SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN QUAN SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
NHẰM TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA
HỌC SINH Ở MÔN TOÁN LỚP 4 THEO CHƯƠNG
TRÌNH VNEN
Người thực hiện: Ngân Thị Hoa
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Trung Hạ
SKKN thuộc lĩnh vực: Môn Toán
THANH HÓA NĂM 2018
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2. 2. Nghiên cứu thực trạng
9
9
10
10
12
12
14
2
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn đó
cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận
thức thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn. Khả
năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó có khả năng phát triển
tư duy lôgic, phát triển trí tuệ. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện
phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn
đề có suy luận, có khoa học toàn diện, chính xác, có nhiều tác dụng phát
triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt..., góp phần giáo dục
ý trí nhẫn nại, ý trí vượt khó của học sinh.
Trong chương trình học ở bậc Tiểu học, môn Toán có thời lượng rất lớn chính
vì thế việc sử dụng phương pháp dạy học như thế nào để tránh cho các em thấy
nhàm chán bộ môn Toán là một điều vô cùng quan trọng. Việc sử dụng phương pháp
dạy học nào tùy thuộc vào mục đích và khả năng sử dụng của người dạy và học, tùy
thuộc vào hoàn cảnh dạy học cụ thể. Trong thực tiễn không một giáo viên có kinh
nghiệm nào lại sử dụng đơn điệu một phương pháp trong hoạt động dạy học của
mình. Để dạy một tiết Toán hay, có chất lượng, thu hút, lôi cuốn học sinh, bắt học
sinh phải tích cực trong hoạt động chiếm lĩnh tri thức của mình thì người giáo viên
sinh ở môn Toán lớp 4 theo chương trình VNEN”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn giảng dạy phân môn hướng dẫn
học Toán ở trường Tiểu học Trung Hạ. Chỉ ra thực trạng và nguyên nhân nhằm
xác định phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; tích cực hóa hoạt động học
tập của học sinh ở môn Toán lớp 4.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận trong dạy học Toán ở Tiểu học.
- Khảo sát thực trạng dạy môn Toán tại trường Tiểu học Trung Hạ - Quan
Sơn – Thanh Hóa.
- Đề xuất và bổ xung một số phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt
động học tập của học sinh ở môn Toán lớp 4.
- Sáng kiến này áp dụng giảng dạy ở khối lớp 4.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1. Nhóm phương pháp lý luận:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm hiểu, nghiên cứu những tài liệu có
liên quan: Những quan niệm, xu hướng, kinh nghiệm dạy học, những quan điểm
đổi mới giáo dục tiểu học và giảng dạy môn Toán lớp 4.
1.4.2. Nhóm phương pháp thực tiễn:
- Khảo sát tình hình học sinh lớp 4Bá
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên Toán 4
1.4.3. Nhóm phương pháp bổ trợ:
- Tìm hiểu thực trạng, kinh nghiệm tính chất dạy học Toán 4.
- Kiểm tra giả thuyết bằng thực tế dạy học.
- Phân tích rõ, đối chiếu số liệu để rút ra những kết luận cần thiết.
- Lập bảng biểu số lượng học sinh
4
Phần II: Bốn phép tính với các số tự nhiên. Hình học
Phần III: Dấu hiệu chia hết cho 2,5,3,9. Giới thiệu hình bình hành
Phần IV: Phân số - các phép tính với phân số. Giới thiệu hình thoi.
Phần V: Tỉ số - Một số bài toán liên quan đế tỉ số. Tỉ lệ bản đồ.
Phần VI: Ôn tập.
2.2.2. Những hạn chế, khó khăn.
- Về phía giáo viên:
5
Trong quá trình dạy học giáo viên chưa thực sự nhiệt tình trong việc đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Tổ
chức các hình thức dạy và học chưa phong phú và phù hợp với từng đối tượng học
sinh. Do vậy, chưa lôi cuốn được sự tập trung chú ý nghe giảng của học sinh. Từ
đó dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức cũng dàn trải.
Việc sử dụng đồ dùng dạy học còn hạn chế. Một số giáo viên chỉ vẽ
hình và cho học sinh quan sát, tìm kiến thức mới trên hình: Không cho các
em thao tác và như thế các em chỉ huy động được giác quan thị giác ( nhìn
lên bảng ) và thính giác ( nghe cô giảng bài ). Một số giáo viên ít dành thời
gian nghiên cứu, chuẩn bị hay chuẩn bị đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết
dạy thêm phong phú dẫn tới việc tiếp thu bài môn Toán chưa cao.
- Về phía học sinh:
Qua giảng dạy tôi thấy một số học sinh chưa nhận thức đúng vai trò của môn
Toán. Các em chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa chịu khó, tích cực tư duy
suy nghĩ tìm tòi nội dung kiến thức mới và vận dụng thực hành. Ví dụ: Khi học
xong các cách giải toán về phân số các em thường lúng túng, nhầm lẫn các bước
thực hiện phép công phân số: cộng hai phân số cùng mẫu số cũng quy đồng rồi
cộng tử số, có khi nhân phân số các em cũng quy đồng…mặc dù khi học xong bài
mới, ở lớp các em vân dụng làm bài rất tốt, nhưng khi làm luyện tập chung lại quên
các bước, các quy trình cộng phân số, tinh thần hợp tác học tập chưa cao, nhiều em
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
1
6,6%
4
26,4%
8
53,8%
2
4
5
- Hãy phân tích
Ta có:
2
thành tổng của 4 phân số bằng nhau?
5
2
8
2
2
2
2
2× 4
=
=
=
+ + + .
5× 4
5
20 20 20 20 20
- Từ kết quả trên, học sinh nhận biết và so sánh
Ta có:
3
2
4×5
4
5
20
Kết luận: Ta nói tích của
3
2
6
3
2
6
3× 2
với
=
. Viết × =
=
.
4×5
4
5
20
4
5
20
Học sinh tự rút ra công thức tổng quát:
a
luyện kỹ năng tính toán cho học sinh.
Hướng dẫn giải như sau:
+ Muốn tìm số phần băng giấy của 2 bạn Hà và An đã lấy, cần thực hiện
phép tính gì? ( phép cộng:
1
1
+ ).
2
3
Như vậy, việc yêu cầu học sinh tính tổng hai phân số khác mẫu số là một
tình huống gợi vấn đề, là một yêu cầu nhận thức mà học sinh chưa thể giải quyết
được bằng vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình (học sinh chỉ mới biết
tính tổng hai phân số có cùng mẫu số).
Tuy nhiên nếu học sinh chịu khó suy nghĩ hoặc được giáo viên hướng
dẫn tìm cách biến đổi để đưa hai phân số đó cho thành hai phân số có cùng
mẫu số (Quy đồng mẫu số) thì học sinh có thể giải quyết vấn đề kết hợp với
PPDH vấn đáp để tổ chức hoạt động dạy học hình thành phép cộng 2 phân số
khác mẫu số.
2.3.3. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong PPDH hợp tác
theo nhóm nhỏ và kết hợp với PPDH khác để tổ chức hoạt động dạy học
nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo, hợp tác của học sinh.
Mục tiêu, nội dung bài học yêu cầu hình thành tri thức mới cho học sinh.
Tri thức mới đó cần có sự kiểm nghiệm kết quả qua nhiều học sinh khác nhau,
cần có sự phát hiện, đóng góp trí tuệ. Tập thể học sinh cần phải đo đạc, thu thập
các số liệu điều tra thống kê.
Ví dụ bài: Diện tích hình thoi.
Yêu cầu tính diện tích hình thoi ABCD, khi biết 2 đường chéo AC = m,
BD = n (hình a)
B
N
B
M
D
C
A
C
D
( Hình a )
N
( Hình b )
( Hình c )
Do đó để kiểm nghiệm kết quả, phát huy tính chủ động sáng tạo và tinh
thần hợp tác của học sinh. Giáo viên yêu cầu học sinh hợp tác theo nhóm nhỏ để
tổ chức hoạt động dạy học.
2.3.4. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài
Để giải được các bài toán này giáo viên cần triển khai các hoạt động mang
tính chất thực tiễn, học sinh phải được thao tác trên đồ dùng trực quan. Từ đó
các em sẽ tự phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ bài học.
Ví dụ: Trong bài “Phép cộng phân số”.
Để hình thành phép cộng hai phân số có mẫu số bằng nhau, các nhóm học
sinh cùng thực hành trên băng giấy
– Chia băng giấy thành 8 phần bằng nhau, bằng cách gấp đôi ba lần theo
chiều ngang:
+ Tô màu vào
3
băng giấy
8
+ Tô màu vào
2
băng giấy
8
Nhìn vào băng giấy học sinh dễ nêu được hai lần đó tô màu được
5
băng
8
giấy.
Học sinh nêu:
3
14
20
+
+
= +(
+
)= +
=
5
10
10
5
10
10
5
10
10
10
Có thể một số em vẫn thực hiện theo thứ tự của các phép tính trong biểu
thức, ra kết quả đúng nhưng chưa nhanh và chưa hợp lí. Giáo viên nên hướng
dẫn học sinh các tính chất đã học của phép cộng để tìm ra cách giải thuận tiện.
Hoặc trong bài luyện tập của phép nhân thì giáo viên phải dẫn dắt học
sinh nhớ lại kiến thức đó học đó là:
Tính chất giao hoán của phép nhân.
Tính chất kết hợp của phép nhân.
Tính chất nhân một số với một tổng (Hoặc một tổng nhân với một số).
Tính chất nhân một hiệu với một số (Hoặc một số nhân với một hiệu).
Học sinh phải vận dụng nhanh các tính chất này vào giải toán: Khi nào
Hoàn thành
hoàn thành
(5 - 6)
( Dưới 5 )
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
6
35,6%
7
Vì khả năng có hạn nên bài viếc không sao tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất
mong có sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, giúp cho bài giảng của tôi
12
ngày càng hoàn thiện hơn, kiến thức dày hơn, trình độ chuyên môn vững vàng
hơn để đào tạo thế hệ mới trở thành những con người hữu ích cho đất nước.
Tôi cũng mong các cấp lãnh đạo ngành tổ chức cho chúng tôi học tập
những kinh nghiệm của các đồng nghiệp để bồi dưỡng chuyên môn cho chúng
tôi, đồng thời đầu tư thêm về cơ sở vật chất như máy tính, máy chiếu…
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Trung Hạ, ngày 20 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Ngân Thị Hoa
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách hướng dẫn, tài liệu hướng dẫn giáo viên môn Toán 4
2. Giáo trình phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học - Nhà xuất bản Đại
học Sư phạm năm 2009. Nhóm tác giả: Đỗ Trung Hiệu - Đỗ Đình Hoan - Vũ
Dương Thuỵ - Vũ Quốc Chung.
3. Giáo trình thực hành phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học - Nhà xuất bản
Đại học Sư phạm. Tác giả: Trần Ngọc Lan
lớp 3”
2.
“ Một số giải pháp rèn kĩ
năng đọc diễn cảm cho học
sinh lớp 4”
Phòng
GD&ĐT
huyện Quan
Sơn
Phòng
GD&ĐT
huyện Quan
Sơn
(A, B,
hoặc C)
C
20o9-201o
2013-2014
15