Thời gian tự sự trong tiểu thuyết giã biệt bóng tối của tạ duy anh - Pdf 49

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Thời gian tự sự trong tiểu thuyết
Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh”, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ tận tình của
các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, của
các thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Lí luận văn học, Khoa Ngữ văn. Tôi xin gửi
tới các thầy, cô lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Tiến sĩ Phùng Gia Thế, ngƣời thầy
đã trực tiếp giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2014
Sinh viên

Lưu Thị Thanh Huế


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
luận trong khóa luận là trung thực. Khóa luận này chƣa từng đƣợc công bố
trong bất cứ công trình nào.
Nếu những lời cam đoan trên là sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2014
Sinh viên

Lưu Thị Thanh Huế


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................ 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 5



MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Văn học, hiểu theo ý nghĩa rộng nhất của từ này, là tấm gƣơng
phản ánh, tái tạo đời sống. Nó có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với
đời sống, là nơi in dấu cuộc sống con ngƣời trong quá trình vận động, biến
thiên lịch sử. Bởi vậy, khi hiện thực cuộc sống thay đổi tất yếu sẽ kéo theo sự
thay đổi của văn học.
Sau Tổng khởi nghĩa Mùa xuân năm 1975, nƣớc ta đã bƣớc sang một
trang sử mới, một kỉ nguyên mới. Đổi mới trở thành nhu cầu bức thiết trên
mọi lĩnh vực trong đó có văn học nghệ thuật. Hiện thực đất nƣớc tác động,
những luồng văn học nƣớc ngoài ảnh hƣởng và ngay bản thân nhà văn cũng
nhận thấy “không thể viết nhƣ cũ đƣợc nữa”. Thị hiếu của độc giả cũng thay
đổi. Họ hào hứng với những cách viết, lối viết mới. Tất cả những yếu tố đó đã
thôi thúc các nhà văn đổi mới tƣ tƣởng, đổi mới cách viết của mình. Đội ngũ
sáng tác, tác phẩm văn học không ngừng tăng lên cả về số lƣợng và chất
lƣợng. Các nhà văn đã mang đến sự mới mẻ, phong phú đa dạng về nội dung
phản ánh, hình thức thể hiện, thể loại...
1.2. Đối với một nền văn học hiện đại, tiểu thuyết đƣợc coi là “cỗ máy
cái”, là thể loại chủ chốt, nơi biểu hiện tập trung nhất trình độ tƣ duy văn học
cũng là nơi kết tinh quan trọng nhất thành tựu của một thời đại văn học.
Ở nƣớc ta, tiểu thuyết sau 1975 không phải “đoạn tuyệt” hẳn với truyền
thống mà nó vẫn kế thừa, có điều ý thức “làm mới, làm giàu, làm khác”
truyền thống đã trở thành nhu cầu mạnh mẽ của hầu hết ngƣời viết. Ngƣời
cầm bút phải đối diện với một đòi hỏi nghiệt ngã: “Mỗi nhà tiểu thuyết, mỗi
cuốn tiểu thuyết phải sáng tạo ra một hình thức riêng. Không tôn trọng những
hình thức bất biến, mỗi cuốn sách mới cần xây dựng cho mình những quy luật
vận động đồng thời sản sinh ra sự diệt vong của chúng” (Alain Robbe Grillet).



2


1.3. Tạ Duy Anh là tác giả thuộc trào lƣu đổi mới tiểu thuyết Việt Nam
từ sau 1990. Ông bắt đầu viết văn từ những năm 1990. Nỗ lực đổi mới, cách
tân của nhà văn đƣợc ghi nhận bởi một loạt tiểu thuyết ấn tƣợng: Khúc dạo
đầu(1991), Lão khổ (1992), Đi tìm nhân vật (2002), Thiên thầnsám hối
(2004),Giã biệt bóngtối (2008)...
Giã biệt bóng tối là cuốn tiểu thuyết gây nhiều sự chú ý trong giới phê
bình thời gian gần đây. Nó đã tạo nên một cuộc tranh luận sôi nổi trên văn đàn
với những ý kiến khen chê thậm chí trái chiều. Tạ Duy Anh đã thực sự “làm
mới”nghệ thuật tiểu thuyết trên một góc độ nhất định. Ông đã đem đến cho bạn
đọc Việt Nam một“tiểu thuyết” khá mới trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam
đƣơng đại.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu chung về Tạ Duy Anh
Tạ Duy Anh sáng tác ở khá nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, tản
văn... Thời gian gần đây, nhà văn tập trung ngòi bút vào thể loại tiểu thuyết.
Ông liên tiếp đƣa tới cho bạn đọc những tiểu thuyết mới mẻ về hình thức.
Sáng tác của ông thời gian gần đây đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của
nhiều công trình khoa học, có thể kể đến Nguyễn Thị Mai Loan (2004) với
Nông thôn trong sáng tác của Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Ninh với Thế giới
nghệ thuật Tạ Duy Anh, Cảm thức về cái phi lí trong sáng tác của Tạ Duy
Anh của Cao Tố Nga; Nguyễn Thị Hồng Giang (2005) với Tạ Duy Anh và
việc làm mới nghệ thuật tiểu thuyết(luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐHSP Hà
Nội); Vũ Lê Lan Hƣơng (2006), Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy
Anh (luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội); Võ Thị Thanh Hà (2006) vớiNhân vật
tiểu thuyết Tạ Duy Anh (luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, Nghệ An); Nguyễn
Thị Kim Lan (2006) cùng công trìnhNghệ thuật kết cấu trong một số tiểu

Tạ Duy Anh ta thấy ông quả là đã gắng công tìm tòi, có thể nói là đến mức hì
hục nhằm cố gắng thay đổi bộ mặt cấu trúc của tiểu thuyết truyền thống” và

4


kết quả của sự cố gắng đó phần nào đã góp công vào sự “Trở mình” của tiểu
thuyết Việt Nam đƣơng đại.
Trên Vietvan. vn có bài: “Giã biệt bóng tốivà cách kể của tiểu
thuyếthôm nay”. Bài báo cho rằng Giã biệt bóng tốiđã dựng lên hình tƣợng
thế giới bị lộn trái. Tuy nhiên tác giả bài báo cũng chỉ ra vết gợn đáng tiếc của
cuốn tiểu thuyết. Đó là sự lạm dụng cái huyền ảo trong tác phẩm này.
Nhìn chung những tham luận, bài viết trên chƣa đƣa ra đƣợc cái nhìn
toàn diện về Giã biệt bóng tốinhƣng đã phần nào phân tích, mổ xẻ, trình bày
về các phƣơng diện thành công của cuốn tiểu thuyết hấp dẫn này. Mặc dù có
những hạt sạn nhỏ nhƣng có thể nói Giã biệt bóng tốilà một tiểu thuyết ghi
nhận thành công nhất định của nhà văn trong việc “làm mới” nghệ thuật viết
tiểu thuyết so với truyền thống.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài đã chọn, ngƣời viết xác định nhiệm vụ của khóa luận là đi
sâu vào tìm hiểu vấn đề thời gian tự sự trong tiểu thuyết Giã biệt bóng tốicủa
Tạ Duy Anh, từ đó thấy đƣợc lối đi riêng của tác giả trong lĩnh vực tiểu thuyết
và những đóng góp của ông vào sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại.
Chúng tôi hi vọng qua việc tìm hiểu đề tài này sẽ học tập và tích lũy
đƣợc những kinh nghiệm quý báu trong công việc nghiên cứu khoa học, giúp
cho sự vững vàng trong nghề nghiệp của bản thân ngƣời viết sau này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề khái quát về thời gian tự sự.
- Tìm hiểu thời gian tự sự trong tiểu thuyết Giã biệt bóng tối .

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ THỜI GIAN TỰ SỰ
1.1. Về khái quát thời gian tự sự
1.1.1. Khái luận về thời gian
Đối với triết học, thời gian là một phạm trù phức hợp, mỗi nhà triết học
lại có một cách hiểu, cách luận giải riêng của mình về nó.
Theo các nhà nghiên cứu, ở Phƣơng Tây, ngay từ thời Hi Lạp cổ đại đã
tồn tại hai khuynh hƣớng tƣ tƣởng về sự vận động của thế giới nhìn từ
phƣơng diện thời gian: “Tất cả đổi thay” của Héraclite và “Tất cả bất biến”
của Parménide. Theo Héraclite, đặc tính của cuộc sống là sự lƣu chuyển
không ngừng: “Ngƣời ta không bao giờ tắm hai lần trên một dòng sông”.
Điều đó nằm trong định luật chung của vũ trụ gọi là “logos”, bao trùm và tác
động lên trên tất cả mọi hiện tƣợng của thế giới. Mọi thứ luôn luôn biến đổi,
cái này đƣa tới cái kia, vừa đối lập, mâu thuẫn với nhau lại vừa nảy sinh ra
nhau giống nhƣ: sáng/tối, ngày /đêm. Parménide thì lại quan niệm ngƣợc lại,
ông cho rằng sự có mặt là vĩnh viễn, những đổi thay chỉ là ở vẻ bên ngoài.
Cũng trong chiều hƣớng này, Platon chủ trƣơng bên cạnh thế giới hiện tƣợng
đổi thay còn có thế giới của Tƣ Tƣởng, của Linh Hồn, một thế giới vĩnh cửu
vƣợt khỏi thời gian, không chịu sự khống chế của quy luật thời gian. Thời
gian trở thành “Hình ảnh chuyển động của sự vĩnh cửu bất động”. Aristote lại
quan niệm thời gian cũng nhƣ sự chuyển động mang tính chất vĩnh cửu, vô
thủy vô chung. “Thời gian là thƣớc đo của sự chuyển động giữa trƣớc và sau,
thời gian liên tục bởi vì thuộc vào sự liên tục”. Chỉ có thời gian hiện tại mới là
thời gian thực sự. Theo trƣờng phái Khắc Kỷ (stoiciens), thời gian không có
thực chất, nhân “Mọi sự vật hiện hữu và chuyển động chính ở trong thời

7





hiện khi kể lại. Mối liên hệ ấy đƣợc tìm thấy trong các cặp phạm trù: Câu
chuyện và truyện kể, thời gian câu chuyện đƣợc kể và thời gian truyện kể.
Theo E. Benveniste, thời gian của truyện bao gồm “thời gian của cái
đƣợc kể - thời gian quy chiếu - và thời gian kể, thực hiện hành động kể truyện
- thời gian phát ngôn” [15, tr.109].
Chiristan Metz lại viết: “Truyện là một chuỗi thời gian hai lần thời
gian... có thời gian của cái đƣợc kể và thời gian của truyện (thời gian của cái
đƣợc biểu đạt và thời gian của cái biểu đạt)... một trong những chức năng của
truyện là đổ khuôn (monayer) thành một thời gian trong một thời gian khác
(Dẫn theo G. Genette – Figures - tập III, tr.77)” [15,tr.109].
Thời gian đƣợc coi nhƣ một nhân tố cấu trúc nghệ thuật của truyện. G.
Genette đã phân chia thành ba loại: thời gian của truyện, thời gian của chuyện
và thời gian phát ngôn (kể truyện).
Về thời gian của chuyện, nó đƣợc coi nhƣ là “sự diễn tiến của các sự
kiện trong tính kế tiếp hay đồng thời, nghiêm ngặt nhƣ là chúng đã đƣợc hoàn
thành, xét về mặt chiếu vật, là trật tự niên biểu của các sự kiện hình thành nên
truyện” [12,tr.18]. Thời gian của câu chuyện không phải lúc nào cũng trùng
với thời gian của truyện kể.
Thời gian của truyện tức là thời gian của sự kiện, của nhân vật đã đƣợc
sắp xếp lại, phân bố lại theo chủ quan của ngƣời kể. Thời gian của truyện thể
hiện tài năng của ngƣời viết trong việc xử lí thời gian, thể hiện khả năng nhìn
nhận và phản ánh cuộc đời của họ. Thời gian của truyện có khi trùng với thời
gian của câu chuyện, có khi không. Đó là khi trật tự thời gian trong truyện bị
xáo trộn, không theo trật tự thời gian niên biểu của các sự kiện, nhân vật, sự
việc xảy ra sau đƣa lên trƣớc, sự việc xảy ra ở quá khứ lại đƣa về sau, quá
khứ, hiện tại, tƣơng lai không theo trình tự tuyến tính.
Thời gian kể truyện (thời gian phát ngôn): thời gian kể và thời gian của
truyện là một thể xoắn kép, khó tách bạch mà không phải lúc nào ngƣời đọc

của trần thuật” [24, tr.94]. G. Genette đã tìm ra “độ lệch văn bản thông qua
mối liên hệ của hai lớp thời gian này”.

10


Dƣới quan niệm tự sự học, G. Genette đã đƣa ra định nghĩa về thời gian
nhƣ sau: “thời gian nghệ thuật là một chuỗi thời gian kép, có thời gian của cái
đƣợc kể lại và thời gian của truyện, tức là thời gian của cái đƣợc biểu đạt và
thời gian của cái biểu đạt”. Không phải thời gian nào xuất hiện trong truyện
cũng là thời gian nghệ thuật. Đi vào khám phá thời gian nghệ thuật của một
tác phẩm tức là đi vào tìm hiểu cả thời gian đƣợc trần thuật và thời gian trần
thuật (thời gian tự sự) và Tự sự học quan tâm chủ yếu đến thời gian tự sựnghệ thuật xử lí thời gian của nhà văn.
Thời gian tự sự (narrativetime), còn đƣợc gọi là “thời gian giả”
(pseudo- temporal) theo cách nói của G. Genette, để phân biệt với thời gian
của bản thân câu chuyện hoặc sự kiện đƣợc trần thuật chính là thời gian của
truyện kể. Đó là “thời gian của trật tự các sự kiện đã đƣợc phân bố lại trong
truyện do sắp xếp chủ quan của ngƣời kể chuyện” [12,tr.33]. Thời gian tự sự
không tuân theo quy luật của thời gian vật lí thông thƣờng mà đã đƣợc tái tạo
lại bởi chủ quan của ngƣời kể chuyện. Ngƣời kể chuyện bao giờ cũng sử dụng
thời gian nhƣ một phƣơng tiện đặc thù làm bối cảnh để kể chuyện, thoát ra
ngoài thời gian quy ƣớc. Trình tự trần thuật sẽ bị đảo lộn bằng cách thuật lại
những việc đã qua hay chƣa đến. Các thủ pháp rút gọn, tỉnh lƣợc, kéo dài,
ngừng nghỉ, lặp lại... cũng thƣờng đƣợc ngƣời kể chuyện sử dụng để tổ chức
thời gian của trật tự các sự kiện sao cho đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất.
Giữa thời gian tự sự và thời gian của bản thân câu chuyện có mối quan
hệ với nhau. Nói cách khác đó là mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và thời
gian đƣợc trần thuật. Mối quan hệ này đƣợc tác giả Trần Đình Sử xem xét qua
ba tƣơng quan, cụ thể là:
1. Tƣơng quan điểm mở đầu - kết thúc của thời gian trần thuật (thời

giả đƣợc sắp xếp trong trần thuật. Nghĩa là trình tự kể chuyện xác định mối
quan hệ tiếp nối của các sự kiện trong câu chuyện với cái cách mà chúng
đƣợc sắp xếp trong truyện (sự sắp xếp thời gian giả). Trong tự sự cổ trung đại,

12


thƣờng thì trình tự thời gian tiếp nối các sự kiện và trình tự thời gian giả đƣợc
sắp xếp trong trần thuật là thống nhất, trùng khít với nhau; trần thuật trong
văn bản theo thời gian hình tuyến, việc xảy ra trƣớc kể trƣớc, việc xảy ra sau
kể sau, không có sự sai trật tự niên biểu. Nhƣng về sau, trình tự biên niên của
các sự kiện trong câu chuyện thƣờng bị xáo tung. Trình tự của cái đƣợc kể
đƣợc ngắt ra bằng một số cách khác nhau.
Thời sai (anachrony) là thuật ngữ mà G. Genette sử dụng để chỉ ra tất cả
những kiểu lệch pha, các độ chênh giữa trình tự thời gian của chuyện và thời
gian của truyện. Đảo thuật và dự thuật là hai biểu hiện cơ bản của thời sai.
Đảo thuật (analepse) là “thuật lại những sự việc đã qua” [20,tr.496],
nghĩa là kể lại các sự kiện đã diễn ra trƣớc hiện thời “bây giờ” của câu chuyện
đang đƣợc kể.
G. Genette chia đảo thuật ra thành các loại: đảo thuật bên ngoài, đảo
thuật bên trong và đảo thuật hỗn hợp.
- Đảo thuật bên ngoài (external analepse) là ngoái về phía sau, trƣớc
điểm bắt đầu của truyện và cũng kết thúc trƣớc đó. Đảo thuật bên ngoài
không can thiệp vào khung thời gian của câu chuyện.
- Đảo thuật bên trong (internal analepse) là “kể lại những sự việc có
giao thoa về thời gian ở đầu... sự việc đang trần thuật” [20,tr.496]. Đảo thuật
bên trong có phạm vi nằm trong khung thời gian của câu chuyện. G. Genette
đã phân biệt hai loại đảo thuật bên trong thƣờng gặp là: đảo thuật bổ sung và
đảo thuật tuần hoàn.
+ Đảo thuật bổ sung (completing analepse) hay còn gọi là “quay

sự kiện sẽ đƣợc kể vào thời điểm thích hợp của truyện.
Genette còn đƣa ra khái niệm “achrony”, nhiều ngƣời dịch là dự thuật
hồi tưởng và định nghĩa nó là “Một đảo thuật dự báo” hay “Một dự thuật có
tính hồi tƣởng”, nghĩa là “Nó xảy ra muộn hơn khi chúng ta đã nhìn thấy nó”
hoặc “Nó đã xảy ra và chúng ta sẽ nhìn thấy nó sau”.

14


Dự thuật trong văn học, nhất là văn học cổ điểm hay xuất hiện dƣới
hình thức “điềm báo” hoặc “báo mộng”.
Dù là đảo thuật hay dự thuật cũng đều có hai loại: Đồng sự và dị sự.
Loại trƣớc là kể lại hoặc kể trƣớc những sự việc liên đới. Loại sau thì ngƣợc
lại, tức là kể lại hoặc kể trƣớc những sự việc không liên đới.
Thời sai còn bao gồm tầm thời sai và phạm vi. “Thời điểm của cốt
truyện mà ở đó truyện kể đƣợc ngắt ra để kể chuyện, G.Genette gọi là tầm
thời sai là khoảng cách thời gian từ chuyện đến truyện kể. Nó cũng có thể bao
phủ nên khoảng thời gian cốt truyệt dài hay ngắn hơn, Genette gọi là biên độ
(amplytude) của nó” [15,tr.116].
Thời sai cũng bao gồm khoảng thời gian (duration) của câu chuyện, đó
là sự kiện đã diễn ra bao nhiêu lâu, hoặc nó sẽ kéo dài trong bao nhiêu lâu.
Nhƣ vậy, để khám phá, phân tích đƣợc thời gian tự sự của một tác
phẩm tự sự trƣớc hết phải khảo sát đƣợc trình tự kể hay chính xác hơn là tìm
ra đƣợc ý nghĩa của thời sai. “Công việc có tính chất phân tích nghệ thuật
thực sự, đó không phải tách rời việc phân tích thời gian sự kiện và thời gian
trần thuật mà là đi tìm mối liên hệ giữa hai cái đó để phát hiện ra những độ
lệch giữa chúng” [8,tr.89].
1.2.2. Tốc độ - nhịp điệu kể
Tốc độ kể chuyện là yếu tố thứ hai của thời gian tự sự. Nó liên quan
chặt chẽ, chi phối, làm thành nhịp điệu kể.

chậm cho thấy rõ nhịp điệu tự sự trong văn bản.
1.2.3. Tần suất kể
Tần suất kể chuyện là một bình diện của mối quan hệ giữa thời gian câu
chuyện và thời gian truyện kể. Tần suất (frequency), theo G.Genette là
“nghiên cứu mối quan hệ về mức độ lặp lại giữa câu chuyện và việc trần thuật
nó” [20,tr.497]. Nghĩa là quan hệ về các sự kiện xuất hiện (nhiều hay ít) trong
câu chuyện và số lần mà chúng đƣợc kể lại trong truyện. Genette đã quy hệ

16


thống những quan hệ về tần suất thành hai kiểu chính: “sự kiện đƣợc nhắc lại
hoặc không” và “lời trần thuật đƣợc nhắc lại hoặc không”.
Tần suất kể chuyện có ba loại:
- Tự sự đơn nhất (rescit singulier) là “sự việc xảy ra một hay bao nhiêu
lần thì trần thuật lại bấy nhiêu lần” [20,tr.497]. Gọi là trần thuật đơn nhất là vì
lời kể và sự kiện đƣợc kể là tƣơng đƣơng với nhau. Trong tự sự đơn nhất lại
có hai dạng:
+ Kể lại một lần điều xảy ra một lần. Dạng này thƣờng thấy trong các
diễn ngôn hội thoại, trong truyện ngắn.
+ Kể lại n lần điều xảy ra n lần [15,tr.117].
Hai dạng này thoáng nhìn thì có vẻ giống nhau. Bởi ở dạng sau khi ta
thay n = 1 thì không khác gì dạng trƣớc. Song, điều lí thú ở đây là ở chỗ “sự
việc có thể giống nhau nhƣng mỗi lần kể là mỗi lần khác”.
- Tự sự trùng lặp (rescit répétitif) là “sự việc chỉ xảy ra một lần, nhƣng
đƣợc trần thuật rất nhiều lần” [20,tr.497]. Đây là sự trùng lặp trong lời kể,
thƣờng xuất hiện ở những lời nói của các nhân vật có trạng thái không bình
thƣờng. Theo Genette thì kiểu trần thuật này dƣờng nhƣ chỉ có trong giả định.
Nó nhấn mạnh vào một sự ám ảnh nào đó, hoặc thể hiện một thái độ, một
hành vi vô lí.

chúng tôi Giã biệt bóng tối là sự xâu chuỗi của nhiều mảnh ghép(bloc truyện)
gắn với những sự kiện chính nhƣ sau.
Tiêu đề

STT

Nội dung

Phần 1 Tƣờng thuật trên một bản tin - Những cái chết bí hiểm xảy ra
Đầu

thời sự.

năm

Dƣ luận làng Thổ Ô xung quanh Các giả thiết đƣợc đƣa ra xung

2000

những cái chết kì lạ.

quanh những cái chết kì lạ.(b)

Tiếp lời của ngƣời tƣờng thuật

Những cái chết có phần do bàn

trong làng. (a)

tay của ma quỷ. (c)


Những kẻ xấu số

Sự ứng nghiệm của lời nguyền
với những chái chết.(i)

hai
cuối
năm

Lời ngƣời dẫn chuyện nhƣng bị

1990.

chen ngang.
Nhân vật phụ thứ nhất gã đào - Cách làm giàu của nhân vật
mỏ xƣng tớ cho thân tình và dễ xƣng tớ.(k)
phân biệt.

- ả cave nhờ tìm thằng bé ả gặp

Phần
ba

trên vỉa hè.(l)
Giữa năm 2000 ngày đầu tháng. - Làng Thổ ô nổi tiếng nhờ

chuyện Nhân vật phụ chuyển sang xƣng những cái chết.(m)
giữa 2 tôi mà không giải thích rõ lí do


trí Thƣợng.(q)

Lời kết hay là sự trở lại bất đắc Sự tự sụp đổ của ngôi miếu
dĩ của ngƣời dẫn truyện.

hoang(s)

Nhƣ vậy, từ bảng thống kê trên, có thể nhận thấy,Giã biệt bóng tối
đƣợc kết hợp bởi 18 mảnh ghép ứng với 18 bloc truyện gắn với năm mạch
truyện lớn: cuộc đời lang thang, phiêu bạt của thằng bé mồ côi tên Thƣợng,
những kẻ xấu số, câu chuyện làng Thổ Ô xoay quanh những cái chết, chuyện
về gã đào mỏ tên Bính, cuối cùng là mạch truyện về ả cave. Mỗi câu chuyện
gắn với một dòng thời gian khác nhau và cùng vận động.
Trong Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh vừa kể chuyện theo trật tự niên
biểu, vừa phi tuyến tính hóa trình tự kể, có sự đan xen của dự thuật, đảo thuật,
thời gian đƣợc đồng hiện ở các không gian khác nhau.
2.1.1. Trình tự kể biên niên
Trình tự kể biên niên không xuất hiện trong toàn bộ các mạch truyện
mà chúng xuất hiện ở một số mạch truyện nhất định: cuộc đời lang bạt của
thằng bé mồ côi tên Thƣợng, những cái chết kì lạ ở làng Thổ Ô và câu chuyện
về gã đào mỏ tên Bính.
Mạch truyện về tuổi thơ lang bạt của thằng bé Thƣợng gồm ba bloc(d),(e),(h)
và đƣợc kể theo trật tự biên niên. Truyện bắt đầu bằng sự kiện năm cậu bé
mƣời hai tuổi tới bị dọa biết mất khỏi thành phố. Trong thời gian này các biến
cố liên tiếp xảy ra. Sinh ra trong sự nguyền rủa của dân làng bởi không biết cha
mình là ai, lại sớm mồ côi mẹ, Thƣợng theo bà ngoại tha phƣơng cầu thực. Để

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status