i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, công
trình đƣợc thực hiện trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2016. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực và chƣa đƣợc công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà nội, ngày 29 tháng 10 năm 2016
Ngƣời viết cam đoan
Phan Đặng Hoàng
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đƣợc luận văn này, tôi đã nhận đƣợc sự chỉ bảo, giúp đỡ rất
tận tình của TS. Nguyễn Văn Việt và TS. Trần Việt Hà. Cùng với sự giúp đỡ,
động viên của các thầy cô giáo trong khoa Lâm học, Phòng đào tạo Sau đại học
– Trƣờng Đại Học Lâm Nghiệp – Hà Nội, Hạt Kiểm lâm huyện Ba Chẽ, Trƣờng
Cao Đẳng Nông lâm Đông bắc – Quảng ninh.
Nhân dịp này cho phép tôi đƣợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc
tới TS. Nguyễn Văn Việt và TS. Trần Việt Hà, đã chỉ bảo, giúp đỡ tận tình trong
thời gian qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo, cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Ba
chẽ, Trƣờng Cao Đẳng Nông lâm Đông bắc – Quảng ninh, đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp động viên, giúp
đỡ trong quá trình thực hiện luận văn!
Hà nội, ngày 29 tháng 10 năm 2016
Ngƣời viết luận văn
ngh a của nhân giống bằng hom.....................................................................16
1.6. Những nghiên cứu về chi Camellia ...................................................................17
1.6.1. Những nghiên cứu về chi Camellia trên Thế Giới ..........................................17
1.6.2. Những nghiên cứu về chi Camellia ở Việt Nam .............................................19
Chƣơng 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...........24
2.1. Mục tiêu nghiên cứu...........................................................................................24
iv
2.2. Đối tƣợng nghiên cứu.........................................................................................24
2.3. Địa điểm nghiên cứu ..........................................................................................24
2.4. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................24
2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................................24
2.5.1. Nghiên cứu mã vạchADN (DNA barcode) cho cây Trà hoa vàng Ba Chẽ.....24
2.5.2. Nghiên cứu một số đặc điểm Lâm học Trà hoa vàng .....................................26
2.5.3. Thí nghiệm giâm hom Trà hoa vàng ...............................................................29
Chƣơng 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................................................32
3.1. Kết quả xác định mã vạch AND (DNA barcode) ..............................................32
3.1.1. Tách chiết ADN và khuyếch đại PCR (Polymerase Chain Reaction) ............32
3.1.2. Phân tích trình tự nucleotide từ ba vùng ADN ...............................................33
3.2. Một số đặc điểm Lâm học Trà hoa Vàng ...........................................................36
3.2.1. Đặc điểm hình thái loài cây Trà hoa vàng Ba chẽ ...........................................36
3.2.2. Đặc điểm sinh thái và phân bố loài cây Trà hoa vàng tại Ba chẽ ...................39
3.2.3. Đặc điểm cấu trúc hoàn cảnh rừng nơi có loài cây Trà hoa vàng phân bố tự
nhiên ..........................................................................................................................40
3.3. Nhân giống Trà hoa vàng Ba chẽ bằng phƣơng pháp giâm hom .......................46
3.3.1. Ảnh hƣởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trƣởng đến khả năng sống và
CT
4
CTTN
5
D1,3
Đƣờng kính 1,3m
6
Dg
Đƣờng kính gốc
7
ĐHST
8
Dt
Đƣờng kính tán
9
IBA
Indol butiric acid
15
IV %
Importance Value (Giá trị quan trọng)
16
N
17
NAA
Napthalen acetic acid
18
ODB
Ô dạng bản
19
OTC
Tên bảng
Trang
3.1
Đánh giá ba vùng ADN đề xuất
33
3.2
Kích thƣớc cây Trà hoa vàng tại Ba chẽ, Quảng ninh
36
3.3
Kết quả đo kích thƣớc lá cây Trà hoa vàng
37
3.4
Đặc điểm vật hậu của loài
37
3.5
3.10
Ảnh hƣởng của nồng độ các chất ĐHST thực vật đến tỷ lệ sống
47
3.11
Ảnh hƣởng của nồng độ các chất ĐHST thực vật đến khả năng ra rễ
50
3.12
Ảnh hƣởng của loại hom đến hiệu quả giâm hom
52
3.13
Ảnh hƣởng của giá thể ruột bầu đến hiệu quả giâm hom
53
3.14
Ảnh hƣởng của ánh sáng đến khả năng sống của hom
54
Ảnh hƣởng của nồng độ các chất ĐHST thực vật đến khả năng ra rễ
50
3.5
Ảnh hƣởng của loại hom đến hiệu quả giâm hom
52
3.6
Ảnh hƣởng của giá thể ruột bầu đến hiệu quả giâm hom
53
3.7
Ảnh hƣởng của ánh sáng đến khả năng sống của hom
54
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Tên hình
So sánh trình tự nucleotide vùng ITS2 giữa Trà hoa vàng Sơn
Động và Trà hoa vàng Ba Chẽ
34
35
35
3.6
Cây Trà hoa vàng Ba chẽ
38
3.7
Cành mang nụ Trà hoa vàng
38
3.8
Quả Trà hoa vàng
38
3.9
Mặt trƣớc, mặt sau lá
chỉ phát hiện tại Việt Nam và Trung Quốc. Cũng nhƣ nhiều loài khác trong chi
Camellia, giá trị đầu tiên dễ nhận thấy nhất của Trà hoa vàng là làm cảnh. Màu vàng
của Trà hoa vàng rất đặc trƣng, Khó có thể tạo ra đƣợc bằng phƣơng pháp lai hữu
tính (Trần Ninh – Hakoda Naotoshi, 2010). Trà hoa vàng còn có giá trị kinh tế và y
dƣợc cao nhƣ: Sử dụng để lấy gỗ, có thể làm cây trồng tầng dƣới ở các đai rừng
phòng hộ, lá và hoa làm đồ uống cao cấp, có tác dụng phòng và chống các bệnh
huyết áp, tim mạch, tiểu đƣờng, u bƣớu (Zhu Ji Yu et al…, 2006). Các nhà thực vật
thế giới xem các loài Trà hoa vàng là nguồn gen quý hiếm cần đƣợc bảo vệ nghiêm
ngặt (Trần Ninh và cs, 2010)[25].
Trong hơn 10 năm qua, các nhà khoa học đã phát hiện tại Việt Nam có tới 24
loài Trà hoa vàng. Tuy vậy, hiện nay Trà hoa vàng đang bị đe dọa nghiêm trọng do
mất môi trƣờng sống bị thu hẹp cũng nhƣ việc thu lƣợm cây giống thái quá dẫn đến
suy giảm rất nhanh về số lƣợng cá thể ngoài tự nhiên.
Theo quy hoạch của tỉnh Quảng Ninh, Ba Chẽ là một trong ba vùng dƣợc
liệu của tỉnh. Để chủ động cho hƣớng phát triển, huyện Ba Chẽ đã xây dựng quy
hoạch vùng trồng dƣợc liệu hơn ba nghìn ha, trong đó trà hoa vàng đƣợc trồng với
tổng diện tích hơn 500 ha trên địa bàn các xã, thị trấn. Đến nay, toàn huyện đã trồng
đƣợc hơn 100ha trà hoa vàng từ nguồn vốn các doanh nghiệp và các hộ dân trên địa
bàn. Công ty cổ phần Phú Khang HT hiện đã lập dự án trồng 250 ha trà hoa vàng
tập trung ở xã Thanh Sơn, kết hợp chế biến dƣợc liệu tại chỗ và phát triển du lịch
sinh thái[57].
Vì thế việc nghiên cứu các phƣơng pháp nhân giống, chăm sóc để bảo tồn và
phát triển các loài Trà hoa vàng là một việc làm cần thiết. Tuy nhiên cho tới nay
2
những nghiên cứu về các loài Trà hoa vàng còn rất hạn chế. Trong số các loài Trà
hoa vàng quý hiếm tại tỉnh Quảng Ninh thì loài Trà hoa vàng Camellia chrysantha
là một trong những loài trà quý cần đƣợc quan tâm, bảo tồn và phát triển.
Tên khoa học
Camellia chrysantha
(Hu) Tuyama
Hình 1.1: Trà hoa vàng Ba chẽ
Trà hoa vàng hay con gọi là Kim hoa trà (Camellia chrysantha (Hu)
Tuyama) là một loài thực vật hạt kín trong họ Theaceae. Nó đƣợc tìm thấy ở Trung
Quốc (tây nam tỉnh Quảng Tây) và Việt Nam (tỉnh Quảng Ninh), V nh Phúc (Tam
Đảo).
1.1.2. Đặc điểm sinh học
Cây gỗ nhỏ hay cây bụi; nhánh mảnh, không lông. Lá có phiến thuôn, dài 9 –
12 cm, rộng 4 – 5 cm, không lông, mép có khía răng cƣa nhỏ, gân bên khoảng 10 đôi;
cuống lá dài 6–7 mm. Hoa mọc đơn độc trên cuống dài 7 – 10 mm; lá bắc 4. Lá đài 5;
cánh hoa 8 - 10, màu vàng đậm, cao 3 cm; nhị nhiều; bầu nhụy không lông, vòi nhụy
3 - 4, dính nhau một phần. Quả nang to có đƣờng kính 3 cm, vỏ quả dày 3 mm. Sinh
sống trong các khu rừng ẩm có độ cao dƣới 500 mét so với mặt nƣớc biển.
1.1.3. Giá trị sử dụng
Trà hoa vàng là loài cây quý hiếm, có nhiều giá trị để sử dụng nhƣ lấy gỗ, có
thể làm cây trồng tầng dƣới ở các đai rừng phòng hộ, trồng làm cây cảnh, làm đồ
4
uống cao cấp và chế biến dƣợc liệu, có tác dụng phòng và chống các bệnh huyết áp,
tim mạch, tiểu đƣờng, u bƣớu[14].
Theo "Camellia International Journal" – tạp chí chuyên nghiên cứu về Trà
thành phần hóa học, không có độc và tác dụng phụ, trong đó phải kể tới Saponin,
các hợp chất phenolic, amio acid, axit folic, protein, vitamin B1, B2, C, E, axit
béo,… cùng rất nhiều các thành phần dinh dƣỡng tự nhiên; trà hoa vàng có vài chục
loại axitamin, rất nhiều các nguyên tố vi lƣợng Ge, Se, Mo, Zn, V,… có tác dụng
bảo vệ sức khỏe, nâng cao sức đề kháng, ngăn ngừa bệnh tật”[57].
1.2. Tổng quan về mã vạch ADN (DNA barcode)
Phƣơng pháp phân loại hình thái có lịch sử phát triển lâu đời và đã xây
dựng đƣợc một hệ thống phân loại sinh vật nói chung và thực vật nói riêng tƣơng
đối đầy đủ và toàn diện. Phƣơng pháp phân loại này chủ yếu dựa vào sự khác biệt
về hình thái của các cơ quan trong cơ thể thực vật, đặc biệt là cơ quan sinh sản
(hoa). Tuy nhiên, phƣơng pháp này cũng gặp rất nhiều khó khăn khi cần xác định
những mẫu vật đang trong giai đoạn phát triển (chƣa ra hoa), những mẫu có đặc
điểm giống nhau do cùng thích nghi với điều kiện môi trƣờng, hoặc khó nhận biết
do có nhiều điểm tƣơng đồng ở bậc phân loại thấp nhƣ loài và dƣới loài. Từ giữa
những năm 1990, với sự phát triển mạnh mẽ của sinh học phân tử, một phƣơng
pháp nghiên cứu mới trong l nh vực phân loại học đã hình thành và đƣợc gọi là
phƣơng pháp phân loại học phân tử. Phƣơng pháp này dựa trên các dữ liệu thông
tin về hệ gen (ADN) trong và ngoài nhân hoặc các sản phẩm của chúng (protein).
Tùy mục đích hoặc đối tƣợng nghiên cứu, ngƣời ta có thể lựa chọn các gen (đoạn
ADN) khác nhau hoặc các sản phẩm khác nhau của hệ gen.
Năm 2003, Paul Hebert [48], nhà nghiên cứu tại Đại học Guelph ở Ontario,
Canada, đề xuất "mã vạch DNA" (DNA Barcode) nhƣ là một cách để xác định
loài. Mã vạch đƣợc sử dụng là một đoạn ADN ngắn từ một phần của hệ gen và
đƣợc dùng giống nhƣ cách một máy quét ở siêu thị phân biệt đƣợc các sản phẩm
bằng cách nhận diện đƣợc các sọc màu đen đặc chƣng của từng sản phẩm. Trong
công nghệ mã vạch, có thể hai mặt hàng trông rất giống nhau và không phân biệt
đƣợc bằng mắt thƣờng, song qua mã vạch, máy quét có thể phân biệt đƣợc. Một
mã vạch ADN điển hình phải đáp ứng đƣợc các yêu cầu sau :
vai trò, ý ngh a và sự cần thiết của việc xây dựng ngân hàng mã vạch ADN, ở Việt
Nam các nhà khoa học cũng nhƣ các nhà quản lý cũng đã bắt đầu tiếp cận và quan
tâm đến hƣớng nghiên cứu này, nhằm hƣớng tới xây dựng một ngân hàng dữ liệu
mã vạch ADN quốc gia cho các loài sinh vật (Động vật, thực vật, vi sinh vật,
virut,...) phục vụ phân loại, giám định, chẩn đoán bệnh, bảo tồn và quản lý thƣơng
mại nguồn tài nguyên sinh vật ở Việt Nam. Theo Hà Văn Huân tổng hợp trên Ngân
hàng dữ liệu AND Việt Nam:
Kết hợp phƣơng pháp sinh học phân tử và hình thái trong nghiên cứu phân
loại các họ Thiên lý (Asclepiadaceae) và Trúc đào (Apocynaceae) ở Việt Nam
7
(2009-2010, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật); Nghiên cứu đánh giá đa dạng
di truyền của cây dó bầu tại Việt Nam bằng kỹ thuật chỉ thị ADN nhằm bảo tồn, hỗ
trợ và nâng cao hiệu quả sản xuất trầm hƣơng (2010-2011, Viện Công nghệ sinh
học); Định loại phân tử để giám sát thƣơng mại và thƣơng mại hóa các lâm sản
ngoài gỗ ở Campuchia, Lào và Việt Nam (2010-2012, Viện Công nghệ sinh học,
Viện nghiên cứu hệ gen); Nghiên cứu xây dựng mã vạch ADN (DNA barcode) phục
vụ cho việc định danh sâm Ngọc Linh và cây Bá bệnh (2012-2013, Viện Công nghệ
sinh học) (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2012; Đinh Thi Phòng, 2011, 2014). Bƣớc đầu,
một số kết quả công bố đã chỉ ra có thể sử dụng gen 18S rRNA để phân loại các loài
thuộc chi Bình vôi (Stephania) (Huỳnh Thị Thu Huệ et al., 2003), để xác định mức
độ quan hệ họ hàng giữa Sa mộc (Cunninghamia lanceolata Lamb.) nhập từ Trung
Quốc và Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) mọc tự nhiên (Nguyễn Thị
Phƣơng Trang et al., 2009), để phân loại 9 loài thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae)
ở Việt Nam (Nguyễn Minh Tâm, et al., 2012). Nguyễn Đức Thành và nhóm nghiên
cứu (2007) đã sử dụng một số gen ở lục lạp để nghiên cứu đa dạng di truyền và xuất
xứ một số loài cây lâm nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, các chỉ thị gen lục lạp
là công cụ hữu hiệu trong nghiên cứu đa dạng di truyền và xuất xứ các loài cây lâm
bệnh (Phytothphora); động vật quý hiếm đặc hữu Việt Nam (Nguyễn Hoàng Dũng,
2014). Nguyễn Thị Thanh Nga và cộng sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá
đa dạng di truyền một số loài cây dƣợc liệu Việt Nam thuộc chi Đảng Sâm
(Codonopsissp) bằng kỹ thuật ADN mã vạch. Nghiên cứu đã ứng dụng mã vạch
ADN trong phân tích đa dạng di truyền các loài Codonopsis ở Việt Nam. Hoàng
Đăng Hiếu và cộng sự (2012), đã sử dụng các kỹ thuật sinh học phân tử trong phân
tích đa dạng cà định dạng của tập đoàn cây Dó Bầu (Aquilaria SP.) tại Hà T nh. Hà
Văn Huân (2013, 2014) đã triển khai nghiên cứu „„Xây dựng cơ sở dữ liệu chỉ thị
phân tử ADN mã vạch cho loài Sến mật (Madhuca pasquierii) phục vụ giám định
loài„„ và phân lập đoạn DNA barcoding cho loài Trà hoa vàng Tam đảo (Camellia
tamdaoensis Hakoda et Ninh) phục vụ bảo tồn và phát triển loài Trà đặc hữu, quý
hiếm của Việt Nam.
Các nghiên cứu trên đã tạo tiền đề quan trọng cho hƣớng nghiên cứu ứng
dụng chỉ thị phân tử vào việc phân loại, giám định, đánh giá đa dạng di truyền, bảo
tồn và quản lý thƣơng mại nguồn tài nguyên sinh vật ở nƣớc ta.[56]
1.3. Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài cây
1.3.1.Trên thế giới
a) Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái và vật hậu
đã đƣợc thực hiện từ lâu trên thế giới. Làm tiền đề cho các môn khoa học khác có
liên quan. Có rất nhiêu công trình liên quan đến hình thái và phân loại các loài cây.
Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung vào mô tả và phân loại các loài, nhóm
loài,... Có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan đến các nƣớc lân
cận nhƣ: Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật
chí rừng Tây Bắc và trung tâm Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 - 1925), Thực
vật chí Hải Nam (1972 - 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Quảng
Đông, Trung Quốc (9 tập). Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền
đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng nhƣ đánh giá tính đa dạng
ẩm, nhịp điệu khí hậu (Nguyễn Thị Hƣơng Giang, 2009).[16]
Tái sinh là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng, đó là
sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh
10
rừng. Hiệu quả của tái sinh rừng đƣợc xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc
tuổi, chất lƣợng cây con, đặc điểm phân bố.
Baur G.N (1962) [2] cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng đã
làm ảnh hƣởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh hƣởng
đó thƣờng không rõ ràng. Đối với rừng nhiệt đới, số lƣợng loài cây trên một đơn vị
diện tích và mật độ tái sinh thƣờng khá lớn. Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên
cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động
phù hợp.
Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua
lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trƣờng sống.
Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết đƣợc những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần
xã, từ đó có cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp.
Hiện tƣợng thành tầng là một trong những đặc trƣng cơ bản về cấu trúc hình
thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ. Phƣơng pháp vẽ
biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P.W Risa (1933- 1934) đề sƣớng và sử
dụng lần đầu tiên ở Guyan, đến nay phƣơng pháp đó vẫn đƣợc sử dụng nhƣng
nhƣợc điểm là chỉ minh hoạ đƣợc cách sắp xếp theo hƣớng thẳng đứng trong một
diện tích có hạn. Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số dải kề nhau và
đƣa lại một hình tƣợng về không gian 3 chiều.
Richards P.W (1952) [28] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mƣa nhiệt đới
về mặt hình thái. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mƣa nhiệt đới là tuyệt đại
bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thƣờng có nhiều tầng. Ông nhận định: "Rừng
mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong
thƣờng thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên và ở miền nam Phạm
Hoàng Hộ (1970-1972) cũng cho ra đời công trình đồ sộ 2 tập về “Cây cỏ miền Nam
Việt Nam”, trong đó giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20
loài rêu, còn lại là 5246 loài thực vật có mạch, và sau này là “Cây cỏ Việt Nam”.[17]
Ngoài ra, còn rất nhiều các bộ sách chuyên khảo khác, tuy không tách riêng
cho vùng Tây Nam Bộ nhƣng cũng đã góp phần vào việc nghiên cứu đa dạng sinh
học thực vật chung, nhƣ các bộ về Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện điều tra qui hoạch,
1971-1988), Cây thuốc Việt Nam (Viện dƣợc liệu, 1990), Cây tài nguyên (Trần
Đình lý và cs, 1993), Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam (Trần Hợp & Nguyễn Bội Quỳnh,
1993), 100 loài cây bản địa (Trần Hợp & Hoàng Quảng Hà, 1997), Cây cỏ có ích ở
Việt Nam (Võ Văn chi và Trần Hợp, 1999), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (Trần
Hợp, 2002), v.v... Gần đây Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật cũng đã xây
dựng và biên soạn đƣợc 11 tập chuyên khảo đến họ riêng biệt. Đây là những tài
13
liệu vô cùng quý giá góp phần vào việc nghiên cứu về thực vật của Việt Nam.
b) Nghiên cứu đặc điểm sinh thái loài cây
Ở nƣớc ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của các loài cây bản địa
chƣa nhiều, tản mạn, có thể tổng hợp một số thông tin có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu nhƣ sau:
Nguyễn Bá Chất (1996)[7] đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp
gây trồng nuôi dƣỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về các đặc điểm
phân bố, sinh thái, tái sinh,... tác giả cũng đã đƣa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo
ƣơm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa.
Trần Minh Tuấn (1997) [41] đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài
Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vƣờn Quốc gia Ba Vì - Hà
Tây (cũ), ngoài những kết quả về các đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh
D1.3 hoặc Hvn so với tuổi cây hay lâm phần luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ theo
mô hình Schumacher. Ngoài ra, tác giả cũng đề nghị trong khoảng 18 năm đầu sau
khi trồng rừng Tếch nên chặt nuôi dƣỡng 3 lần theo phƣơng pháp cơ giới, với kỳ
dãn cách là 6 năm 1 lần.
Nguyễn Toàn Thắng (2008)[31] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của
loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng. Tác giả đã có những kết luận rõ
ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử dụng, về tổ thành tầng cây
gỗ biến đổi theo đai cao từ 17 đến 41 loài, với các loài ƣu thế là Dẻ anh, Vối thuốc
răng cƣa, Du sam,...
Hoàng Văn Chúc (2009)[8] trong công trình “Nghiên cứu một số đặc điểm
tái sinh tự nhiên loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) trong các trạng thái rừng
tự nhiên phục hồi ở tỉnh Bắc Giang” đã mô tả một cách chi tiết về đặc điểm hình
thái, vật hậu, tái sinh, phân bố,… của loài cây này ở khu vực tỉnh Bắc Giang. Kết
quả nghiên cứu của đề tài góp phần nhân rộng loài cây bản địa có giá trị này.
1.4. Cơ sở khoa học của nhân giống bằng hom
Nhân giống bằng hình thức giâm hom là hình thức nhân giống sinh dƣỡng (vô
tính), là hình thức dùng một bộ phận sinh dƣỡng của thực vật để tạo thành cây mới.
Nhân giống bằng hom là một phƣơng thức nhân giống dựa trên cơ sở của
phân bào nguyên nhiễm. Cây hom không những giữ đƣợc đặc điểm di truyền mong
muốn mà còn có khả năng sinh trƣởng nhanh và năng suất cao. Vì thế, nhân giống
15
bằng hom là công cụ có hiệu quả cao cho việc nhân giống cây rừng là phƣơng thức
áp dụng phổ biến để nhân giống các dòng vô tính năng xuất chất lƣợng cao.
Thông thƣờng nói đến giâm hom là nói đến hom cành và hom thân là chủ
yếu và trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành giâm hom bằng cành, do đó việc
làm cho hom ra rễ là vấn đề quyết định đến hiệu quả giâm hom. Nhƣng sự ra rễ của
hom lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: đặc điểm di truyền, thời vụ, đặc điểm xuất
tại của lá trên hom và các chất điều hòa sinh trƣởng nội sinh v.v.
- Nhóm 2: Yếu tố ngoại sinh bao gồm các yếu tố nhƣ: Điều kiện sống của
cây mẹ; các điều kiện môi trƣờng vô sinh; thời vụ; giá thể; chất điều hòa sinh
trƣởng ngoại sinh;...
1.4.2. Nhu cầu sinh lý của cành đã cắt rời
Cây muốn sống thì cần có quang hợp và thoát hơi nƣớc. Khi cành còn trên
cây mẹ thì việc thoát hơi nƣớc không phải là trở ngại, nhƣng khi hom đƣợc cắt rời
khỏi cây mẹ thì nó trở thành vấn đề quan trọng vì khi đó hom không đƣợc cây mẹ
cung cấp nƣớc, mặt khác hom lại chƣa có rễ để tự hút nƣớc. Do đó việc giữ nƣớc
cho hom luôn ở trong môi trƣờng không khí ẩm là việc cần thiết.
Mặc dù hom đƣợc cắt khỏi cây mẹ nhƣng chúng vẫn sống, vật chất dự trữ
trong hom đƣợc cung cấp để nuôi sống hom. Nhƣng chúng vẫn cần phải quang hợp
để tăng tổng hợp vật chất nên lá để lại trên hom cho chúng quang hợp cũng hết sức
cần thiết.
Giai đoạn đầu giâm hom, hom giâm không thể hút đƣợc chất dinh dƣỡng từ
đất do chƣa có rễ vì vậy dinh dƣỡng ở giai đoạn này chủ yếu là do cây mẹ cung cấp.
Bởi vậy công tác chăm sóc và trẻ hóa cây mẹ để chuẩn bị cho lấy vật liệu làm hom
là việc làm cần thiết.
1.5.
nghĩa của nh n giống ằng hom
Nhân giống bằng hom là phƣơng pháp nhân giống sinh dƣỡng có ý ngh a lớn
mà trong đó có thể giữ đƣợc các biến dị di truyền tốt của cây mẹ truyền lại cho thế
hệ con.
Nhân giống hom là phƣơng thức giữ đƣợc ƣu thế lai của đời F 1 và khắc phục
đƣợc hiện tƣợng phân ly đời F2. Một số giống lai xa khác loài trong lâm nghiệp có
ƣu thế lai rất rõ rệt, khi sinh sản bằng hạt thì đời lai thứ hai (F2) không những bị
thoái hoá, năng xuất bị giảm đi mà còn có hiện tƣợng bị phân ly, quay về các dạng
"Revesion of the genus Camellia" năm 1958 ông đã giới thiệu và mô tả 82 loài,
trong đó có 62 loài ông đã căn cứ vào những đặc điểm cần thiết để phân loại chúng
thành 12 nhánh, còn lại 20 loài không đƣợc xếp vào nhánh nào có lẽ vì thiếu những
đặc điểm cần thiết[49].