MỤC LỤC
Trang
Mục lục . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
01
Phần mở đầu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 03
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠP CHÍ
KHOA HỌC. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 07
1.1. Khái niệm tạp chí khoa học và bài báo khoa học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 07
1.1.1. Báo chí và tạp chí khoa học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 07
1.1.2. Khái niệm bài báo khoa học. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
09
1.2. Quy trình hoạt động của một số tạp chí khoa học trong nƣớc và quốc tế . . .
12
1.2.1. Hoạt động của một số tạp chí khoa học trong nƣớc . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.2.2. Quy trình hoạt động của một số tạp chí quốc tế. . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA TẠP CHÍ ĐẠI HỌC
SÀI GÒN (2008 - 2013) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33
2.1. Hoạt động của Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn giai đoạn 2008 –
2013 . . . . . . . .
2.2. Mô hình hoạt động của Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn giai đoạn
2008 – 2013..
33
36
........
3.2.1. Tổ chức lại hoạt động của Tạp chí. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
46
3.2.2. Đổi mới quy trình xuất bản theo mô hình quản lí tạp chí trực tuyến. . . . . . 46
3.2.3. Cải tiến hình thức của Tạp chí và hình thức của bài báo khoa học . . . . 51
3.3. Một số biện pháp khác nhằm nâng cao chất lƣợng của Tạp chí . . . . . . . . 53
3.3.1. Xây dựng hệ thống cộng tác viên, chuyên gia phản biện và biên tập
chuyên sâu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 53
3.3.2. Các giải pháp xây dựng uy tín khoa học của Tạp chí Khoa học Đại học Sài
Gòn . . . . .
55
Kết luận. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 58
Tài liệu tham khảo. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 60
Phụ lục. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 62
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn là cơ quan ngôn luận về khoa học của
Trƣờng Đại học Sài Gòn. Từ khi thành lập đến nay (12/2013), Tạp chí đã xuất
bản đƣợc 20 số chính thức và nhiều chuyên san thuộc các lĩnh vực khác nhau,
góp phần thúc đẩy các hoạt động khoa học và công nghệ của Trƣờng Đại học Sài
Gòn và bƣớc đầu tạo đƣợc uy tín trong giới khoa học. Tạp chí Khoa học Đại học
Sài Gòn hiện đang hoạt động theo mô hình quản lí đƣợc áp dụng khá phổ biến
trong 5 năm đầu thành lập (2008 - 2013) để làm rõ những thành tựu, hạn chế và
bài học kinh nghiệm phục vụ cho sự phát triển của Tạp chí.
Khảo sát mô hình hoạt động của các tạp chí lớn trong và ngoài nƣớc để vận
dụng vào Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn.
Xây dựng mô hình phát triển của Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn theo
định hƣớng nâng cao chất lƣợng và phù hợp với hệ thống tạp chí khoa học có uy
tín trong và ngoài nƣớc, đáp ứng yêu cầu phát triển của Tạp chí Khoa học Đại
học Sài Gòn nói riêng và Trƣờng Đại học Sài Gòn nói chung.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề xây dựng mô hình hoạt động của tạp chí khoa học tuy chƣa đƣợc
nghiên cứu hoàn chỉnh và bài bản, nhƣng trong thực tế đã có nhiều tạp chí khoa
học đã xây dựng đƣợc mô hình hoạt động riêng của mình. Sau một thời gian hội
nhập quốc tế, các tạp chí khoa học trong nƣớc bắt đầu tìm cách để hội nhập với
xu thế chung của các tạp chí quốc tế mà bƣớc đầu tiên đó là chuyển sang hoạt
động theo mô hình quản lí trực tuyến giống các tạp chí khoa học quốc tế và hình
thức của bài báo cũng đƣợc quy chuẩn.
Nghiên cứu về mô hình hoạt động của các tạp chí khoa học nhằm nâng cao
chất lƣợng và quốc tế hóa tạp chí đang là một vấn đề đƣợc đặt ra ở Việt Nam
hiện nay. Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài này có thể kể
4
đến là báo cáo về “Tiến trình xây dựng nâng cấp tạp chí Advances in Natural
Sciences Seri A: Nanoscience and Nanotechnology đạt chuẩn quốc tế” của Ban
Biên tập Tạp chí Advances in Natural Sciences, tiếp đến là bài báo khoa học
“Nâng cao chất lượng tạp chí khoa học xã hội theo tiêu chuẩn quốc tế” của Trần
Mạnh Tuấn, đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, Số 4/2011. Hai bài
báo này đã trực tiếp chỉ ra những hạn chế của hệ thống tạp chí khoa học ở Việt
một số tạp chí khoa học khác ở trong và ngoài nƣớc.
6. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là mô hình phát triển của Tạp chí Khoa học Đại học Sài
Gòn.
7. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài đƣợc giới hạn trong những hoạt động của
Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn từ năm 2008 đến năm 2013.
Tuy nhiên, để có cơ sở cho việc xây dựng mô hình phát triển của Tạp chí,
đề tài còn khảo sát thêm một số tạp chí khác ở trong và ngoài nƣớc.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp: thống kê,
phân tích, tổng hợp, so sánh, phỏng vấn và phƣơng pháp chuyên gia.
9. Cấu trúc của đề tài
Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về tạp chí khoa học.
Chƣơng 2: Thực trạng phát triển của Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn
(2008-2013).
Chƣơng 3: Xây dựng mô hình phát triển mới cho Tạp chí Khoa học Đại học
Sài Gòn.
6
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TẠP CHÍ KHOA HỌC
1.1. Khái niệm tạp chí khoa học và bài báo khoa học
(chƣơng trình phát thanh).
4. “Báo hình” là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên sóng truyền hình
(chƣơng trình truyền hình, chƣơng trình nghe - nhìn thời sự đƣợc thực hiện bằng
các phƣơng tiện khác nhau).
5. “Báo điện tử” là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên mạng thông tin
máy tính (Internet, Intranet).
(…)
18. “Tác phẩm báo chí” là tên gọi chung cho tất cả các thể loại tin, bài, ảnh
... đã đƣợc đăng, phát trên báo chí”.
Theo cách phân loại nhƣ trên thì tạp chí khoa học thuộc loại hình báo in.
Bài đăng trên tạp chí khoa học cũng đƣợc xem là tác phẩm báo chí.
Những đặc điểm mà ta vừa trình bày ở trên thực chất là đặc điểm của báo.
Và nó cũng giống với một số “tạp chí” (magazine) nhƣ: tạp chí thời trang, tạp chí
văn nghệ… Nhƣng lại rất khác với kiểu tạp chí (journals) nhƣ các tạp chí khoa
học…
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa tạp chí nhƣ sau: “Xuất
bản phẩm định kỳ, đăng nhiều bài do nhiều ngƣời viết, đóng thành tập, thƣờng có
khổ nhỏ hơn báo”2. Đây là cách định nghĩa chung về tạp chí, trong thực tế, mỗi
loại tạp chí có những đặc điểm riêng.
Đối với tạp chí khoa học (journals), yêu cầu quan trọng nhất trong quá trình
xuất bản tạp chí đó chính là việc tổ chức phản biện (hay còn gọi là bình duyệt peer reviewed)3 đối với các bài báo khoa học gửi đến tạp chí trƣớc khi đƣợc xuất
bản chính thức.
2
Hoàng Phê (chủ biên)(2001), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học - NXB Từ điển BK, Hà Nội.
Theo Giáo sƣ Nguyễn Văn Tuấn, đối với các tạp chí quốc tế có uy tín, mỗi Tạp chí thƣờng có ban biên
tập với thành viên từ nhiều nƣớc trên thế giới. Bài đƣợc gửi đến phải qua 2 hoặc 3 chuyên gia bình duyệt,
3
Vũ Cao Đàm (2007), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kĩ thuật, HN, tr. 139.
5
Lê Tử Thành (1991), Lôgic học và phương pháp nghiên cứu khoa học, Nxb Trẻ, Tp. HCM, tr. 27-28.
6
Nguyễn Văn Tuấn (2009), Thế nào là một “bài báo khoa học”?, http://huc.edu.vn/chi-tiet/1348/Thenao-la-mot-bai-bao-khoa-hoc-.html/
9
clinical trials) hay một công trình dịch tễ học lớn có thể có đến hàng trăm bài báo
nguyên thủy.
Cống hiến mới cho khoa học không chỉ giới hạn trong phát hiện mới, mà có
thể bao gồm cả những phƣơng pháp mới để tiếp cận một vấn đề cũ, hay một cách
diễn dịch mới cho một phát hiện xa xƣa. Do đó các bài báo khoa học ở dạng này
cũng có thể xem là những cống hiến nguyên thủy. Tất cả những bài báo này đều
phải qua hệ thống bình duyệt một cách nghiêm chỉnh. Tất cả các bài báo thể hiện
những cống hiến nguyên thủy, trên nguyên tắc, đều phải thông qua hệ thống bình
duyệt trƣớc khi đƣợc công bố. Một bài báo không hay chƣa qua hệ thống bình
duyệt chƣa thể xem là một “bài báo khoa học”.
Thứ hai là những bài báo nghiên cứu ngắn, mà tiếng Anh thƣờng gọi là
“short communications”, hay “research letters”, hay “short papers”, v.v... Đây là
những bài báo rất ngắn (chỉ khoảng 600 đến 1000 chữ, tùy theo qui định của tập
san) mà nội dung chủ yếu tập trung giải quyết một vấn đề rất hẹp hay báo cáo
một phát hiện nhỏ nhƣng quan trọng. Những bài báo này vẫn phải qua hệ thống
bình duyệt nghiêm chỉnh, nhƣng mức độ rà soát không cao nhƣ các bài báo cống
hiến nguyên thủy. Cần phải nói thêm ở đây là phần lớn những bài báo công bố
trên tập san Nature (một tập san uy tín vào hàng số 1 trong khoa học) là
“Letters”, nhƣng thực chất đó là những bài báo nguyên thủy có giá trị khoa học
rất cao, chứ không phải những lá thƣ thông thƣờng.
Thứ ba là những báo cáo trƣờng hợp (case reports). Trong y học có một