HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO SINH VIÊN
Phòng quản lý NCKH và HTQT, ĐH Luật TP.HCM
Người gửi: TS. Lê Nết
Để phục vụ công tác NCKH cho sinh viên năm học này, chúng tôi xin nêu một số phương
pháp NCKH sau đây làm cơ sở tham khảo. Các quan điểm trình bày dựa trên kinh nghiệm
của người viết, vì thực sự chưa có qui định chính thức về phương pháp NCKH. Các sinh
viên có thể chọn phương pháp khác, sao cho phù hợp với mình, miễn là đề tài giải quyết
được mục tiêu đề ra và được nghiệm thu.
Chọn đề tài
Qua đề tài NCKH, người nghiên cứu sẽ hiểu hơn những vấn đề mình đã nhận thức, vận
dụng chúng như một công cụ để tìm những kiến thức mới hơn và truyền thụ những kiến
thức này cho thế hệ sau. Mặc dù việc nghiên cứu và thực hành luật pháp có những đặc thù
riêng, ví dụ mọi kiến thức truyền thụ phải thuộc những nội dung nhà nước cho phép, nhưng
tính phổ biến của lợi ích nghiên cứu khoa học thì không hề thay đổi.
Điều quan trọng số một của phương hướng nghiên cứu là phải có tính thực tiễn. Kết quả
nhiên cứu phải có địa chỉ ứng dụng. Để có một kết quả KHCN mới và có tính ứng dụng,
người làm NCKH nên chọn đề tài thực tế, đủ hẹp để đi sâu tìm tòi, khám phá. Có đào sâu
suy nghĩ mới tìm ra cái mới. Có đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện, sâu sắc
thì giải pháp đề xuất mới có tính ứng dụng. Thế nên, khi chọn đề tài, người dự định làm
NCKH nên định rõ cho mình câu trả lời, chỉ một câu trả lời, và bảo vệ được câu trả lời đó
trước những ý kiến phản biện. Không nên có quá nhiều câu trả lời.
Công đoạn đầu của một quá trình nghiên cứu là quan sát. Việc quan sát có thể tiến hành
thông qua đọc tài liệu của những người đi trước về lãnh vực mình quan tâm, đọc báo, quan
sát những gì xã hội đang hay sẽ quan tâm. Sau đó, thu hẹp phạm vi quan sát để tìm mục
tiêu nghiên cứu. Mục tiêu này được thể hiện qua tên đề tài.
Tên đề tài NCKH là do người làm NCKH tự chọn, và được Hội đồng xét duyệt đề tài
thông qua. Các danh mục đề tài của Khoa hay của Trường chỉ mang tính định hướng (trừ
đề tài cấp Nhà nước).
Tên đề tài luôn là một câu hỏi thường xuyên, xuyên suốt đề tài NCKH để tìm câu giải đáp.
Câu hỏi đấy phải là một câu hỏi có thực trong cuộc sống, đòi hỏi phải có câu trả lời ngay,
gọi là tính cấp thiết của đề tài. Vì vậy chúng ta nên xem mục III (danh mục các đề tài đã
của các học giả. Điều này cho phép người đọc có cái nhìn khách quan về vấn đề, không bị
ảnh hưởng bởi trường phái chủ đạo nào. Kết thúc nghiên cứu khi nhận thấy các tài liệu
nghiên cứu mình đọc bắt đầu có nội dung như nhau, có thể dự đoán được. Đó là lúc bắt
đầu viết NCKH. Điều cần tránh trong NCKH là thu thập tài liệu thiếu chiều sâu (quá ít tài
liệu từ một nguồn) hay thiếu chiều rộng (sử dụng quá ít nguồn tài liệu). Không ai phê phán
một người sử dụng “quá nhiều” tài liệu tham khảo.
Soạn đề cương
Thông thường, đề cương NCKH có thể bắt đầu bằng “cơ sở lý luận”, chương tiếp theo là
“thực trạng”, chương cuối cùng là “giải pháp”. Cách trình bày như vậy giúp người đọc
nắm vấn đề một cách có hệ thống. Tuy nhiên, điểm yếu của cách trình bày này là phần “cơ
sở lý luận” dễ trở nên quá dài và quá mỏng (nói quá ít thì thiếu hệ thống, nói quá nhiều thì
xa mục tiêu). Chương 1 của đề tài NCKH giống giáo trình hay bách khoa toàn thư hơn là
công trình chuyên khảo. Trong chương 2, phần thực trạng chỉ nêu được 1 vài vương mắc
trong số các lý luận đã trình bày ở chương 1 (như vậy một số cơ sở lý luận đã nêu trở nên
thừa). Vì thời gian và số chữ trong đề tài NCKH bị giới hạn, chương 3 (giải pháp) được
trình bày sơ sài, không đủ chỗ để chứng minh tại sao giải pháp nêu ra lại giải quyết được
vấn đề.
Vì thế, gần đây ở các nước như Anh, Mỹ đã xuất hiện phương pháp soạn đề cương mới –
đó là nêu thực trạng trước, lý luận sau. Do mục tiêu của báo cáo NCKH không phải là để
trình bày kiến thức, mà để giải quyết một vấn đề đang tranh cãi, điều đầu tiên người đọc
quan tâm sẽ là “cho tôi biết vấn đề ở đâu?”
Sau khi nhìn thấy vấn đề (thực trạng, chương 1), thì chương 2 mới bắt đầu phân tích các
qui định của pháp luật về vấn đề đang tranh cãi. Quá trình phân tích không thể chỉ mô tả
luật, mà phải giải thích nguồn gốc, nguyên nhân của các điều luật, ưu điểm và khuyết điểm
của các điều luật đó. Sau đó, tìm nguyên nhân tại sao các qui định hiện hành không giải
quyết được vấn đề đang tranh cãi.
Chương 3 đề ra giải pháp để khắc phục, giải thích tại sao chọn giải pháp này mà không
phải giải pháp khác, phân tích điểm mạnh, điểm yếu của giải pháp này, thu hẹp phạm vi áp
dụng của giải pháp và đề ra mục tiêu nghiên cứu trong những đề tài NCKH tiếp theo. Cách
trình bày này khiến người đọc đi ngay vào vấn đề và lôi cuốn ngay từ đầu. Nó cũng tiết
đề ra giải pháp, chứ không thể chỉ dừng ở nguyên nhân trực tiếp. Để sử dụng phép biện
chứng, cần đặt nghi vấn cho giải pháp mình đưa ra, tự mình phản biện mình, sau đó tự
mình bảo vệ giải pháp của mình chống lại những ý kiến phản biện. Vì bảo vệ một giải pháp
không hề đơn giản, nên không nên nêu quá ba giải pháp cho một đề tài NCKH (các giải
pháp khác nên dành cho người khác phân tích). Người đọc khó nhớ nổi nhiều hơn ba vấn
đề trong một đề tài.
Cách hành văn cần dùng ngôn ngữ viết trong luật, tránh dùng từ quá nặng như “lừa đảo,
kẻ, tên, bọn …” cho dù đó là ngôn ngữ dùng trên báo chí. Hạn chế sử dụng những ngôn từ
quá trang trọng hay nặng về tình cảm hơn lý trí như “nâng cao hiểu biết”, “đẩy mạnh công
tác”, “quán triệt”, “cực kỳ quan trọng”. Cách viết như vậy làm người đọc cảm thấy bài
NCKH không thuyết phục bằng lập luận mà bằng cảm tính. Làm NCKH khác với hô khẩu
hiệu. Tránh dùng những từ không rõ ràng như “có ý kiến cho rằng …” (phải nói ý kiến của
ai v.v.), hay thiếu tự tin: “có lẽ”, “có khả năng là” (trừ trường hợp thích hợp). Khi trích dẫn
phải đầy đủ theo thứ tự: tên, năm xuất bản, tên bài báo, số phát hành, số trang. Việc chú
thích tuỳ tiện dễ làm người đọc có cảm giác người viết NCKH không nghiêm túc với đề
tài.
Câu văn nên càng đơn giản, ngắn gọn càng tốt. Vì người đọc là hội đồng phản biện, họ
không cần phải chứng minh lại các quan điểm phổ biến. Tuy nhiên, các vấn đề khó hiểu
cần có dẫn chứng và phân tích.
Sau cùng, Samuelson(1) đưa ra một số qui tắc chung có thể khiến bài NCKH trở nên
hấp dẫn hơn, là:
1. Nên có phần mở đầu lôi cuốn (như phần đầu của một bản giao hưởng);
2. Các đề mục phải giới thiệu cụ thể nội dung chính của vấn đề sẽ trình bày;
3. Các vụ việc phải được phân tích dựa trên hoàn cảnh cụ thể;
4. Các vấn đề phân tích phải mở đầu bằng câu gây hứng thú cho người đọc;
5. Câu văn phải trôi chảy, sao cho người đọc tự cảm thấy câu sau là hệ quả hiển nhiên
của câu trước;
6. Không nên “biện chứng” một vấn đề đến vô cùng, nêu ra vấn đề tới đâu, giải quyết
tới đó bằng quan điểm của mình;