%
10em
1
10
2
20
7
70
Trước thực trạng đó, tôi thiết nghĩ mình cần phải thay đổi cách thức dạy học
mới để góp phần nâng cao hiệu quả phân môn Tập làm văn.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
- Hiệu quả của việc dạy học không chỉ phụ thuộc vào nội dung mà còn phụ
thuộc rất nhiều vào phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Điều chỉnh thời

+ Câu văn này giới thiệu điều gì?
- Tác giả giới thiệu màu sắc bao trùm cảnh làng quê ngày mùa, đó là màu vàng.
+ Đây là phần nào của bài văn miêu tả?
- Phần mở bài của bài văn miêu tả
+ Kể tên những sự vật trong bài có màu vàng và từ chỉ màu vàng đó.
- Lúa - vàng xuộm; nắng - vàng hoe; quả xoan - vàng lịm; lá mít, lá chuối - vàng ối;
tàu đu đủ, lá sắn héo - vàng tươi; quả chuối - chín vàng; bụi mía - vàng xọng; rơm
và thóc - vàng giòn; con gà, con chó - vàng mượt; mái nhà rơm – vàng mới; tất cả một màu vàng trù phú, đầm ấm
+ Hãy chọn một từ chỉ màu vàng trong bài và cho biết từ đó gợi cho em cảm giác
gì?
* Chẳng hạn:
- Lúa: vàng xuộm - lúa đã chín kĩ, màu vàng đậm
- Gà, chó: vàng mượt - gợi cảm giác những con vật béo tốt, có bộ lông óng ả, mượt
mà.
- Tất cả: vàng trù phú, đầm ấm - màu vàng gợi sự giàu có, ấm no
- ......
+ Những chi tiết nào về thời tiết và con người đã làm cho bức tranh làng quê thêm
đẹp và sinh động?
- Thời tiết: không nắng, không mưa, không có cảm giác héo tàn hanh hao.
- Con người: Mải miết làm việc không tưởng tới ngày hay đêm.
+ Nếu như câu đầu tiên là phần mở đầu thì phần tìm hiểu vừa rồi thuộc phần nào
của bài văn?
- Phần thân bài
+ Bài văn thể hiện tình cảm gì của tác giả đối với quê hương?
- Tác giả rất yêu quê hương nên mới viết được một bài văn tả cảnh ngày mùa trên
quê hương hay như thế.
* Tuy tác giả không trực tiếp thể hiện tình yêu quê hương nhưng qua cách quan sát,
miêu tả cảnh vật, con người tác giả đã thể hiện điều đó. (Tác giả đã lồng cảm xúc
của mình vào từng cảnh tả). Đây chính là phần kết bài.
+ Tác giả đã tả cảnh làng quê theo trình tự nào?

Bài Hoàng hôn trên sông Hương tả sự thay đổi của cảnh theo thời gian:
- Đoạn 1: Nêu nhận xét chung về sự yên tĩnh của Huế lúc hoàng hôn.
- Đoạn 2: Tả sự thay đổi sắc màu của sông Hương từ lúc bắt đầu hoàng hôn
đến lúc tối hẳn.
- Đoạn 3: Tả hoạt động của con người bên bờ sông, trên mặt sông từ lúc bắt
đầu hoàng hôn đến lúc thành phố lên đèn.
- Đoạn 4: Nhận xét về sự thức dậy của Huế sau hoàng hôn.
Cùng với những kiến thức đã được cung cấp trong tiết Tập đọc trước, các em
đã rút ra được nhận xét về cấu tạo của bài văn tả cảnh gồm có ba phần:
- Mở bài: Giới thiệu bao quát về cảnh được tả.
- Thân bài: Tả từng phần của cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo trình tự
thời gian
- Kết bài: Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người viết
2.3.2. Giải pháp thứ hai: Cảm thụ bài Tập đọc để vận dụng vào học Tập làm văn
trong tiết hướng dẫn tự học
+ Tôi hướng dẫn học sinh tự học bằng các câu hỏi gợi ý sau:
Tìm và phân tích các biện pháp nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng để làm nổi
bật vẻ đẹp của cảnh tả ở bài Tập đọc Quang cảnh làng mạc ngày mùa
+ Nêu các từ chỉ màu vàng có trong bài.


- vàng xuộm, vàng hoe, vàng lịm, vàng ối, vàng tươi, vàng, vàng xọng, vàng
giòn, vàng mượt, vàng mới, màu vàng trù phú, đầm ấm.
+ Những từ cùng chỉ màu vàng đó gọi chung là từ gì?
- Từ đồng nghĩa
+ Nêu tác dụng của việc dùng từ đồng nghĩa trong đoạn văn trên.
- Tác giả đã sử dụng một loạt từ đồng nghĩa để miêu tả được các màu vàng
khác nhau của sự vật nhằm làm sinh động và nổi bật quang cảnh làng mạc ngày
mùa, đồng thời làm cho cảnh được tả trở nên đa dạng, phong phú.
* Đây chính là nghệ thuật dùng từ đặc tả để làm một bài văn mà các em cần phải

cảnh, tập trung quan sát cảnh thật cụ thể bằng nhiều giác quan và bằng tất cả tình
cảm của mình, phải thả "hồn" của mình vào trong từng cảnh tả.


Ngoài ra trong quá trình giảng dạy trên lớp tôi rất trú trọng tới việc truyền
hưng phấn, tình cảm của mình cho học sinh. Qua đó đã góp phần giúp các em làm
được những bài văn có cảm xúc hơn.
2.3.3. Giải pháp thứ ba: Hướng dẫn học sinh vận dụng vào viết đoạn văn tả
cảnh
Sau khi học sinh cảm nhận và nắm được cách quan sát, cách tả một cảnh cũng
như các biện pháp nghệ thuật thường sử dụng trong bài văn tả cảnh, tôi cho các em
vận dụng vào viết một đoạn văn tả cảnh.
Chẳng hạn tôi đã giao một bài tập về nhà như sau:
Đề bài: Hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 đến 7 câu) tả cảnh trường em trước buổi
học.
Sau đó, bằng hệ thống câu hỏi gợi ý, tôi hướng dẫn cho học sinh về cách quan
sát, trình tự tả (theo thời gian hoặc theo từng bộ phận của cảnh), lựa chọn những
đặc điểm tiêu biểu của cảnh, lựa chọn từ ngữ gợi tả cho chính xác để đặt câu, cách
viết câu mở đoạn, câu kết đoạn và những biện pháp nghệ thuật cần áp dụng (so
sánh, nhân hóa, liên tưởng). Đặc biệt lưu ý học sinh không nên chỉ liệt kê các bộ
phận của cảnh mà cần miêu tả cụ thể, làm bài cần có cảm xúc thực sự, phải toát lên
vẻ đẹp của cảnh và tình cảm của người viết đối với cảnh trường của mình.
2.3.4. Giải pháp thứ tư: Nhận xét đánh giá sửa lỗi cho học sinh
Để học sinh có thời gian quan sát lại cảnh trường, hai hôm sau tôi mới thu bài
về chấm. Kết quả bài làm của các em đã có sự tiến bộ nhất định. Trong đó có nhiều
bài làm khá tốt nhưng vẫn có một số bài làm chưa đạt. Ví dụ có bài làm chưa đạt
như sau:
“ Trường em có nhiều cây bàng, cây phượng và cây xà cừ to cao. Trường em
còn có các bồn hoa. Dãy phòng học một tầng đã hơi cũ. Trước buổi học, có bạn thì
quét trực nhật, có bạn thì đang chơi dưới sân trường.”

Sau khi áp dụng các giải pháp nêu trên tôi tiến hành khảo sát học sinh lớp tôi
đến thời điểm cuối tháng ba. Kết quả thu được như sau:
Bài làm nhiều từ ngữ
Tổng số
Bài làm hay
Trình tự miêu tả chưa
gợi tả, gợi cảm có
HS
giàu cảm xúc
hợp lí
hình ảnh phù hợp
SL
TL %
SL
TL%
SL
TL%
10em
5
50
5
50
0
0
Khi học sinh đã viết được đoạn văn khá tốt rồi thì các em sẽ viết được cả bài
văn dễ dàng hơn.
Đối với những thể loại làm văn khác tôi cũng vận dụng phương pháp dạy
tương tự như dạy dạng bài văn tả cảnh và kết quả cũng rất khả quan.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
2.4. 1. Đối với học sinh trong lớp:

Sau một thời gian nghiên cứu nghiêm túc và vận dụng thành công các giải
pháp đem lại hiệu quả rõ rệt trong việc dạy học làm văn tả cảnh cho học sinh, bản
thân tôi cảm thấy rất hài lòng. Từ đây tôi đã tích lũy thêm cho mình một kinh
nghiệm quý báu không chỉ dạy tập làm văn dạng bài tả cảnh cho học sinh lớp 5, mà
còn có thể vận dụng cho việc dạy những thể loại văn khác.
4.3. Đối với đồng nghiệp và nhà trường:
Sau hơn một học kì thực hiện phương pháp trên, tôi đã trao đổi kinh nghiệm
với đồng nghiệp trong các buổi sinh hoạt tổ. Một số giáo viên đã mạnh dạn vận
dụng phương pháp này vào trong quá trình giảng dạy trên lớp. Hầu hết giáo viên đã
có nhận thức đúng về việc đổi mới phương pháp dạy học và đã thực sự đầu tư thời
gian, phát huy khả năng sáng tạo của mình trong việc soạn giảng. Từ đó đã bước
đầu nâng cao được chất lượng dạy học trong trường, giảm đi sự chênh lệch giữa
môn Toán và môn Tiếng Việt.


3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận:
Để nâng cao hiệu quả dạy học Tập làm văn trên cơ sở khai thác kiến thức
từ bài Tập đọc giáo viên cần:
- Nắm chắc nội dung của môn Tiếng Việt nói chung, của các phân môn Tập
đọc, Tập làm văn nói riêng trong từng chủ điểm; luôn chú ý sự tích hợp, liên hệ, bổ
trợ lẫn nhau về kiến thức và kĩ năng giữa các phân môn trong cùng một chủ điểm.
- Dành thời gian để nghiên cứu bài, lập kế hoạch bài dạy.
- Phải mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học; vận dụng linh hoạt các hình
thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Phải vững về kiến thức, kỹ năng thực hành Tiếng Việt; có vốn sống, vốn
cảm xúc phong phú; phải thực sự yêu nghề và có tâm huyết say mê với công tác;
phải luôn nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo; trau dồi kiến thức.
- Đầu tư nghiên cứu soạn bài một cách khoa học, lôgic của từng phần học có
liên quan chặt chẽ với nhau.

không sao chép nội dung của người khác.
Người thự hiện

Lê Thị Thắng



DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD& ĐT VÀ CÁC CẤP CAO
HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Lê Thị Thắng
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Trung Tiến

ST
T

1

2

Tên đề tài SKKN
Để dạy tốt môn Luyện từ
và câu cho học sinh lớp 4
Dạng bài mở rộng vốn từ
Công tác giáo dục học
sinh gặp khó khăn trong
rèn luyện đạo đức ở nhà
trường.


2014
2015

-


PHỤ LỤC
+ Các tài liệu bản thân đã nghiên cứu và sử dụng trong quá trình làm sáng
kiến kinh nghiệm:
- Một số Văn bản hướng dẫn thực hiện chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Các tài liệu hướng dẫn dạy học môn Tiếng Việt
- Phương pháp dạy học tiếng Việt của PGS - TS Lê Phương Nga, Nguyễn Trí.
- Chuyên đề bồi dưỡng Văn - Tiếng Việt lớp 5 của Nguyễn Thị Kim Dung - TP.
HCM.


MỤC LỤC
STT
1
1.1
1.2
1.3
2
2.1
2.2
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.3.4

Đối với bản thân
Đối với động nghiệp và nhà trường
Kết luận, kiến nghị
Kết luận
Kiến nghị

TRANG
1
1
1
1
2
2
2
4
4
6
7
8
8
9
9
9
10
11
11
11


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status