LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết luận trình bày
trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ
rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vũ Thị Mạc Dung
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
5
Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
10
1.1
Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
10
Chƣơng 3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH BẢO VỆ TÀI
NGUYÊN NƢỚC (2006 - 2010)
70
3.1
Những yếu tố mới tác động đến đẩy mạnh bảo vệ tài nguyên nước
70
3.2
Chủ trương của Đảng về đẩy mạnh bảo vệ tài nguyên nước
79
3.3
Đảng chỉ đạo đẩy mạnh bảo vệ tài nguyên nước
91
Chƣơng 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
4.1
Nhận xét Đảng lãnh đạo bảo vệ tài nguyên nước (2001 - 2010)
Một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo bảo vệ tài
nguyên nước (2001 - 2010)
Ban Chấp hành Trung ương
BCHTW
02
Bảo vệ môi trường
BVMT
03
Bảo vệ tài nguyên nước
BVTNN
04
Biến đổi khí hậu
BĐKH
05
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH
06
của con người và muôn loài, đồng thời là tư liệu sản xuất không thể thay thế
đối với nhiều ngành kinh tế quốc dân và là một thành phần cơ bản tạo nên
môi trường sống. Song, nước là nguồn tài nguyên có hạn và dễ bị tổn thương.
Trên phạm vi toàn cầu, TNN đang chịu những áp lực ngày càng nặng
nề do nhu cầu sử dụng nước tăng rất nhanh, cùng với việc khai thác và sử
dụng quá mức TNN, lại thiếu các biện pháp phòng chống ô nhiễm nguồn
nước và ứng phó với BĐKH. Bởi vậy, nhân loại đang đứng trước nguy cơ suy
thoái, cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước. Đây là một vấn đề xuyên suốt kết nối
chặt chẽ với tất cả mọi lĩnh vực ưu tiên cần hợp tác giải quyết trên cấp độ toàn
cầu, nhằm bảo vệ và PTBV nguồn nước cả về số lượng và chất lượng trước
những áp lực khai thác, sử dụng TNN do tăng trưởng kinh tế và BĐKH.
Ở Việt Nam, TNN cũng đang đứng trước những thách thức to lớn. Sự
suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước đã và đang trở thành những vấn đề
cấp bách, mang tính thời sự như: Tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm nước mặt đang
diễn ra phổ biến khắp các sông, suối, ao, hồ trên cả nước; nguồn nước ngầm
bị khai thác một cách bừa bãi; ô nhiễm và xâm nhập mặn nghiêm trọng ở các
vùng đồng bằng ven biển; tỷ lệ thất thoát nước trong sản xuất, phân phối và
tiêu dùng ở mức cao; nguồn nước ngọt bị suy kiệt đã gây nhiều khó khăn cho
cuộc sống của con người và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự PTBV của đất
nước. Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước đã có nhận thức và các chủ
trương, chính sách ngày càng đầy đủ để giải quyết vấn đề BVTNN. Tuy
nhiên, trước sức ép về phát triển KT - XH và việc tổ chức triển khai BVTNN
ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực còn nhiều hạn chế, nên những vấn đề về
TNN vẫn diễn biến rất phức tạp.
6
Bên cạnh đó, giải quyết những vấn về TNN không chỉ dừng lại ở lĩnh
vực TN, MT có mối quan hệ biện chứng với sự phát triển KT - XH của đất
nước mà còn mang tính chính trị, có liên quan chặt chẽ đến vấn đề chủ quyền,
những năm 2001 - 2010;
Phân tích làm rõ chủ trương, chính sách của Đảng về BVTNN và quá
trình chỉ đạo thực hiện BVTNN từ năm 2001 đến năm 2010 qua hai giai đoạn
2001 - 2005 và 2006 - 2010;
Nhận xét, đánh giá về ưu điểm, hạn chế; làm rõ nguyên nhân hạn chế trong
hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với BVTNN từ năm 2001 đến năm 2010;
Đúc kết một số kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng về BVTNN trong
những năm 2001 - 2010 để vận dụng vào hiện thực.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với BVTNN.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu làm rõ những yếu tố tác động đến BVTNN;
sự lãnh đạo của Đảng về BVTNN trên hai phương diện hoạch định chủ trương
và sự chỉ đạo thực hiện; kết quả việc thực hiện chỉ đạo của Đảng; nhận xét về
sự lãnh đạo của Đảng và đúc kết những kinh nghiệm lịch sử.
Tuy nhiên, BVTNN là vấn đề lớn, bao gồm tất cả các nguồn nước mặt,
nước ngầm, nước mưa, nước biển thuộc lãnh thổ Việt Nam phải được bảo vệ
không bị suy kiệt, phải được khai thác và sử dụng hợp lý, phải bảo vệ khả
năng phát triển TNN và giảm thiểu các tác hại do nước gây ra. Luận án chủ
yếu tập trung nghiên cứu về bảo vệ nguồn nước ngọt (bao gồm nước mặt và
nước ngầm) phục vụ sinh hoạt và phát triển KT - XH mà chủ yếu là bảo vệ
chất lượng nguồn nước và khai thác, sử dụng hợp lý TNN.
8
Trên phương diện hoạch định chủ trương, Đảng chưa ban hành nghị
quyết chuyên đề về BVTNN, nên những quan điểm, chủ trương của Đảng về
BVTNN được nghiên cứu, khai thác từ các văn kiện, nghị quyết của Đảng về
bảo vệ TN, MT. Trên phương diện chỉ đạo tổ chức thực hiện, sự chỉ đạo của
về BVTNN từ năm 2001 đến năm 2010;
Đưa ra những nhận xét, đánh giá tương đối khách quan về sự lãnh đạo
của Đảng đối với BVTNN trong những năm 2001 - 2010;
Đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình hoạt động lãnh đạo của Đảng
về BVTNN từ năm 2001 đến năm 2010.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài luận án
Luận án được nghiên cứu thành công bước đầu làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận và thực tiễn về BVTNN; góp phần tổng kết sự lãnh đạo của Đảng
đối với lĩnh vực bảo vệ TN, MT nói chung và BVTNN nói riêng.
Những kinh nghiệm được đúc kết trong luận án có giá trị tham khảo, vận
dụng vào thực tiễn BVTNN cũng như bảo vệ TN, MT nói chung hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,
Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và các môn học có liên
quan đến lĩnh vực TN, MT trong các trường cao đẳng, đại học, học viện.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã
công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương, 10 tiết.
10
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Do tầm quan trọng của lĩnh vực TN, MT nói chung và BVTNN nói
riêng, vấn đề TN, MT đã và đang trở thành chủ đề lớn được nhiều nhà khoa
học, nhà quản lý, các cơ quan chức năng quan tâm nghiên cứu. Trong thời
gian qua đã có nhiều công trình được công bố của các tác giả, tập thể tác giả
công nghiệp tái chế nguồn nước thải phát triển khá mạnh và hoạt động hiệu
quả; đồng thời, họ thực hiện rất nghiêm ngặt các quy trình trong sử dụng TNN
để không gây hậu quả tiêu cực tác động đến môi trường và TNN. Còn ở các
nước đang phát triển, nước thải thường không được xử lý trước khi xả thải ra
môi trường, việc tái chế nguồn nước thải không được coi trọng, cùng với việc
sử dụng lãng phí nguồn nước, là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái nhanh
chóng cả về chất lượng và số lượng nước cho người sử dụng và chính quốc gia
đó, đã làm gia tăng áp lực lên TNN toàn cầu.
Nhóm tác giả đã chỉ ra những xu hướng sử dụng nước bền vững và
những giải pháp, nhằm cải thiện về hiệu quả sử dụng nước. Tuy nhiên, những
giải pháp nhằm cải thiện về hiệu quả sử dụng nguồn nước, không đủ để tránh
tiếp diễn tình trạng thiếu nước nghiêm trọng xảy ra ở nhiều lưu vực sông trên
thế giới. Vậy nên, các quốc gia còn cần phải thay đổi cấu trúc cơ bản trong
phát triển kinh tế, nhằm giảm nhu cầu nước cần thiết trong chăn nuôi, trồng
trọt hay trong công nghiệp. Từ những kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã
đưa ra những kịch bản về tình hình nghiêm trọng của TNN đang diễn ra,
những nguy cơ thiếu nước có thể xảy ra trên phạm vi toàn thế giới và thậm
chí gây ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nguồn nước trên toàn cầu.
Ở một công trình khác, nhóm tác giả của bài viết “Future long-term
changes in global water resources driven by socio-economic and climatic
changes” [167] (tạm dịch: “Những thay đổi lâu dài trong tương lai về nguồn
12
tài nguyên nước toàn cầu do những thay đổi về kinh tế - xã hội và khí hậu
thay đổi”), đăng trên Journal of Hydrological Sciences (Tạp chí Khoa học
Thủy văn), đã sử dụng một mô hình nước toàn cầu, để phân tích các tác động
của thay đổi khí hậu và KT - XH đến TNN và cho thấy sự căng thẳng về nước
trên toàn cầu trong tương lai. Bài viết đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạng
thiếu nước, không chỉ có tác động của sự thay đổi khí hậu và dân số, mà còn
người tạo ra ý thức chính trị để giải quyết các vấn đề về nước và BVMT,
giảm nghèo, nâng cao sức khỏe của con người, giải quyết vấn đề việc làm…
bằng cách thiết lập một quan hệ đối tác giữa quyền con người và các tổ chức,
cộng đồng ngành nước nói riêng và ngành TN, MT nói chung ở mỗi quốc gia
và trên toàn thế giới.
Năng lượng là ưu tiên thứ hai sau nước và trong kế hoạch thực hiện
toàn cầu, các nguồn năng lượng tái tạo phải được tăng lên đáng kể, để sản
xuất năng lượng, nước có vai trò rất quan trọng. Trong bài “Water demands
for bioenergy production” [177] (tạm dịch: “Nhu cầu nước cho sản xuất năng
lượng sinh học” đăng trên Water Resources Development (Tạp chí Phát triển
Tài nguyên nước), tác giả cho rằng áp lực ngày càng chuyển các nguồn năng
lượng tái tạo leo thang. Trên cơ sở thực trạng TNN và những áp lực ngày
càng lớn của nhu cầu phát triển năng lượng tác động đến TNN, bài viết đã tập
trung đánh giá các nhu cầu nước cho sản xuất năng lượng sinh học hiện tại và
tương lai nhằm cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các nhà quản lý, các
nhà hoạch định chính sách về BVTNN. Theo tác giả, thủy điện được tạo ra từ
năng lượng tiềm năng của nước chảy và các hệ sinh thái cũng bị thay đổi đáng
kể trong quá trình này; sản xuất năng lượng sinh học cũng ràng buộc rất nhiều
với nước; sự phát triển của các nhà máy sử dụng cho sản xuất năng lượng đòi
hỏi một lượng nước rất lớn. Tác giả đã đưa ra ví dụ, để sản xuất 1kg chất khô
của gỗ, mía, hạt hoặc một số loại cây trồng khác cho mục đích sản xuất năng
lượng sinh học đòi hỏi thường sử dụng khoảng 200kg nước. Theo đó, tác giả
cho rằng, đây là chủ đề cần được nghiên cứu chi tiết, kỹ lưỡng nhằm xác định
tiềm năng tăng trưởng sản xuất năng lượng sinh học của từng khu vực địa lý để
quản lý, sử dụng và khai thác có hiệu quả nguồn TNN trên thế giới.
14
Khi bàn về lưu vực sông, bài viết “Water Resource Models in the
Mekong Basin: A Review” [174] (tạm dịch: “Các mô hình tài nguyên nước ở
Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới về
TNN đã được công bố nhằm cung cấp những luận cứ khoa học quan trọng để
giải quyết “bài toán” về vấn đề ô nhiễm, suy giảm, cạn kiệt nguồn TNN toàn
cầu. Đồng thời, các nhà khoa học cũng đã đưa ra những cảnh báo về nguy cơ
ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước trên thế giới và kêu gọi sự chung tay, hợp tác
của tất cả các quốc gia trên thế giới để ngăn chặn và đẩy lùi sự suy giảm, cạn
kiệt TNN toàn cầu.
1.1.2. Các công trình của tác giả trong nước nghiên cứu có liên quan
đến đề tài luận án
* Nhóm công trình nghiên cứu về bảo vệ tài nguyên, môi trường và
phát triển bền vững
Trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học ở Việt Nam đã có
những quan tâm nghiên cứu đến lĩnh vực TN, MT và việc bảo vệ TN, MT
trong quá trình phát triển KT - XH để hướng đến sự PTBV. Nhiều công trình
nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng cung cấp những luận cứ khoa học về
TN, MT, bảo vệ TN, MT và PTBV đã được công bố.
Cuốn sách Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững của tác giả Lưu
Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh [92], đã hệ thống khái quát lý thuyết PTBV và
luận giải những vấn đề cơ bản về quản lý môi trường cho sự PTBV. Trên cơ sở
lý thuyết chung về PTBV, nhóm tác giả đã dành nửa dung lượng còn lại (từ
tr.183 - 335) của cuốn sách để trình bày những vấn đề về quản lý môi trường cho
sự PTBV như: Khái niệm, mục tiêu, phương pháp, nguyên tắc, nội dung, đánh
giá, quy hoạch môi trường, các công cụ pháp luật, công cụ kinh tế trong quản lý
môi trường cho sự PTBV. Nhóm tác giả cũng đã đề cập đến quan điểm của
Đảng về BVMT trong Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị, ngày 25/6/1998
“Về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước” (tr.180, 181). Tuy nhiên, nhóm tác giả mới chỉ dừng lại
ở chỗ nêu mục tiêu, quan điểm và các giải pháp chính của Chỉ thị số 36 để luận
giải cho vấn đề nghiên cứu của công trình mà chưa đi vào phân tích, luận giải
chủ trương của Đảng về BVMT.
phải xây dựng hoàn chỉnh hệ thống tổ chức quản lý môi trường từ trung ương
đến các địa phương, cơ sở sản xuất. Cơ quan quản lý môi trường phải phối hợp
Luận án đủ ở file: Luận án full