Nghiên cứu đối chiếu phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng hàn và tiếng việt ( Luận án tiến sĩ) - Pdf 49

NGHIÊM THỊ THU HƢƠNG

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGHIÊM THỊ THU HƢƠNG

CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC ỨNG DỤNG

NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN
THỜI GIAN TRONG TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

KHÓA 2009

HÀ NỘI - năm 2014


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGHIÊM THỊ THU HƢƠNG

NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN
THỜI GIAN TRONG TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC ỨNG DỤNG
Mã số: 62 22 01 05

2.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4

3.

Lịch sử vấn đề

5

3.1 Phạm trù “thời” và “thể” trong các nghiên cứu ngôn ngữ học

5

3.2 Phạm trù “thời” và “thể” trong các nghiên cứu ứng dụng giảng dạy
tiếng Hàn

10

4.

Phƣơng pháp và thủ pháp nghiên cứu

12

5.

Đối tƣợng, phạm vi và cứ liệu nghiên cứu


20

1.1.3 Vấn đề thời và thể trong tiếng Hàn và tiếng Việt

22

1.2 Các phạm trù ngữ pháp liên quan đến thời gian

27

1.2.1 Về phạm trù “thời”

27

1.2.2 Về phạm trù “thể”

29

1.3 Vấn đề thời gian ngữ pháp trong tiếng Hàn và tiếng Việt

31

1.3.1 Thời gian ngữ pháp trong tiếng Hàn

31

1.3.2 Thời gian ngữ pháp trong tiếng Việt

34


2.3 Các hình thái tố chỉ thể

73

2.3.1 Vấn đề các hình thái tố chỉ thể

73

2.3.2 Thể hoàn thành

75

2.3.3 Thể tiếp diễn

76

2.3.4 Thể dự đoán

78

2.4 Tiểu kết chƣơng 2

78

CHƢƠNG 3: ĐỐI CHIẾU PHƢƠNG THỨC DIỄN ĐẠT Ý
NGHĨA THỜI GIAN TRONG TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT

79


tiếng Việt : Khảo sát trƣờng hợp

87

3.3.1 Sự khác biệt về đặc điểm loại hình giữa tiếng Hàn và tiếng
Việt liên quan đến khảo sát

87

3.3.2 Đối chiếu cách dịch thời quá khứ, hiện tại, tƣơng lai trong
tiếng Hàn sang tiếng Việt và ngƣợc lại

89


3.4 Một số kết quả đối chiếu

102

3.4.1 Ở thời quá khứ

102

3.4.2 Ở thời hiện tại

105

3.4.3 Ở thời tƣơng lai

108


4.4 Khái quát kết quả phân tích các nhóm lỗi

120

4.4.1 Nhóm lỗi do lƣợc bỏ hình thái tố thời gian

120

4.4.2 Nhóm lỗi do dùng thừa hình thái tố thời gian

124

4.4.3 Nhóm lỗi do dùng lẫn lộn các hình thái tố

127

4.4.4 Nhóm lỗi do đặc trƣng của tiếng Hàn

128

4.5 Đề xuất phƣơng pháp dạy và học phƣơng thức biểu thị thời
gian trong tiếng Hàn cho ngƣời Việt

132

4.5.1 Vấn đề nội dung giảng dạy

132


~었 / ʌt /

~었었 / ʌt ʌt /

~더 / tʌ /

~는 / nɯn /

~ ㄴ/ n /

~ㄹ/l/

~ 겠 / ki ʌt /

~ㄹ 것 / l k ʌt /

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
HT: Hiện tại

QK: Quá khứ

ST: Sự tình

STQK :Sự tình quá khứ

TL: Tƣơng lai

Ký hiệu * : Dùng để biểu thị câu đang xét là câu sai ngữ pháp.
Ký hiệu ##: Dùng để biểu thị ở vị trí đó đáng lẽ xuất hiện hình thái tố chỉ thời
nhƣng thực tế trong câu đang xét là không có.


Biểu: Chuyển từ hiện tại tiếng Hàn sang “đang” tiếng Việt

Trang 99

Biểu: Chuyển từ tƣơng lai tiếng Hàn sang “sẽ”, “sắp” tiếng Việt

Trang 101


1

MỞ ĐẦU

1.

LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
1) Cùng với không gian làm trục hoành, thời gian làm trục tung trên tọa độ

trong đời sống của con ngƣời mọi ngôn ngữ đều có các phạm trù không gian, thời
gian và những phƣơng tiện biểu hiện tƣơng ứng. Đó có thể là phƣơng tiện từ vựng
hoặc phƣơng tiện ngữ pháp. Có thể nói ngôn ngữ nào cũng sử dụng một lớp từ vựng
nhằm định vị không gian và thời gian trong các tình huống giao tiếp. Đây là một
điểm chung của các ngôn ngữ. Yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa chúng là phƣơng
thức sử dụng các phƣơng tiện ngôn ngữ sẵn có trong chức năng biểu thị không gian,
và thời gian. Thực vậy có ngôn ngữ ƣu tiên các phƣơng tiện từ vựng, ít sử dụng các
yếu tố khác. Ngƣợc lại có ngôn ngữ khai thác tối đa các hình thái động từ, hoặc các
hình thái tố kết hợp với vị từ để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp liên quan đến thời
gian một cách rất tinh tế. Hiện tƣợng này bắt nguồn từ sự khác biệt trong tri nhận về
thời gian, từ đặc điểm tƣ duy và từ văn hoá giao tiếp của các dân tộc. Tiếng Hàn và

ngôn ngữ, để từ đó xác định những chiến lƣợc sƣ phạm phù hợp, nhằm tạo thuận lợi
cho quá trình tiếp thu ngoại ngữ của ngƣời học nói chung và của sinh viên tiếng
Hàn nói riêng. Những công trình nghiên cứu ngôn ngữ đối chiếu hƣớng đến những
ứng dụng vào dạy và học ngoại ngữ nhƣ vậy là rất cần thiết.
3) Trƣớc xu hƣớng hợp tác quốc tế nói chung và giao lƣu giữa hai nƣớc Việt
Nam – Hàn Quốc nói riêng, nhu cầu học tập và nghiên cứu ngoại ngữ tiếng Hàn
đang tăngcao. Hơn bao giờ hết giảng viên và sinh viên cần đƣợc tham khảo những
công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng trong học tập và nghiên cứu tiếng Hàn.
Hiện nay, ở Việt Nam đã có 11 trƣờng Đại học tổ chức đào tạo, giảng dạy ngôn ngữ
và văn hóa Hàn Quốc, ở Hàn quốc cũng có 5 trƣờng đại học thành lập khoa tiếng
Việt và tổ chức giảng dạy ngành Việt ngữ học. Những năm đầu, hàng năm, cả nƣớc
chỉ có 100 sinh viên ngành tiếng Hàn đƣợc tuyển vào hệ đào tạo chính quy thì giờ
đây, số lƣợng sinh viên chính quy mỗi năm đã tăng lên đến gần 1.000 ngƣời. Sinh
viên ngành tiếng Hàn ở các trƣờng đào tạo chính quy khi tốt nghiệp ra trƣờng đều
tìm đƣợc việc làm theo đúng chuyên môn đƣợc đào tạo.


3

“Hàn Quốc” và “tiếng Hàn Quốc” đã trở thành những cụm từ quen thuộc với
ngƣời dân Việt Nam. Đầu tƣ của Hàn Quốc tại Việt Nam tiếp tục đƣợc mở rộng.
Theo số liệu thống kê của Cục xúc tiến thƣơng mại, hiện nay Hàn Quốc đang là
quốc gia dẫn đầu trong đầu về số lƣợng dự án đầu tƣ vào Việt Nam (với 3250 dự
án) và là quốc gia đứng thứ tƣ về tổng số vốn đầu tƣ. Việt Nam cũng là quốc gia
đứng thứ nhất trong số các quốc gia tiếp nhận viện trợ phát triển (ODA) của Hàn
Quốc. Giao lƣu giữa nhân dân hai nƣớc Hàn-Việt cũng phát triển dƣới nhiều hình
thức đa dạng. Theo số liệu thống kê tính đến tháng 12 năm 2012 thì có khoảng
100.000 ngƣời Hàn Quốc đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam (tại thành phố
Hồ Chí Minh và lân cận là 85 nghìn ngƣời, tại Hà Nội và vùng ngoại vi khoảng 15
nghìn ngƣời). Ngƣợc lại, cũng có 120.468 ngƣời Việt Nam đang sinh sống và làm

chung và trên bình diện ứng dụng vào giảng dạy tiếng Hàn nói riêng.
2.

MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án này là thông qua nghiên cứu theo hƣớng đối chiếu phƣơng

thức biểu thị thời gian trong tiếng Hàn và Việt, góp phần làm sáng tỏ đặc điểm của
phƣơng thức biểu hiện thời gian trong các ngôn ngữ đối chiếu trong chức năng phản
ánh đặc trƣng tƣ duy văn hóa dân tộc.
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận án đặt ra và thực hiện các nhiệm vụ sau.
2.2 Nhiệm vụ của luận án
1) Phân tích, hệ thống hóa cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu.
2) Tổng quan tình hình nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và
tiếng Việt.
3) Tập trung khảo sát một trong những phƣơng thức biểu hiện thời gian là thời
và thể động từ trong tiếng Hàn và đối chiếu với tiếng Việt nhằm chỉ ra những tƣơng
đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.
4) Đề xuất một số ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy thời và thể
động từ tiếng Hàn cho sinh viên Việt Nam trên cơ sở phân tích lỗi sử dụng động từ
của sinh viên và đề xuất phƣơng pháp khắc phục.


5

3.

LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

3.1 Phạm trù “thời” và “thể” trong các nghiên cứu ngôn ngữ học

một giá trị biểu thị. Ví dụ: bối cảnh, tình huống, logic thoại, logic văn mạch .v.v.


6

-

Xu hƣớng thứ hai chịu ảnh hƣởng của ngôn ngữ học phƣơng Tây, bắt đầu từ sau
năm 1970, khi các nhà truyền giáo đến Hàn Quốc, mang theo các kết quả nghiên
cứu ngôn ngữ học lý thuyết của châu Âu.
Cho đến nay các nhà nghiên cứu thuộc hai xu hƣớng khởi nguồn này vẫn còn

nhiều ý kiến trái ngƣợc nhau do dựa vào cơ sở lý thuyết và áp dụng phƣơng pháp
tiếp cận khác nhau. Điều này chứng tỏ phạm trù “thời” trong tiếng Hàn là một phạm
trù phức tạp, đòi hỏi phải thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu.
Những nghiên cứu sớm nhất về “thời” trong tiếng Hàn là của Choi Kwang Ok
(1908), và Chu Si Kyung (1910). Ngay từ đầu thế kỉ 20, các tác giả đã đặt ra những
vấn đề nghiên cứu tạo tiền đề cho nhiều nghiên cứu khác.
Cụ thể, Choi Kwang Ok (1908) cho rằng trong tiếng Hàn có sự tồn tại của thời
“quá khứ của quá khứ”. Chu Si Kyung (1910) chia thời gian thành ba “thời”: hiện
tại (lúc này), quá khứ (thời điểm đã qua) và tƣơng lai (thời điểm sẽ đến) đƣợc biểu
hiện bằng cả biểu thức liên kết (hình thái tố liên kết câu) và biểu thức kết thúc (hình
thái tố kết thúc câu). Trong nghiên cứu của mình, tác giả Chu Si Kyung đã dựa vào
tiêu chí thời điểm phát ngôn (lúc này/khi đó) để phân chia và mô tả ba thời nêu trên.
Tuy nhiên ông cũng thay đổi quan điểm về thời điểm của hành động, và cho rằng về
bản chất “thể” đã chứa đựng các yếu tố biểu hiện “thời”. Nhƣ vậy tác giả đã không
tách rời hai phạm trù “thời” và “thể”. Vì thế có thể coi nghiên cứu của ông là khởi
điểm cho xu hƣớng nhận thức “thời-thể” là một phạm trù phức hợp trong tiếng Hàn.
Ngoài ra, Chu Si Kyung cũng cho rằng hình thái tố ~ 겠 có giá trị biểu thị tƣơng lai,
và đây là giá trị nội tại của hình thái tố này, không phải nhờ đến các yếu tố khác

với các luận điểm của ngôn ngữ học châu Âu. Ngoài ra, các hình thái tố biểu hiện
“thời” trong tiếng Hàn cũng đƣợc nghiên cứu theo mô hình khung thời gian ngữ
pháp của các ngôn ngữ châu Âu.
Tiếp thu những thành quả nghiên cứu có trƣớc mà chủ yếu là các công trình coi
“thời” là trọng tâm, ở thời kỳ này, các tác giả đã xem xét lại các hình thức biểu hiện
thời gian trong tiếng Hàn và nhƣ các công trình nghiên cứu trƣớc đó công nhận hình
thái tố là đa trị, vì ngoài chức năng biểu đạt “thời” nó còn có giá trị biểu đạt “thể”
và “tình thái”. Nhìn tổng thể, giai đoạn sau 1970, các nghiên cứu về “thời” trong
tiếng Hàn đều tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Thứ nhất: xem xét lại quan điểm về “thời”,


8

- Thứ hai: nhận diện lại các giá trị về “thể”,
- Thứ ba là xác định giá trị tình thái trong các cấu trúc câu, và các loại câu.
Từ đó hình thành ba nhóm nghiên cứu chính là:
- Nhóm 1: Theo quan điểm hình thái tố biểu thị thời hoặc thể, tình thái là những đơn
vị độc lập. Đây là các nghiên cứu chủ trƣơng áp dụng phƣơng pháp phân tích theo
các phạm trù ngữ pháp truyền thống.
- Nhóm 2: Cho rằng hình thái tố có thể có chức năng kép, vừa biểu hiện thời vừa
biểu hiện thể, nói cách khác, một hình thái tố đồng thời biểu hiện ý nghĩa thời” và ý
nghĩa “thể”. Đại diện tiêu biểu của xu hƣớng này là Nam Ki Sim.
-Khác với hai nhóm trên, nhóm 3 bảo vệ quan điểm một hình thái tố đồng thời có
thể biểu thị cả thời, thể và tình thái. Đại diện của xu hƣớng này là Kim Seok Tuk
(1974) và Seo Jeong Soo (1976).
Sau đây chúng ta sẽ xem xét vấn đề này ở tiếng Việt. Có thể dễ dàng tìm thấy
nhiều khuynh hƣớng khác nhau trong tiếp cận và nghiên cứu về vấn đề thời và thể.
Xét theo thời gian, có thể xác định các khuynh hƣớng sau.
Thứ nhất: những nghiên cứu về phạm trù thời gian trong tiếng Việt đƣợc thực

thành/phi hoàn thành .v.v.) [39:9]

-

Thời là phạm trù độc lập hay là phạm trù gắn với phạm trù thể và tình thái ? Trả
lời câu hỏi này, Đinh Văn Đức (2001) cho rằng tiếng Việt có thời mà không có
thể. Ngƣợc lại các tác giả Cao Xuân Hạo (1998), Phan Thị Minh Thuý (2002),
nhận định rằng tiếng Việt không tồn tại thời và chỉ tồn tại thể.

-

Thời trong tiếng Việt đƣợc chia thành 1 thời, 2 thời hay 3 thời? Vấn đề này đƣợc
nêu trong các nghiên cứu của các tác giả Đào Thản (1979), Lê Quang Thiêm
(1989), Nguyễn Minh Thuyết (1995).
Cũng có nhiều ý kiến khác nhau thảo luận về giá trị ngữ pháp-ngữ nghĩa của các

từ đã, đang, sẽ chỉ thời gian trong tiếng Việt. Theo Nguyễn Văn Thành: các từ đã,
đang, sẽ, xong, hết, được, nổi, .v.v đóng vai trò rất quan trọng trong cấu trúc ngữ
pháp tiếng Việt bởi chúng tạo nên những cấu trúc đối lập về thời gian của một hành
động [35:52]. Quan điểm của Cao Xuân Hạo (1998), Nguyễn Thị Quy (1995) rất
đáng chú ý khi các tác giả cho rằng các từ đã, đang, sẽ là vị từ trung tâm, vị từ tình
thái. Theo một số tác giả khác nhƣ Nguyễn Kim Thản (1977), hay Diệp Quang Ban
(2000), các từ nêu trên là những từ chỉ thời, thể, ngoài ý nghĩa thời gian, chúng còn
biểu hiện thể tiếp diễn hoặc thể hoàn thành. Khác với những ý kiến trên có tác giả
cho rằng đây là những phó động từ với chức năng làm trợ từ cho các động, tính từ
trung tâm nhƣ Nguyễn Kim Thản (1977), hay Diệp Quang Ban (2000); hoặc xếp
chúng vào lớp từ đặc biệt nhƣ Bùi Đức Tịnh (2003). Trong công trình của mình,


10


11

Hàn Quốc, chuyên gia về lí luận giảng dạy tiếng Hàn nhƣ một ngoại ngữ nhƣ
Morimoto Kachuhiko (2002), Song Bi Rak (2005).
Theo Kim Jea Joen (2003), cần phải thay đổi phƣơng pháp mô tả ngữ pháp
tiếng Hàn nói chung và trình bày vấn đề biểu hiện thời gian của tiếng Hàn nói riêng
trong sách giáo khoa dạy tiếng Hàn cho ngƣời nƣớc ngoài. Cụ thể là thay vì áp đặt
ngay quan điểm coi những biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn là “một phạm trù ngữ
pháp” cần từng bƣớc nêu và giải quyết vấn đề. Điều này có nghĩa việc giảng dạy
các hình thái tố biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn phải chia thành hai giai đoạn.
Giai đoạn một có nhiệm vụ cung cấp cho ngƣời học những khái niệm cơ bản liên
quan đến thời quá khứ, hiện tại, tƣơng lai đơn đƣợc biểu thị bởi các hình thái tố
tƣơng ứng. Giai đoạn hai nhằm mục tiêu phân tích những giới hạn cụ thể, những
ngoại lệ của từng trƣờng hợp sử dụng các hình thái tố đã trình bày ở giai đoạn một,
đồng thời hệ thống hoá cách dùng các hình thái tố, chỉ ra những trƣờng hợp ngoại
lệ, bất quy tắc. Có thể nói tác giả đã chỉ ra một cách chính xác những hạn chế trong
quá trình giảng dạy và đã đề xuất phƣơng pháp khắc phục những hạn chế đó một
cách hợp lý là mô hình hóa về mặt lý thuyết. Tuy nhiên, đề xuất này của Kim Jea
Joen (2003) vẫn chƣa đƣợc áp dụng trong việc cải tiến các chƣơng trình sách giáo
khoa giảng dạy tiếng Hàn cho ngƣời nƣớc ngoài và lý thuyết của ông không đƣợc
tất cả các nhà nghiên cứu đồng tình do thiếu tính khả thi. Nói cách khác, thực tiễn
giảng dạy cho thấy ý định lý thuyết hóa ngữ pháp là điều không dễ dàng thực hiện.
Xem xét các công trình nghiên cứu phân tích lỗi của ngƣời nƣớc ngoài học
tiếng Hàn, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã chỉ ra đƣợc nguyên nhân mắc lỗi bắt
nguồn từ các yếu tố chính nhƣ: ảnh hƣởng của tiếng mẹ đẻ đối với quá trình tiếp thu
ngoại ngữ, khả năng vận dụng các biểu thức ngôn ngữ, phƣơng tiện biểu đạt đặc thù
của ngoại ngữ, yếu tố về môi trƣờng và sách giáo khoa v.v. Ở lĩnh vực này, Lee
Jeong Hee (2001), (2002), (2003) đã thực hiện một số điều tra và cho thấy sinh viên
ngƣời Nhật Bản mà tiếng mẹ đẻ thuộc cùng loại hình ngôn ngữ với tiếng Hàn Quốc


PHƢƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU
Những phƣơng pháp nghiên cứu chính đƣợc sử dụng trong luận án này là:

a. Phƣơng pháp miêu tả: áp dụng cho việc mô tả những biểu hiện thời gian trong
tiếng Hàn trên bình diện đặc trƣng hình thái, cấu trúc, và ý nghĩa.


13

b. Phƣơng pháp đối chiếu: chúng tôi xác định mẫu số chung cho cả hai ngôn ngữ
Hàn-Việt dùng làm căn cứ đối chiếu là những hình thức biểu hiện thời gian trong
hai ngôn ngữ này. Từ điểm nhìn này, chúng tôi sẽ xem xét, phân tích các phƣơng
tiện biểu hiện thời gian mà hai ngôn ngữ sử dụng để phát biểu về sự tƣơng đồng hay
khác biệt giữa chúng. Nhƣ vậy các bƣớc đối chiếu mà chúng tôi sẽ thực hiện gồm:
- Bƣớc 1: Phân tích đối chiếu các phƣơng tiện biểu hiện thời gian trong hai hệ thống
ngôn ngữ, đặc biệt là các phạm trù thời và thể.
- Bƣớc 2: Kiểm chứng các kết quả đối chiếu đã thu đƣợc trên bình diện hệ thống
ngôn ngữ bằng cách phân tích các bản dịch song ngữ Hàn- Việt và Việt-Hàn, để
khẳng định hoặc xem xét lại các giá trị ý nghĩa ngữ pháp của các hình thái tố biểu
thị thời gian từ góc độ ngôn ngữ sử dụng thực tế.
- Bƣớc 3: Phân tích các lỗi về dùng thời thể động từ tiếng Hàn mà học viên Việt
Nam thƣờng mắc từ nguồn dữ liệu thực tế là bài viết bằng tiếng Hàn của sinh viên,
nhằm một lần nữa khẳng định sự khác biệt cơ bản giữa hai ngôn ngữ và những khó
khăn mà sự khác biệt này gây ra cho ngƣời học, từ đó giúp cho các nhà giáo học
pháp ngoại ngữ xác định đƣợc một chiến lƣợc sƣ phạm phù hợp
Ngoài ra, luận án cũng sử dụng một số thủ pháp khác nhƣ thống kê trong quá trình
khảo sát lỗi và khái quát các nhóm lỗi, phân tích định tính, phân tích định lƣợng các
dữ liệu thu thập đƣợc từ bản dịch song ngữ và bài viết của sinh viên Việt Nam. .
5.

không gây khó khăn lớn cho ngƣời học tiếng Hàn. Vì vậy chúng tôi chỉ nghiên cứu
các phƣơng tiện ngữ pháp.
Đó là lý do vì sao một nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và đối
chiếu với tiếng Việt lại tập trung chủ yếu vào các phạm trù thời và thể.
Ngoài ra, nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy, cụ thể là cải
tiến nội dung ngữ pháp học đƣờng, nghiên cứu của chúng tôi không thực hiện theo
đƣờng hƣớng ngôn ngữ học tri nhận, loại trừ các yếu tố khả biến nhƣ ngữ dụng, ngữ
cảnh mà chỉ xem xét các giá trị ổn định là cú pháp và ngữ nghĩa.
Về cứ liệu, nguồn cứ liệu phục vụ cho nghiên cứu này đƣợc thu thập từ:
- Các công trình nghiên cứu về Việt ngữ học và Hàn ngữ học.
- Các tài liệu tiếng Hàn trích từ báo chí, tác phẩm văn học Hàn quốc có văn phong
chuẩn mực.


15

- Một số bản dịch song ngữ Hàn – Việt và Việt – Hàn.
- Bản dịch tiếng Hàn cuốn tiểu thuyết “Cánh đồng bất tận” của nhà văn
Nguyễn Ngọc Tƣ, dịch giả Ha Jae Hong, Nhà xuất bản Dongso, xuất bản
tháng 5 năm 2008.
- Bản dịch tiếng Việt tiểu thuyết “Ngƣời ăn chay” của tác giả Hang Kang
(Hàn Quốc), ngƣời dịch Hoàng Hải Vân, Nhà xuất bản Trẻ, xuất bản tháng 1
năm 2011.
Đây là một sự lựa chọn ngẫu nhiên với đề tài nghiên cứu. Bởi trƣớc khi tiến
hành khảo sát nguồn cứ liệu này chúng tôi đã không thử khảo sát ở bất cứ tài liệu
nào tƣơng tự.
- Các tƣ liệu khảo sát, quan sát của cá nhân nghiên cứu sinh.
- Một số lƣợng lớn bài viết luận bằng tiếng Hàn của sinh viên Việt Nam.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Những đóng góp quan trọng nhất của luận án này là:

16

phƣơng tiện biểu hiện thời gian tiếng Hàn. Trên cơ sở phân tích, khái quát hóa
các nhóm lỗi một cách hệ thống, và chỉ ra phƣơng pháp khắc phục, luận án đã đề
xuất một chiến lƣợc sƣ phạm phù hợp với đối tƣợng sinh viên chuyên ngữ.

7.

CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 171 trang, trong đó có 148 trang chính văn, 21 trang phụ lục và

danh mục tham khảo. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 4 chƣơng.
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của luận án
Trong chƣơng này chúng tôi đề cập đến những vấn đề có tính lí luận căn bản về
phƣơng thức biểu hiện thời gian trong ngôn ngữ, cụ thể là vấn đề thời gian ngữ
pháp. Liên quan đến phƣơng tiện ngữ pháp biểu hiện thời gian chúng tôi tiến hành
xem xét lại vấn đề phạm trù “thời” và phạm trù “thể” trong ngôn ngữ nói chung và
trong hai ngôn ngữ Hàn- Việt nói riêng.
Chƣơng 2: Phƣơng thức biểu đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn
Trong giới hạn đối tƣợng nghiên cứu, chƣơng này tập trung trình bày các hình
thái tố ngữ pháp chỉ thời gian trong tiếng Hàn dƣới các biểu thức kết thúc câu, biểu
thức liên kết câu và biểu thức định từ đồng thời đề cập đến các vấn đề về hình thái
tố chỉ thể trong tiếng Hàn.
Chƣơng 3: Đối chiếu phƣơng thức diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn và
tiếng Việt
Ở chƣơng này kế thừa thành quả nghiên cứu về Việt ngữ học của các tác giả đi
trƣớc chúng tôi nêu ra một số vấn đề chung trong phƣơng thức diễn đạt ý nghĩa thời
gian trong tiếng Việt và xem xét những giá trị ổn định của các hƣ từ đã, đang, sẽ
trong chức năng biểu đạt ý nghĩa thời gian. Sau đó, căn cứ vào sự khác biệt về đặc
điểm loại hình giữa tiếng Hàn và tiếng Việt chúng tôi tiến hành đối chiếu cách dịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status