PHÒNG GD&ĐT TAM NÔNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC AN LONG A
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________________
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2017- 2018
Tên SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG, RÈN LUYỆN NĂNG
LỰC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 1.
Tác giả: Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Chức vụ: Giáo viên dạy lớp 1
Đơn vị: Trường Tiểu học An Long A, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
I. Thực trạng và nguyên nhân:
1.Thực trạng:
Mặt mạnh:
- Được Ban giám hiệu quan tâm, mở các chuyên đề về giải toán có lời văn.
- Cơ sở vật chất đảm bảo cho dạy và học lớp 1 (2 buổi/ ngày).
- Gia đình luôn quan tâm, động viên học sinh học tập. Một số phụ huynh có trình
độ, biết cách giáo dục con cái.
- Bản thân nhiều năm dạy lớp 1.
- Chương trình giới thiệu cho HS làm quen với dạng toán từ dễ đến khó, từ dạng
toán nhìn hình vẽ điền số đến dạng toán có lời văn hoàn chỉnh.
Hạn chế:
- Nhiều giáo viên gặp khó khăn khi dạy đến phần giải toán có lời văn.
- Học sinh còn rất lúng túng khi học dạng bài này.
- Nhiều học sinh còn nêu sai câu lời giải, chưa biết cách xác định phép tính của bài
toán, cách trình bày bài giải chưa chính xác.
- Một số học sinh ý thức học chưa cao, chưa chú ý trong việc học toán.
1. Giải pháp thực hiện:
Nội dung một số biện pháp bồi dưỡng, rèn luyện năng lực giải Toán có lời
văn lớp 1 gồm các giải pháp:
- Biểu thị tình cảm và thái độ của giáo viên khi bồi dưỡng , rèn luyện năng
lực học sinh lớp 1 giải giỏi các loại toán 1 có lời văn;
- Chuẩn bị từ xa cho việc học giải toán;
- Hướng dẫn, nêu cách trình bày cho học sinh lớp 1 luyện tập khi giải các
bài tập môn Toán theo các chủ đề của môn Toán 1.
- Kiểm tra kỹ năng lớp 1 giải toán có lời văn
Giải pháp 1: Biểu thị tình cảm và thái độ của giáo viên khi dạy học sinh
lớp 1 học môn Toán.
- Luôn gần gũi, vui vẻ và hết lòng thương yêu các em học sinh lớp 1.
+ Nếu các em có nói sai thì cũng không sao; chớ bực tức, la mắng, quát tháo
làm cho trẻ sợ. Bởi vì nếu sợ thì trẻ không thể suy nghĩ, suy luận gì được. Giáo
2
viên cứ từ từ, đừng nôn nóng vội vã hãy tìm cách giải quyết. Nói cách khác, giáo
viên duy trì cho được một không khí học tập thoải mái, dễ chịu, vui tươi, cần hết
sức tránh gây căng thẳng, sợ hãi cho trẻ.
Trước khi dạy trẻ học, giáo viên cần lưu ý:
- Để cho cả giáo viên lẫn trẻ có được một tâm thế thoải mái, giáo viên không
dạy các em khi:
+ Các em đang bị lôi cuốn vào một thú vui hoặc trò giải trí nào đó;
+ Các em đang buồn ngủ hoặc quá mệt mỏi;
+ Bản thân mình còn lo lắng, bực tức hoặc vội vàng vì cần sắp đặt hay làm
ngay một việc nào đó.
- Mỗi khi giáo viên giao một bài tập hoặc nêu một câu hỏi thì giáo viên nên
dành thời gian cho các em suy nghĩ để tự giải hoặc để tự các em trả lời. Không nên
toán có lời văn.
* Chuẩn bị từ xa cho việc học giải toán:
Mặc dù đến giữa học kì II học sinh mới dược học giải toán song ngay từ
tuần 7 ở học kì I, sách giáo khoa dã ngầm chuẩn bị từ xa các tiền đề dể học sinh
giải toán có lời văn sau này;
Ở đây sau các bài tập “ Nhìn tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống”
giáo viên cần đặt thêm cho học sinh những câu hỏi các em trả lời miệng. ví dụ:
Từ bức tranh” 3 con chim trên cành, 1 con chim bay tới” ở trang 47 SGK,
sau khi trẻ điền được phép tính vào dãy ô trống:
3
+
1
=
4
Giáo viên nên hỏi tiếp “ Vậy có tất cả mấy con chim?” để học sinh trả lời
miệng: “có tất cả 4 con chim” hoặc “ số chim có tất cả là bao nhiêu?” ( số chim có
tất cả là 4 con)…
Cứ làm như vậy nhiều lần, học sinh sẽ quen dần với cách viết phép tính và
nêu lời giải bằng miệng. Do đó, các em sẽ dễ dàng viết được các câu lời giải sau
này
Giải pháp 3 : - Hướng dẫn, nêu cách trình bày cho học sinh lớp 1 luyện
tập khi giải các bài tập môn Toán theo các chủ đề của môn Toán 1.
a.Cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán:
Giáo viên cần cho học sinh đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khóa quan
trọng như “ thêm, và, tất cả…” hoặc “bớt, bay đi, ăn mất, còn lại…”, nếu học sinh
Tóm tắt:
Có:
6 bạn
Thêm: 3 bạn
Có tất cả:… bạn?
5
Sau đó cho học sinh nhìn vào tóm tắt rồi nêu lại đề toán (không được đọc đề
ở sách giáo khoa).
Lưu ý: việc tóm tắt đề toán như trên chỉ là một cách để giúp các em tìm hiểu
kỹ đề toán; các em có thể làm nháp, không cần phải viết vào bài giải.
c.Cách giúp học sinh lựa chọn phép tính giải:
Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải
tìm, chẳng hạn: với bài toán ở trang 117, thầy cô có thể hỏi:
Bài toán cho gì? (nhà An có 5 con gà)
Còn cho gì nữa? (mẹ mua thêm 4 con gà)
Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)
Giáo viên nêu tiếp: “muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em làm phép
tính gì?” (tính cộng). Mấy cộng mấy? (5 + 4); 5 + 4 bằng mấy? (5 + 4 = 9); hoặc”
Nhà An có tất cả mấy con gà?”(9). Em tính như thế nào để được 9? (5 + 4 = 9).
Tới đây giáo viên gợi ý để các em nêu tiếp” 9 này là 9 con gà”, nên ta viết “ con
gà” vào trong dấu ngoặc đơn:
5 + 4 = 9 (con gà)
Giáo viên lưu ý học sinh:
- Với phép tính giải thì đơn vị viết trong dấu ngoặc;
- Với đáp số thì không cần viết đơn vị trong dấu ngoặc nữa.
a/. Giáo viên cần khuyến khích các em tự nêu được nhiều câu lời giải khác
nhau, sau đó tìm câu thích hợp nhất. Không nên bắt buộc các em nhất thiết phải
viết theo một kiểu. Chẳng hạn, với bài toán: “An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả
bóng. Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?”, Có thể đặt rất nhiều câu lời giải khác
nhau như:
Cả hai bạn có:…
Hai bạn có:……
An và Bình có:….
Số bóng tất cả là:……
b/. Khi giáo viên tự nêu ra đề toán cho các em làm cần chú ý:
Hạn chế dùng từ khó hoặc tiếng khó trong đề toán như: thuyền ,quyển,
quỳnh…tăng cường các vần và tiếng dễ đọc, dễ viết như: cam. gà, lan…trong các
đề toán.
7
Lựa chọn câu hỏi trong đề toán sao cho các em chỉ cần chỉnh sửa một chút
xíu thôi là được ngay câu lời giải.
c/. Ở lớp 1 chỉ có 4 loại toán đố. Sau đây là ví dụ và cách trình bày bài giải.
Loại 1: (thêm)
7 con chim đậu trên cành.Có 3 con chim bay đến. Hỏi có tất cả mấy con
chim?
Bài giải
Số chim có tất cả là:
7 + 3 = 10 (con)
Đáp số: 10 con chim
Loại 2: (gộp)
Trong hộp có 12 bút xanh và 5 bút đỏ. Hỏi hộp đó có tất cả bao nhiêu cái
2. Viết phép tính thích hợp:
3. Viết phép tính thích hợp:
9
4. Viết phép tính thích hợp:
Đã có:
8 cây
Trồng thêm: 2 cây
Có tất cả:…….cây?
5. Viết phép tính thích hợp:
Đã có:
8 viên bi
Cho:
2 viên bi
Còn lại:…….viên bi?
6. Lan có 5 cái nơ. Mẹ cho Lan thêm 4 cái nơ. Hỏi Lan có tất cả mấy cái
nơ?
Bài giải
…………………………………………………………….
…………………………………………………………….
1. Hiệu quả:
- Khi giải toán, học sinh thực hiện tốt: Nhận dạng được các đề toán thuộc
các loại dạng toán vừa theo bốn loại nêu trên;
- Các em đọc kỹ đề toán, suy nghĩ giải toán một cách độc lập;
- Các em thoát li khỏi những chỉ dẫn của Thầy (Cô);
- Từng bước tiếp cận với các đề toán;
- Quen thuộc với cách giải các bài toán;
- Biết diễn đạt đề bài và lời giải bài toán bằng lời rõ ràng, mạch lạc;
- Chọn được phép tính thích hợp với bài giải toán;
- Có nhiều cách diễn đạt từ một tình huống của bài toán;
- Học sinh được luyện kĩ, hiểu kĩ bài toán đầy đủ, chính xác.
Sau khi tác động đề tài, tôi kiểm tra lại kết quả học tập của học sinh. Cụ thể như
sau:
Kỹ năng phát huy
Tích cực , chủ động
11
Giải toán với độ chính xác
Trước tác động
64,5 %
52,6 %
Sau tác động